Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ với đề tài "Quản lí bền vững tài nguyên đất ngập nước dựa vào cộng đồng khu vực hồ Ba Bể" do nghiên cứu sinh Ngân Ngọc Vỹ thực hiện tại Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2020. Luận án thuộc chuyên ngành Môi trường trong phát triển bền vững (chuyên ngành đào tạo thí điểm), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Diên Dực và TS. Tạ Đình Thi.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018), phương thức quản lý đất ngập nước (ĐNN) tại Việt Nam bộc lộ nhiều điểm chưa phù hợp với đặc tính sinh thái; các hướng dẫn của Công ước Ramsar về sử dụng khôn khéo ĐNN chưa được vận dụng đầy đủ vào thực tiễn. Hệ thống quản lý tập trung hóa mang tính áp đặt từ trên xuống (top-down) bộc lộ nhiều hạn chế, làm giảm tính chủ động và trách nhiệm của người dân địa phương. Tại Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể, công tác quản lý tập trung chủ yếu vào khai thác, chưa cân bằng với mục tiêu bảo tồn và sử dụng bền vững; cơ chế chính sách đặc thù còn thiếu vắng và chưa nhận được sự ưu tiên thích đáng.
Thực trạng sinh cảnh và tài nguyên thiên nhiên tại khu vực hồ Ba Bể đối mặt với bốn nhóm thách thức chính:
- Hoạt động khai thác tài nguyên thiếu bền vững, đặc biệt là tình trạng đánh bắt thủy sản (chủ yếu là các loài cá) vượt quá giới hạn cho phép và mang tính hủy diệt, làm triệt tiêu khả năng tự phục hồi của nguồn lợi.
- Nguy cơ ô nhiễm môi trường nước hồ gia tăng do các hoạt động kinh tế, đặc biệt là áp lực từ sự phát triển nhanh chóng của hoạt động du lịch và chất thải rắn sinh hoạt.
- Hệ thống chính sách, văn bản pháp lý và năng lực quản lý còn nhiều chồng chéo; tồn tại xung đột giữa yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt của vườn quốc gia với nhu cầu phát triển kinh tế, đa dạng hóa sinh kế của cư dân địa phương.
- Trình độ dân trí, nhận thức môi trường còn hạn chế và tỷ lệ đói nghèo của cộng đồng ven hồ tạo ra rào cản lớn đối với việc thực thi các quy chế quản lý tài nguyên.
Bối cảnh thực thi chính sách quốc gia đặt ra yêu cầu cấp bách, cụ thể là Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 07/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030" nhấn mạnh chủ trương khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vùng đệm và xã hội hóa công tác bảo tồn; cùng với đó là Nghị định số 66/2019/NĐ-CP ngày 29/07/2019 về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước quy định cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng. Do đó, luận án được triển khai nhằm giải quyết bài toán: đề xuất các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên ĐNN hồ Ba Bể thông qua phát huy tri thức bản địa (TTBĐ) và triển khai mô hình du lịch dựa vào cộng đồng mà không làm suy thoái hệ sinh thái tự nhiên.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Vận dụng cách tiếp cận "quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng" để đề xuất được các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên đất ngập nước khu vực hồ Ba Bể.
- Mục tiêu cụ thể:
- (i) Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về quản lý bền vững tài nguyên ĐNN dựa vào cộng đồng;
- (ii) Đánh giá hiện trạng tài nguyên ĐNN và công tác quản lý tài nguyên ĐNN dựa vào cộng đồng khu vực hồ Ba Bể;
- (iii) Đề xuất các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên ĐNN dựa vào cộng đồng khu vực hồ Ba Bể.
Câu hỏi nghiên cứu
- (i) Quản lí bền vững tài nguyên ĐNN dựa vào cộng đồng khu vực hồ Ba Bể là gì? Nội hàm?
- (ii) Đất ngập nước ở khu vực hồ Ba Bể được quản lí và sử dụng như thế nào? Bất cập, khó khăn tồn tại, thách thức là gì?
- (iii) Cần có giải pháp nào để phát huy những thuận lợi và khắc phục những tồn tại, thách thức nhằm quản lí bền vững tài nguyên ĐNN ở khu vực hồ Ba Bể?
Luận điểm bảo vệ của luận án
- (i) Quản lý bền vững tài nguyên ĐNN là sử dụng khôn khéo ĐNN và đảm bảo 5 nguyên tắc dựa vào cộng đồng;
- (ii) Cộng đồng địa phương và sự tham gia của các cộng đồng liên quan có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng và thực hiện các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên ĐNN nhằm hạn chế những bất cập trong quản lý và sử dụng tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể;
- (iii) Tri thức bản địa của cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc sử dụng khôn khéo ĐNN đảm bảo hài hòa việc sử dụng các dịch vụ hệ sinh thái cho phát triển kinh tế mà vẫn đảm bảo được cấu trúc, chức năng của chúng nhằm khắc phục những bất cập trong quản lý và sử dụng tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên đất ngập nước hồ Ba Bể; hệ thống thể chế, chính sách quản lý; cộng đồng dân cư sinh sống ven hồ cùng các bên liên quan trực tiếp tham gia khai thác, quản lý tài nguyên và hoạt động du lịch.
- Phạm vi không gian: Khu Ramsar Vườn quốc gia Ba Bể, tập trung trọng điểm vào lưu vực hồ Ba Bể thuộc địa bàn xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (khảo sát trực tiếp tại các thôn ven hồ: Pác Ngòi, Cốc Tộc, Bó Lù, Bản Cám, Khau Qua).
- Phạm vi thời gian: Thu thập chuỗi dữ liệu thứ cấp và dữ liệu du lịch, môi trường giai đoạn 2014–2018; các điều tra nông nghiệp, dân sinh, kinh tế - xã hội mốc năm 2016; các đợt khảo sát thực địa bổ sung được tiến hành trong quá trình thực hiện luận án đến năm 2019–2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tổng quan tài liệu của luận án được cấu trúc theo bốn nhóm nghiên cứu trọng tâm:
- Quản lý bền vững đất ngập nước trên thế giới:
- Vùng ĐNN Blyth và Liverpool (Úc): Khu vực thuộc lưu vực sông Liverpool áp dụng cơ chế đồng quản lý với sự tham gia của cơ quan chuyên môn địa phương, chính quyền liên bang, cơ quan nghiên cứu và cộng đồng bản địa. Người dân sở hữu đất theo tập quán truyền thống, thành lập ban quản lý địa phương trung gian và nhóm tuần tra cơ sở, kết hợp hài hòa tri thức bản địa với kỹ thuật hiện đại.
- Vùng ĐNN tại Tanzania (Đông Nam châu Phi): Thiết lập cơ chế hợp tác đa bên, áp dụng phương pháp "học đi đôi với hành" (Learning Practice Alliance - LPA) nhằm gắn kết cơ quan nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và nông dân trong việc xử lý các tồn tại về quản lý đất ngập nước. Luận án tổng hợp cấu trúc vai trò của các chủ thể này:
| Bên liên quan |
Vai trò trong quản lý bền vững ĐNN |
| Cộng đồng |
Nhận diện và thực hiện các hoạt động quan trọng đối với sinh kế; chia sẻ thông tin quản lý ĐNN |
| Các nhà hoạch định chính sách |
Xây dựng chính sách quản lý ĐNN và hướng dẫn thực hiện; cung cấp thông tin, kiến thức |
| Cơ quan quản lý ĐNN địa phương |
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức; hỗ trợ, khuyến khích thực hiện hướng dẫn quản lý bền vững |
| Khu vực tư nhân |
Xác định cơ hội, quản lý rủi ro; đầu tư triển khai hoạt động quản lý bền vững ĐNN |
| Các chương trình phát triển |
Hỗ trợ xây dựng năng lực, nâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý |
| Cơ quan nghiên cứu |
Kết nối các bên thông qua phương pháp LPA; cùng hợp tác xử lý vấn đề tồn tại và tìm giải pháp |
| Cơ quan giáo dục & đào tạo |
Hỗ trợ đào tạo, nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành quản lý bền vững |
| Các cơ quan truyền thông |
Truyền tải thông tin từ nhiều kênh; phổ biến các kết quả khảo sát thực địa |
- Khu vực Kampung Kuantan (Bang Selangor, Malaysia): Triển khai mô hình quản lý tổng hợp nhằm giải quyết xung đột giữa hoạt động xuồng du lịch ngắm đom đóm, ếch với việc bảo vệ nơi cư trú sinh vật, với sự tham gia của An ninh thôn, Hội đồng phát triển thôn và doanh nghiệp.
- Tổ chức Yad Fon (Thái Lan): Sáng lập bởi Pisit Chansnoh, hỗ trợ các cộng đồng ven biển phục hồi rừng ngập mặn sau làn sóng nuôi tôm thông qua đối thoại mở và phân quyền cơ sở.
-
Mô hình quản lý và sử dụng đất ngập nước dựa vào cộng đồng tại Việt Nam:
- Mô hình khai thác ngao giống tại VQG Xuân Thủy (Nam Định): Thiết lập quy chế sử dụng hợp lý được UBND tỉnh phê duyệt, điều hòa lợi ích và nghĩa vụ tài chính giữa chính quyền địa phương, vườn quốc gia, doanh nghiệp thuê mặt nước và người dân địa phương.
- Mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn tại Đông Hải (Tiên Yên) và Đại Bình (Đầm Hà, Quảng Ninh): Thực hiện liên kết ba nhà (Nhà quản lý, Nhà khoa học, Nhà nông); huy động sự đồng thuận của cộng đồng trong bảo vệ rừng ven biển.
- Khu bảo tồn biển Rạn Trào (huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa): Khẳng định vai trò đa dạng hóa nguồn lực xã hội hóa ngoài ngân sách nhà nước và trao quyền tự chủ cho cộng đồng cơ sở.
- Mô hình sử dụng khôn khéo ĐNN tại cửa sông Ba Chẽ (thôn Hà Thụ, xã Hải Lạng, Tiên Yên): Do Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (ĐHQG Hà Nội) nghiên cứu, áp dụng cách tiếp cận từ dưới lên.
- Nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học cá tại hồ Ba Bể: Phát hiện các lỗ hổng về thiếu cơ chế phối hợp giữa BQL VQG Ba Bể, UBND xã Nam Mẫu và cộng đồng, chưa quy hoạch phân vùng chức năng khai thác - du lịch - bảo tồn.
-
Nghiên cứu tác động của hoạt động du lịch đến môi trường:
- Công trình của Sunlu (2003) phân loại bốn nhóm tác động môi trường của du lịch: hủy hoại tài nguyên nước, đất; phát sinh ô nhiễm tiếng ồn, khí thải, rác thải và nước thải; biến dạng cảnh quan kiến trúc bản địa; tác động sinh thái toàn cầu như suy giảm đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu.
- Các khảo sát tại Thái Lan (tình trạng suy thoái rạn san hô do cano cao tốc tại Phuket).
- Tại Việt Nam: Báo cáo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF 2017) xếp hạng tính bền vững môi trường của Việt Nam ở vị trí rất thấp (132/141 quốc gia; mức độ quy định môi trường xếp 115/141; xử lý chất thải xếp 128/141; nạn phá rừng xếp 103/141; xử lý nước xếp 107/141); nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2017–2018) tại các VQG Hoàng Liên, Cúc Phương, Tam Đảo, Phong Nha - Kẻ Bàng, Phú Quốc; nghiên cứu của Ram Kumar Adhikari và cộng sự (2017) về bù đắp tài chính bảo tồn thông qua homestay; nghiên cứu của Nguyễn Quang Hồng (2006) về phương pháp chi phí du lịch đánh giá giá trị giải trí tại VQG Ba Bể.
-
Tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên:
- Nghiên cứu của Dixon (2012) tại Ethiopia chỉ ra ưu thế của TTBĐ trong việc tiếp nhận và áp dụng của cộng đồng, đồng thời nhấn mạnh TTBĐ phải có sự tiếp biến để thích ứng với biến động sinh thái hiện đại dưới sự hỗ trợ của các tổ chức cơ sở.
- Nghiên cứu của Sekhar N. về hệ thống canh tác nông lâm truyền thống; nghiên cứu của Lê Thanh An và cộng sự về giá trị văn hóa, tâm linh tại 30 vườn quốc gia Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu trước đây tại khu vực hồ Ba Bể chủ yếu tiếp cận theo hướng đơn ngành kỹ thuật (điều tra đa dạng sinh học loài, thống kê ngư loại, đánh giá cảnh quan) phục vụ mục đích khai thác cục bộ, thiếu sự lồng ghép giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Các nghiên cứu kinh tế du lịch chưa đánh giá định lượng tác động tiêu cực của chất thải du lịch đối với môi trường nước hồ. Đặc biệt, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện hệ thống 16 bên liên quan, chưa lượng hóa và tích hợp các giá trị tri thức bản địa của đồng bào ven hồ (kỹ thuật đóng và vận hành thuyền độc mộc, kiến trúc nhà sàn, kinh nghiệm nông lịch, hương ước thôn bản) vào một mô hình du lịch sinh thái có cơ chế chia sẻ lợi ích cụ thể để quản lý bền vững đất ngập nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
-
Khái niệm và phân loại đất ngập nước:
- Luận án sử dụng định nghĩa ĐNN theo Điều 1 Công ước Ramsar (1971): ĐNN là các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước tự nhiên hay nhân tạo, có nước thường xuyên hay tạm thời, nước đứng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các vùng biển ven bờ có độ sâu không quá 6m khi thủy triều thấp.
- Theo hệ thống phân loại của Công ước Ramsar, ĐNN hồ Ba Bể thuộc kiểu ĐNN thứ 13 (Hồ nước ngọt vùng Karst có nước thường xuyên quanh năm).
- Theo hệ thống phân loại ĐNN nội địa Việt Nam của Cục Bảo vệ môi trường (2006), hồ Ba Bể bao gồm hai mã phụ hệ tự nhiên nội địa: mã
A II2 14 (các sông, suối, lạch thường xuyên có nước, bao gồm cả thác nước) và mã A II2 16 (các hồ nước ngọt có nước thường xuyên trên 8 ha, bao gồm hồ hình móng ngựa).
- Theo hồ sơ Ramsar VQG Ba Bể, luận án xác định 5 kiểu ĐNN cụ thể: sông suối có nước thường xuyên; hồ, ao nước ngọt thường xuyên; đất nông nghiệp có tưới tiêu; đất nông nghiệp ngập nước theo mùa; ao nuôi trồng thủy sản.
-
Dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước:
Vận dụng khung Đánh giá Hệ sinh thái Thiên niên kỷ (Millennium Ecosystem Assessment - MA, 2005), luận án phân loại 18 dịch vụ hệ sinh thái thành 4 nhóm chính:
| Nhóm dịch vụ |
Dịch vụ cụ thể theo MA (2005) |
| Dịch vụ cung cấp |
1. Thức ăn (đánh bắt cá, sản xuất lương thực); 2. Nước ngọt (sinh hoạt, nông nghiệp); 3. Sợi và nhiên liệu (gỗ củi, cỏ khô); 4. Hóa sinh (chiết xuất dược liệu); 5. Nguyên liệu nguồn gen |
| Dịch vụ điều tiết |
6. Điều tiết khí hậu (bể chứa carbon, vi khí hậu); 7. Điều tiết dòng chảy thủy văn (nạp/tiết nước ngầm); 8. Làm sạch nước và xử lý ô nhiễm; 9. Điều tiết xói mòn (giữ trầm tích); 10. Điều tiết thiên tai (giảm lũ lụt); 11. Thụ phấn |
| Dịch vụ văn hóa |
12. Tinh thần và nguồn cảm hứng tín ngưỡng; 13. Giải trí và du lịch; 14. Thẩm mỹ cảnh quan; 15. Giáo dục và nghiên cứu khoa học |
| Dịch vụ hỗ trợ |
16. Hình thành đất (tích lũy mùn, hữu cơ); 17. Chu trình dinh dưỡng; 18. Tạo sinh khối sơ cấp |
-
Lý thuyết về cộng đồng và sự tham gia:
- Vận dụng lý thuyết của Gene Barrett (2000) được Lê Diên Dực (2004) phát triển, cộng đồng được xác định qua 4 chuẩn mực: (i) Địa điểm sinh tụ/lãnh thổ cư trú; (ii) Quyền lợi/mối quan tâm; (iii) Luật tục (hương ước); (iv) Bản sắc tập thể.
- Thang đo mức độ tham gia của cộng đồng gồm 5 cấp độ tăng dần: (1) Được thông báo/cung cấp thông tin; (2) Được tham vấn/hỏi ý kiến; (3) Cùng thực hiện; (4) Đối tác; (5) Chủ trì (cấp độ tự quản cao nhất theo hướng tiếp cận từ dưới lên).
-
Năm nguyên tắc quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng:
Kế thừa lý thuyết của Lê Diên Dực (2000), luận án áp dụng 5 nguyên tắc cốt lõi:
- Tăng cường quyền lực (Trao quyền): Trao quyền quyết định và xây dựng năng lực cho cộng đồng địa phương, bảo vệ nhóm cư dân dễ bị tổn thương.
- Tính hợp lý về sinh thái và sự phát triển bền vững: Cân bằng hoạt động kinh tế với sức chịu tải sinh thái của nguồn nước và hệ sinh vật.
- Công bằng: Tiếp cận công bằng cơ hội kinh tế, tài nguyên và đảm bảo công bằng giữa các thế hệ.
- Coi trọng và phát huy vai trò của tri thức bản địa: Tôn trọng kinh nghiệm, tri thức truyền thống của đồng bào trong ứng xử với tự nhiên.
- Bình đẳng giới: Phân bổ quyền hạn, lao động và chia sẻ lợi ích bình đẳng giữa nam và nữ.
Phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận: Kết hợp tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach) và tiếp cận dựa vào cộng đồng (Community-Based Approach); lồng ghép tiếp cận từ dưới lên (người dân ven hồ), tiếp cận từ trên xuống (cơ quan quản lý nhà nước) và tiếp cận ngang liên ngành giữa 16 bên liên quan.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng, thủy văn, hiện trạng thảm thực vật, khu hệ động vật VQG Ba Bể, các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội xã Nam Mẫu và huyện Ba Bể, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Đa dạng sinh học, Quyết định 218/QĐ-TTg, Nghị định 66/2019/NĐ-CP).
- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Tổ chức các cuộc họp nhóm thôn, lập bản đồ tài nguyên có sự tham gia, lập sơ đồ lịch thời vụ nông nghiệp và đánh bắt thủy sản, phân tích ma trận phân công lao động theo giới tính, xác định ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT).
- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa:
- Điều tra bảng hỏi hộ gia đình: Khảo sát ngẫu nhiên 182 hộ gia đình tại các thôn ven hồ Ba Bể (Pác Ngòi, Cốc Tộc, Bó Lù, Bản Cám, Khau Qua) về thu nhập, hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, đánh bắt thủy sản, dịch vụ homestay và xuồng du lịch.
- Phỏng vấn sâu cán bộ: Phỏng vấn đại diện cán bộ Trung ương (Tổng cục Biển và Hải đảo, Cục Biến đổi khí hậu, Viện Chiến lược Chính sách TN&MT, Cục Bảo tồn ĐDSH) và cán bộ địa phương (Sở TN&MT Bắc Kạn, Sở KH&CN, Chi cục Kiểm lâm, BQL Vườn quốc gia Ba Bể, UBND huyện Ba Bể, UBND xã Nam Mẫu).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về đất ngập nước nội địa, dịch vụ hệ sinh thái, lý thuyết quản lý dựa vào cộng đồng và khái niệm "sử dụng khôn khéo ĐNN" theo tinh thần Công ước Ramsar. Tác giả phân tích các bài học quốc tế từ Úc, Tanzania, Malaysia, Thái Lan và các mô hình tại Việt Nam (Xuân Thủy, Tiên Yên, Đầm Hà, Rạn Trào), rút ra kết luận: mô hình quản lý chỉ thành công khi có sự phân quyền rõ ràng, cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng và phát huy được vai trò của tri thức bản địa.
Nội dung chương làm rõ bản chất của 5 nguyên tắc quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng (Lê Diên Dực, 2000), khẳng định đây là khung lý thuyết dẫn dắt toàn bộ việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tại khu vực hồ Ba Bể. Luận án cũng rà soát hệ thống chính sách của Việt Nam, chỉ ra khoảng cách thực thi giữa các văn bản quy phạm (Nghị định 109/2003/NĐ-CP, Nghị định 66/2019/NĐ-CP) với công tác quản lý thực tế tại địa phương.
Chương 2: Địa bàn, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại Vườn quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn), đặc biệt là vùng hồ trung tâm thuộc xã Nam Mẫu. Tác giả trình bày đặc điểm thảm thực vật rừng trên núi đá vôi, khu hệ động vật quý hiếm và cấu trúc thủy văn hồ nước ngọt tự nhiên karst.
Chương này trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu gồm 4 bước logic: xác định mục tiêu và nội dung; thiết kế công cụ PRA và bảng hỏi khảo sát (182 hộ dân và cán bộ); xử lý, tổng hợp dữ liệu thực địa; đối sánh thực trạng với 5 nguyên tắc DVCĐ để xây dựng mô hình giải pháp. Luận án chi tiết hóa các mẫu phiếu điều tra kinh tế hộ, mẫu phỏng vấn bán cấu trúc cho cán bộ quản lý và phương pháp phân tích ma trận tương tác của 16 nhóm bên liên quan.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 tập trung trình bày các kết quả khảo sát thực tế và phân tích chuyên sâu qua các nội dung chính:
-
Hiện trạng và tầm quan trọng của tài nguyên ĐNN hồ Ba Bể:
- Lĩnh vực kinh tế: Dữ liệu năm 2016 cho thấy cơ cấu sản xuất của 6 thôn ven hồ phụ thuộc vào diện tích lúa, ngô vụ xuân và vụ mùa, cây họ đậu, chăn nuôi gia súc - gia cầm và nuôi trồng thủy sản. Nguồn thu từ dịch vụ du lịch (homestay, vận chuyển khách bằng xuồng máy) gia tăng nhanh chóng, làm thay đổi cơ cấu thu nhập bình quân đầu người và giảm tỷ lệ hộ nghèo tại các thôn trung tâm như Pác Ngòi, Bó Lù.
- Lĩnh vực văn hóa - xã hội: Luận án ghi nhận nguồn tri thức bản địa phong phú của đồng bào Tày ven hồ: kinh nghiệm lựa chọn gỗ đóng thuyền độc mộc truyền thống, kỹ thuật dựng nhà sàn thích ứng lũ lụt, lịch thời vụ đánh bắt các loài cá theo chu kỳ nước, kinh nghiệm thu hái các loài rau rừng làm thực phẩm và dược liệu, cùng các quy ước quản lý rừng cộng đồng được ghi chép trong Hương ước thôn Khau Qua. Tỷ lệ phân công lao động theo giới tính được xác lập rõ nét trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đánh bắt cá và phục vụ khách du lịch.
- Lĩnh vực môi trường: Hồ đóng vai trò điều tiết thủy văn cho lưu vực sông Năng, tích trữ nước ngọt và duy trì đa dạng sinh học các loài cá nước ngọt đặc hữu.
-
Thực trạng và bất cập trong quản lý tài nguyên ĐNN:
- Phân tích 16 bên liên quan trực tiếp: Tác giả lập ma trận xác định vị trí, mức độ ảnh hưởng và mức độ quan tâm của 16 chủ thể (UBND tỉnh Bắc Kạn, BQL VQG Ba Bể, UBND huyện Ba Bể, UBND xã Nam Mẫu, các cơ quan chuyên môn, công ty du lịch, các hộ kinh doanh homestay, lái xuồng, các hộ ngư dân...). Kết quả chỉ ra sự thiếu vắng cơ chế điều phối liên ngành, quyền lợi kinh tế giữa doanh nghiệp du lịch bên ngoài và cư dân sở tại chưa được phân bổ công bằng.
- Mâu thuẫn thể chế giữa BQL VQG Ba Bể và UBND xã Nam Mẫu: Tồn tại tình trạng chồng chéo về quyền hạn quản lý đất đai và mặt nước, cơ chế phối hợp lỏng lẻo trong giám sát vi phạm khai thác lâm sản và thủy sản.
- Áp lực chất thải du lịch: Thống kê lượng du khách giai đoạn 2014–2018 cho thấy sự gia tăng đột biến về lượng khách tỷ lệ thuận với khối lượng chất thải rắn thải bỏ tự nhiên trực tiếp ra hồ, gây suy thoái cục bộ chất lượng nước tại các bến xuồng và ven các khu dân cư.
- Bất cập trong nhận thức: Nhận thức của một bộ phận cán bộ địa phương về các quy định pháp luật ĐNN còn hình thức; nhận thức của người dân về tính bền vững sinh thái chưa theo kịp tốc độ phát triển du lịch tự phát.
- Đối sánh với 5 nguyên tắc quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng: Hiện trạng quản lý tại hồ Ba Bể còn cách biệt lớn so với các chuẩn mực về trao quyền, công bằng trong phân chia lợi ích, tích hợp tri thức bản địa và lồng ghép bình đẳng giới.
-
Đề xuất các giải pháp quản lý bền vững tài nguyên ĐNN dựa vào cộng đồng:
- Thiết lập khung thể chế đồng quản lý với sự tham gia chính thức của đại diện cộng đồng các thôn ven hồ, UBND xã Nam Mẫu và BQL Vườn quốc gia.
- Xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng: chuẩn hóa dịch vụ homestay gắn với bảo tồn kiến trúc nhà sàn truyền thống, phục dựng và duy trì hoạt động thuyền độc mộc phục vụ trải nghiệm văn hóa thay thế dần xuồng máy công suất lớn gây ô nhiễm tiếng ồn và sóng tác động bờ.
- Quy hoạch phân vùng chức năng: phân định rõ vùng bảo vệ nghiêm ngặt cấm khai thác thủy sản để nuôi dưỡng nguồn giống cá; vùng phục hồi sinh thái; vùng sử dụng khôn khéo dành cho nuôi trồng, đánh bắt truyền thống có thời hạn và tuyến du lịch có kiểm soát sức chứa.
- Cơ chế chia sẻ lợi ích: trích nộp một phần doanh thu từ phí tham quan và dịch vụ thuyền xuồng vào Quỹ bảo tồn ĐNN cộng đồng thôn bản để chi trả cho hoạt động tuần tra tự quản và xử lý rác thải.
- Lồng ghép bình đẳng giới trong phân công quản lý homestay, chuỗi cung ứng nông sản và giám sát tài chính du lịch cộng đồng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Vận dụng và phát triển thành công khung lý thuyết tiếp cận quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng trong bối cảnh cụ thể của một khu Ramsar vùng Karst nội địa tại miền núi phía Bắc Việt Nam.
- Luận giải sâu sắc mối liên kết hữu cơ giữa việc bảo tồn cấu trúc - chức năng của 4 nhóm dịch vụ hệ sinh thái ĐNN với việc phát huy giá trị tích cực của nguồn tri thức bản địa của cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa.
- Bổ sung cơ sở lý luận về phương thức lồng ghép ba chiều tiếp cận: tiếp cận từ dưới lên (cộng đồng người dân trực tiếp khai thác), tiếp cận từ trên xuống (cơ quan quản lý vĩ mô) và tiếp cận ngang liên ngành (sự thỏa hiệp và đồng thuận giữa 16 bên liên quan).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện, cập nhật về hiện trạng khai thác tài nguyên, xung đột sử dụng không gian mặt nước, bất cập quản lý hành chính và áp lực ô nhiễm chất thải du lịch hồ Ba Bể giai đoạn 2014–2018.
- Xây dựng sơ đồ phân tích tương tác và mức độ ảnh hưởng của 16 nhóm bên liên quan trực tiếp, làm cơ sở khoa học để tái cơ cấu quy chế phối hợp giữa BQL Vườn quốc gia Ba Bể và chính quyền địa phương xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể.
- Đề xuất mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng gắn kết với quy chế quản lý chia sẻ lợi ích và phát huy các di sản bản địa (thuyền độc mộc, nhà sàn, hương ước thôn bản Khau Qua).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với các cơ quan Trung ương (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Môi trường): Sớm ban hành các thông tư, văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định 66/2019/NĐ-CP về bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN; cụ thể hóa cơ chế chia sẻ lợi ích, hỗ trợ tài chính cho các mô hình đồng quản lý ĐNN tại các khu Ramsar; lồng ghép các chỉ tiêu quản trị ĐNN dựa vào cộng đồng vào các chương trình mục tiêu quốc gia.
- Đối với chính quyền địa phương tỉnh Bắc Kạn, huyện Ba Bể và BQL Vườn quốc gia:
- Thành lập Ban điều phối chung về quản lý ĐNN hồ Ba Bể với sự tham gia của đại diện cộng đồng các thôn ven hồ;
- Phê duyệt và hỗ trợ pháp lý cho việc thực thi hương ước thôn bản gắn với bảo vệ nguồn nước và rừng đặc dụng;
- Quy hoạch kiểm soát sức tải du lịch, đầu tư hệ thống thu gom và xử lý tập trung chất thải rắn, nước thải sinh hoạt tại các điểm homestay;
- Hỗ trợ vay vốn và đào tạo nghiệp vụ quản trị du lịch cộng đồng cho phụ nữ và người nghèo tại các thôn Pác Ngòi, Bó Lù, Cốc Tộc, Bản Cám.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi không gian vùng hồ trung tâm và 6 thôn ven hồ thuộc xã Nam Mẫu, chưa mở rộng điều tra toàn bộ lưu vực thượng nguồn sông Năng và các xã lân cận trong vùng đệm VQG Ba Bể. Việc đánh giá giá trị các dịch vụ hệ sinh thái mới dừng lại ở mức mô tả định tính và thống kê kinh tế hộ, chưa lượng hóa toàn diện giá trị kinh tế tổng hợp (Total Economic Value - TEV) của cả 18 dịch vụ hệ sinh thái bằng các mô hình kinh tế lượng môi trường chuyên sâu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá thực nghiệm việc vận hành mô hình du lịch dựa vào cộng đồng sau khi áp dụng vào thực tế; lượng hóa sức chịu tải môi trường (Carrying Capacity) đối với hoạt động xuồng máy trên hồ; mở rộng nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ môi trường nước đối với các cơ sở kinh doanh du lịch và thủy điện trên lưu vực.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo trong các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Phát triển Bền vững; cung cấp khung phương pháp luận kết hợp PRA với khảo sát xã hội học và khung phân tích 16 bên liên quan.
- Đối với nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn giúp Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn, UBND huyện Ba Bể, Ban quản lý VQG Ba Bể hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành, phân vùng khai thác thủy sản và quản lý sức chứa du lịch. Các cơ quan cấp bộ có thể tham khảo trường hợp nghiên cứu này để hoàn thiện thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 66/2019/NĐ-CP về quản lý đất ngập nước nội địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án áp dụng những nguyên tắc quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng nào?
Luận án vận dụng hệ thống 5 nguyên tắc quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng do Lê Diên Dực (2000) xây dựng, bao gồm: (1) Tăng cường quyền lực hay trao quyền cho cộng đồng; (2) Đảm bảo tính hợp lý về sinh thái và sự phát triển bền vững (hài hòa bảo tồn và phát triển); (3) Đảm bảo tính công bằng trong tiếp cận cơ hội và tài nguyên; (4) Tôn trọng, gìn giữ và phát huy nguồn tri thức bản địa; (5) Đảm bảo bình đẳng giới trong phân công lao động và chia sẻ lợi ích.
2. Khu vực hồ Ba Bể được phân loại là kiểu đất ngập nước nào theo các hệ thống phân loại?
Theo Công ước Ramsar (1971), hồ Ba Bể thuộc kiểu ĐNN thứ 13: Hồ nước ngọt vùng Karst có nước thường xuyên quanh năm. Theo hệ thống phân loại ĐNN nội địa Việt Nam của Cục Bảo vệ Môi trường (2006), hồ Ba Bể thuộc hai mã tự nhiên nội địa là A II2 14 (các sông, suối, lạch thường xuyên có nước, bao gồm cả thác nước) và A II2 16 (các hồ nước ngọt có nước thường xuyên trên 8 ha). Chi tiết hồ sơ Ramsar gồm 5 dạng: sông suối thường xuyên; hồ ao thường xuyên; đất nông nghiệp có tưới; đất nông nghiệp ngập theo mùa; ao nuôi trồng thủy sản.
3. Quy mô điều tra thực địa của luận án được thực hiện trên mẫu khảo sát nào?
Luận án thực hiện điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp tại địa bàn xã Nam Mẫu đối với 182 hộ gia đình sinh sống tại các thôn ven hồ Ba Bể (tập trung tại Pác Ngòi, Cốc Tộc, Bó Lù, Bản Cám, Khau Qua); đồng thời phỏng vấn sâu đại diện lãnh đạo, cán bộ chuyên môn tại các cơ quan quản lý Trung ương (Bộ TN&MT, Tổng cục Biển và Hải đảo, Cục Biến đổi khí hậu, Viện Chiến lược Chính sách TN&MT) và các cơ quan địa phương (Sở TN&MT Bắc Kạn, BQL VQG Ba Bể, UBND huyện Ba Bể, UBND xã Nam Mẫu).
4. Bất cập lớn nhất trong công tác quản lý tài nguyên ĐNN hồ Ba Bể được luận án chỉ ra là gì?
Bất cập lớn nhất là phương thức quản lý tập trung mang tính áp đặt từ trên xuống (top-down), thiếu sự tham gia thực chất của cộng đồng; sự chồng chéo và thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả giữa Ban quản lý VQG Ba Bể và chính quyền xã Nam Mẫu; sự mâu thuẫn lợi ích giữa 16 bên liên quan trực tiếp; cùng với việc gia tăng chất thải rắn không qua xử lý từ hoạt động du lịch giai đoạn 2014–2018 gây ô nhiễm nguồn nước và suy thoái nguồn giống thủy sản do đánh bắt hủy diệt.
5. Những nguồn tri thức bản địa nào của cư dân địa phương được luận án đề xuất tích hợp vào mô hình bảo tồn?
Luận án ghi nhận và đề xuất tích hợp các giá trị tri thức bản địa của người Tày ven hồ gồm: kỹ thuật làm và chèo thuyền độc mộc truyền thống (thay thế xuồng máy ở các tuyến du lịch trải nghiệm sinh thái); kiến trúc nhà sàn truyền thống làm dịch vụ homestay; hệ thống lịch mùa vụ khai thác các loài cá theo chu kỳ sinh sản tự nhiên; kinh nghiệm sử dụng các loài rau rừng, dược liệu; và các quy định xử phạt vi phạm bảo vệ rừng, nguồn nước trong Hương ước thôn Khau Qua.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngân Ngọc Vỹ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý bền vững tài nguyên đất ngập nước nội địa dựa vào cộng đồng và tiếp cận hệ sinh thái. Công trình phản ánh thực trạng suy thoái tài nguyên, áp lực rác thải du lịch và các xung đột thể chế giữa các bên liên quan tại khu Ramsar Vườn quốc gia Ba Bể giai đoạn 2014–2018. Trên cơ sở đối sánh với 5 nguyên tắc quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng và khảo sát 182 hộ dân ven hồ, luận án đã đề xuất mô hình du lịch dựa vào cộng đồng gắn với cơ chế chia sẻ lợi ích và phát huy tri thức bản địa. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho công tác quản lý tài nguyên tại tỉnh Bắc Kạn và việc triển khai các chính sách bảo tồn đất ngập nước cấp quốc gia.