Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nhận thức về quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng Trên thế giới trải qua một thời gian dài trong việc nỗ lực bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng người ta đã đi tới một nhận định rằng: thành công thường gắn với những mô hình nhỏ và độc đáo chứ không phải là những mô hình và công thức lớn lao; với những hành động phân cấp chứ không phải là sự kiểm tra của trung ương; với những thiết kế thích hợp với từng địa phương chứ không phải là những mô hình khoa học kỹ thuật phức tạp; với sự tham gia tích cực của người dân chứ không phải là tài trợ cho họ về tài chính. Việc quốc hữu hóa rừng hoặc tư nhân hóa rừng công cộng có thể cướp đi những diện tích tài nguyên rừng của người dân nghèo địa phương, nguồn sống và có khi đó chính là nguồn sinh tồn của họ. [21] Hình thức quản lý rừng cộng đồng đã xuất hiện từ rất lâu trong quá trình sản xuất nông lâm nghiệp của loài người.
Tuy nhiên sự thống trị của chế độ thực dân của người Châu Âu diễn ra trên diện rộng và kéo dài cho tới thế kỷ 20 đã có những ảnh hưởng tiêu cực đối với hệ thống quản lý cây và rừng cổ truyền ở nhiều địa phương. Chính sách thực dân đã đập tan các hệ thống quản lý cổ truyền về tài nguyên ở các địa phương cùng với những nguồn kiến thức bản địa về tài nguyên và hệ sinh thái nơi đó. Trong thời gian hậu thuộc địa, nhiều nhà quản lý sử dụng rừng vẫn chịu ảnh hưởng của những lực lượng từ bên ngoài và cũng góp phần không nhỏ trong việc làm suy giảm tài nguyên rừng trên thế giới. [21] Một thực tế mà chúng ta có thể kết luận rằng, khi mà các cộng đồng dân cư không phải là nhân tố tham gia thực hiện quản lý rừng, họ không thấy được trách nhiệm và quyền hạn của mình trong việc quản lý tài nguyên rừng thì ở đó tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng.
Khi chính phủ của các 4 quốc gia giao quyền quản lý những khu rừng và tạo cơ hội cho người dân, cộng đồng được hưởng lợi từ rừng , khi đó những vấn đề như đói nghèo, suy thoái tài nguyên dần dần được đẩy lùi và cộng đồng địa phương sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ và quản lý tài nguyên rừng, thúc đẩy cho sự phát triển của các cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng. Tính đến thời điểm hiện nay lâm nghiệp cộng đồng đã trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất phần lớn những người bên ngoài cuộc xác định vấn đề và đề ra quyết định để giải quyết vấn đề đó. Kết quả đạt được đều không đáng khích lệ, sự quan tâm của cộng đồng thường theo thời gian mà lắng xuống. Rất ít các cộng đồng tiếp tục các hoạt động sau khi những người ngoài cuộc rút lui, và tất nhiên tính bền vững không đạt được.
Giai đoạn thứ hai những người ngoài cuộc xác định vấn đề và đề ra phần lớn quyết định, nhưng họ đã bắt đầu tham khảo ý kiến của những người trong cộng đồng, thông qua các cuộc phỏng vấn. Kết quả là những người ngoài cuộc đã bắt đầu nhận thức được rằng những người trong cộng đồng có khá nhiều hiểu biết và thường có cách giải quyết vấn đề phù hợp và hiệu quả hơn. Giai đoạn thứ ba những người ngoài cuộc chỉ là những người hỗ trợ và thúc đẩy, còn những người trong cộng đồng là những người tích cực xác định vấn đề và đề ra các giải pháp. Cách làm này đã mang lại những kết quả đáng khuyến khích làm cho người dân trong cộng đồng tự nhận thức được vấn đề và chủ động trong việc đề ra các giải pháp mà họ có thể thực hiện được.
Vậy cộng đồng là gì? Hiểu như thế nào về rừng cộng đồng, và quản lý rừng dựa vào cộng đồng? Theo FAO, cộng đồng được định nghĩa như là “những người sống tại một chỗ, trong một tổng thể” hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung” còn lâm nghiệp cộng đồng được định nghĩa là “Là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp” 5 Cộng đồng là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một thôn, bản. Theo quan niệm này, “cộng đồng” chính là “cộng đồng dân cư thôn, bản”. Tuy nhiên trong phạm vi hẹp hơn còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc, cộng đồng các dòng họ, công đồng tôn giáo hoặc các nhóm hộ trong thôn bản. Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng phần lớn các ý kiến đều cho rằng “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư thôn, bản.
Tại điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đó định nghĩa: “cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, bản, phum, súc hoặc đơn vị tương đương”[12]. Trong nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểu là cộng đồng thôn, Bản ( kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng ). Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý rừng Cộng đồng tham gia quản lý rừng công có thể thay thế bằng một từ chung nhất là lâm nghiệp cộng đồng(LNCĐ). Theo FAO 2003, LNCĐ là thuật ngữ bao trùm diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này.
Hiện nay, có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận. Tuy nhiên, qua các cuộc hội thảo dường như mọi người đều thống nhất ở Lào, có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau: - Thứ nhất là quản lý rừng cộng đồng(QLRCĐ) 6 Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và phân chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng. Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản đó được quản lý theo truyền thống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma,…quản lý theo các luật tục truyền thống với tinh thần tự nguyện cao). - Thứ hai là quản lý rừng dựa vào cộng đồng Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các thành phần kinh tế khác nhưng có liên quan đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng (thuỷ lợi nhỏ, nước sinh hoạt…).
Hình thức này bao gồm hai đối tượng: + Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia xẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện. + Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nước( các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tư nhân khác. Cộng đồng tham gia các hoạt động lâm nghiệp như bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê, thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng [3].
Từ sự phân tích trên cho thấy: LNCĐ, QLRCĐ là những khái niệm khác nhau. Thuật ngữ QLRCĐ được sử dụng với ý nghĩa hẹp hơn để chỉ CĐ quản lý những khu rừng của một cộng đồng dân cư, còn nói đến LNCĐ hay cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn 7 người dân trong cộng đồng dân cư thôn bản với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng. Hay nói cách khác, LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng và rừng của các thành phần kinh tế [3]. Với cách hiểu như vậy, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng cộng đồng ( cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng ) và quản lý rừng dựa vào cộng đồng ( cộng đồng quản lý rừng của các chủ rừng khác).
Khái niệm này vừa phù hợp với khái niệm của FAO vừa phát huy được nhiều sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng [21], [37], [38]. BVR trên cơ sở cộng đồng là BVR mà phát huy được những nội lực của cộng đồng cho các hoạt động chống lại sự xâm hại đến rừng như: chống chặt phá, lấn chiếm rừng, đất rừng, khai thác lâm sản, săn bắt động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), phòng trừ sinh vật gây hại rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng và được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý lâm sản. Những giải pháp BVR trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của luật tục, phong tục, tập quán, ý thức dân tộc, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng bản phù hợp với chính sách pháp luật của nhà nước. Vai trò của chính sách Nhà nước đối với BVR trên cơ sở cộng đồng BVR trên cơ sở cộng đồng được xây dựng trên cơ sở phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của người dân địa phương.
Tuy nhiên, có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng, nhưng cũng có những phong tục tập quán ngược lại với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng. Do đó, quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng phải hướng và phát huy được những phong tục tập quán có lợi và giảm dần những phong tục tập quán cản trở đến quản lý bền vững tài nguyên rừng [24]. 8 BVR trên cơ sở cộng đồng sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự hậu thuẫn của các chính sách và thể chế Nhà nước, các tổ chức cộng đồng không phải là cơ quan quyền lực, không có công cụ chuyên chính riêng.