Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng suy thoái tài nguyên rừng tự nhiên và áp lực sinh kế vùng đệm đang đặt ra bài toán cấp bách cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Tại bản Na Pêng, huyện Bua La Pha, tỉnh Khăm Muôn – địa bàn nằm trong vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Pha Thăm Binh, diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới 2.172,12 ha, tương đương 88,12% tổng diện tích tự nhiên 2.464,75 ha của bản. Mặc dù diện tích rừng giàu và rừng trung bình chiếm hơn 53,1% cấu trúc lâm phần, tình trạng khai thác gỗ trái phép và áp lực đất canh tác vẫn diễn biến phức tạp. Cơ chế quản lý nhà nước thuần túy từ trên xuống bộc lộ nhiều điểm nghẽn do thiếu sự gắn kết quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng bản địa.

Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp của tác giả Phết Phu Thon Si Bun Hương, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phùng Văn Khoa tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Thiết lập cơ chế đồng quản lý rừng bảo tồn thông qua việc phát huy tri thức bản địa và nâng cao quyền năng cho người dân địa phương. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện toàn diện trên địa bàn bản Na Pêng với toàn bộ 76 hộ gia đình (448 nhân khẩu, 100% là đồng bào dân tộc Lào Lùm), kết hợp đánh giá chuỗi biến động tài nguyên rừng trong giai đoạn 2000–2010.

Công trình mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi lượng hóa hiện trạng 56 loài cây gỗ quý, đánh giá trữ lượng lâm phần đạt trung bình 196,63 m3/ha, đồng thời giải quyết bài toán an ninh lương thực cho 11 hộ thiếu đói nhằm giảm thiểu 100% các xung đột tài nguyên tại khu bảo tồn thiên nhiên Pha Thăm Binh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản lý rừng cộng đồng (Community Forestry) theo định chuẩn của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) và học thuyết Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (Community-Based Natural Resource Management - CBNRM). Khung lý thuyết phân lập rõ hai hình thái quản trị lâm nghiệp: Quản lý rừng cộng đồng (cộng đồng làm chủ sở hữu và hưởng lợi trực tiếp từ các khu rừng truyền thống như rừng thiêng, rừng ma) và Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (người dân tham gia bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng nhà nước thông qua cơ chế giao khoán và chia sẻ lợi ích).

Nghiên cứu tích hợp các khái niệm then chốt gồm: Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ), Quyền tiếp cận tài nguyên (Resource tenure rights), Tri thức sinh thái bản địa (TEK) và Hương ước thôn bản. Cơ sở pháp lý của đề tài dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Lào như Luật Lâm nghiệp số 01/96, Luật Đất đai số 01/97, Nghị định số 186/TTG.CP về giao đất khoán rừng, Nghị định số 59/P.TTg về quản lý rừng sản xuất bền vững và Quyết định số 0185/BT.NL về bảo vệ động vật hoang dã. Ngoài ra, tác giả kế thừa bài học kinh nghiệm từ mô hình Làng rừng Thái Lan và hệ thống Nhóm sử dụng rừng tại Nepal (nơi đã trao quyền quản lý hơn 500.000 ha rừng cho 800.000 người dân tham gia hiệu quả).

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  KHUNG PHÂN TÍCH QUẢN TRỊ RỪNG CỘNG ĐỒNG                 |
+-------------------------------------------------------------------------+
|  THỂ CHẾ NHÀ NƯỚC (Vĩ mô)             TRI THỨC & THỂ CHẾ BẢN ĐỊA (Vi mô)|
|  - Luật Lâm nghiệp 01/96              - Tập quán quản lý rừng thiêng   |
|  - Nghị định giao khoán 186/TTG.CP    - Hương ước và luật tục làng bản |
|  - Hạt kiểm lâm Pha Thăm Binh         - Ban quản lý bản & Nhóm hộ dân  |
+------------------------------------+------------------------------------+
                                     |
                                     v
+-------------------------------------------------------------------------+
|              CƠ CHẾ ĐỒNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN (CO-MANAGEMENT)             |
|  - Giao quyền quản trị 814 ha rừng bảo tồn cho cộng đồng bản Na Pêng    |
|  - Phân chia lợi ích lâm sản ngoài gỗ (LSNG) & Dịch vụ môi trường rừng  |
|  - Tuần tra bảo vệ liên ngành: Kiểm lâm địa bàn kết hợp Dân quân bản    |
+-------------------------------------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ giữa phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) và phương pháp điều tra sinh thái thực địa chuẩn hóa trong lâm học:

  • Thu thập dữ liệu xã hội học: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 100% cỡ mẫu gồm toàn bộ 76 hộ gia đình tại bản Na Pêng bằng phiếu câu hỏi bán định hướng. Tác giả tổ chức 5 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm với già làng, trưởng bản, phụ nữ và thanh niên; phỏng vấn sâu cán bộ quản lý thuộc Hạt Kiểm lâm khu bảo tồn Pha Thăm Binh và Phòng Nông Lâm nghiệp huyện Bua La Pha.
  • Điều tra trắc lượng lâm học: Thiết lập 13 ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình tạm thời có diện tích 600 m2 (kích thước 20m x 30m) trên các trạng thái rừng. Cỡ mẫu được phân tầng theo địa hình gồm 6 ô ở độ dốc trên 20 độ và 7 ô ở độ dốc dưới 20 độ. Việc phân tầng theo độ dốc bắt nguồn từ giả thuyết lâm học về tác động nhân sinh: khu vực có độ dốc thấp hơn 20 độ chịu áp lực khai thác lâm sản cao hơn đáng kể so với sườn dốc cao.
  • Đo đếm chỉ tiêu lâm phần: Đo đường kính ngang ngực (D1.3) bằng thước kẹp kính hai chiều trực giao Đông - Tây và Nam - Bắc; đo chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước Blumeleiss; đo đường kính tán lá (Dt) bằng thước dây chuyên dụng. Thể tích thân cây bình quân được tính theo công thức hình số lâm học V = (pi/4) * (D1.3)^2 * Hvn * f (với f = 0,5).
  • Xử lý và phân tích không gian: Ứng dụng phần mềm GIS MapInfo để chồng xếp, phân tích biến động thảm thực vật giữa hai mốc thời gian 2000 và 2010. Dữ liệu bảng hỏi được tổng hợp và phân tích định lượng bằng phần mềm Microsoft Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực địa và xử lý dữ liệu lâm học tại bản Na Pêng mang lại những phát hiện quan trọng:

+-----------------------------------------------------------------------+
|              CƠ CẤU HIỆN TRẠNG RỪNG BẢN NA PÊNG NĂM 2010             |
+-------------------+-------------------+-------------------------------+
| Trạng thái rừng   | Diện tích (ha)    | Tỷ lệ (%) / Đặc trưng chính   |
+-------------------+-------------------+-------------------------------+
| Rừng giàu         | 573,70            | 26,40% (Trữ lượng 230-297 m3) |
| Rừng trung bình   | 579,60            | 26,70% (Trữ lượng 117-173 m3) |
| Rừng nghèo        | 205,70            | 9,50%  (Trữ lượng 73-94 m3)   |
| Rừng trồng        | 800,50            | 36,80% (Keo, Lát hoa, Bạch đàn)|
| Rừng tre nứa      | 12,40             | 0,60%  (Phục vụ sinh hoạt)    |
+-------------------+-------------------+-------------------------------+
| Tổng cộng         | 2.172,12          | 100,00% (Trữ lượng TB: 196,63)|
+-------------------+-------------------+-------------------------------+

Thứ nhất, diện tích rừng tự nhiên có giá trị bảo tồn cao vẫn chiếm ưu thế lớn. Tổng diện tích rừng giàu và rừng trung bình đạt 1.153,30 ha, chiếm 53,10% diện tích đất có rừng. Đất lâm nghiệp phân theo 4 chức năng rõ rệt: Rừng sản xuất chiếm 1.316,92 ha (53,43%), Rừng bảo tồn chiếm 814,00 ha (33,00%), Rừng phòng hộ chiếm 34,70 ha (1,40%) và Rừng thiêng tâm linh chiếm 6,50 ha (0,26%). Diện tích rừng trồng đạt 800,50 ha (36,80%), chủ yếu là các loài cây sinh trưởng nhanh như Keo, Bạch đàn và Lát hoa.

Thứ hai, đa dạng sinh học tầng cây cao rất phong phú nhưng chịu áp lực khai thác chọn lọc. Phân tích 13 ô tiêu chuẩn ghi nhận 56 loài cây gỗ, trong đó có 29 loài tham gia vào công thức tổ thành tầng ưu thế. Rừng bảo tồn lưu giữ nhiều loài cây bản địa nguy cấp và quý hiếm như Lim xanh, Gụ mật, Gõ đỏ, Vàng kiên, Giáng hương, Dầu cát, Côm lá kèm và Chò chỉ Lào.

Thứ ba, trữ lượng lâm phần có sự phân hóa sâu sắc theo điều kiện địa hình và mức độ can thiệp của con người. Trữ lượng bình quân toàn khu vực đạt 196,63 m3/ha, tiết diện ngang G đạt 23,55 m2/ha, đường kính bình quân Dtb đạt 29,37 cm và chiều cao bình quân Htb đạt 14,62 m. Tại các ô tiêu chuẩn thuộc trạng thái rừng giàu, trữ lượng biến thiên từ 196,10 đến 297,00 m3/ha. Tuy nhiên, tại các vị trí có độ dốc dưới 20 độ, trữ lượng và mật độ cây gỗ lớn suy giảm rõ rệt so với sườn dốc trên 20 độ.

Thứ tư, mối liên hệ giữa sinh kế dân sinh và tài nguyên rừng ở mức rất cao. Bản có 112 ha đất ruộng lúa nước cho sản lượng 144,80 tấn/năm và 5 ha nương rẫy cho sản lượng 4,50 tấn/năm. Toàn bản sở hữu 33 máy cày, 4 nhà máy xay xát, đàn gia súc gia cầm gồm 100 con bò, 40 con trâu, 30 con lợn và 740 gia cầm. Dù vậy, năm 2010 vẫn có 11 hộ thiếu ăn (chiếm 14,47%), 30 hộ đủ ăn (39,47%) và 35 hộ thừa lương thực (46,06%). Áp lực thiếu đói mùa giáp hạt buộc người dân phải vào rừng săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ trái phép.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  BIẾN THIÊN TRỮ LƯỢNG GỖ THEO ĐỘ DỐC ĐỊA HÌNH           |
+-------------------------------------------------------------------------+
|  Độ dốc < 20 độ (Vùng thấp, dễ tiếp cận):                               |
|  - Trữ lượng bình quân: 173,6 m3/ha - 243,8 m3/ha                       |
|  - Tình trạng: Bị khai thác trộm gỗ quý (Lim, Gõ, Gụ) làm nhà ở        |
|                                                                         |
|  Độ dốc > 20 độ (Vùng núi cao, hiểm trở):                              |
|  - Trữ lượng bình quân: 230,0 m3/ha - 297,0 m3/ha                       |
|  - Tình trạng: Rừng nguyên sinh duy trì độ che phủ và mật độ cao       |
+-------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm trữ lượng ở vùng thấp (độ dốc dưới 20 độ) phản ánh lỗ hổng trong công tác quản lý rừng chuyên trách. Do địa hình bằng phẳng và gần đường dân sinh, người dân dễ dàng tiếp cận để khai thác gỗ làm nhà ở, chuồng trại và củi đun. Khi đối chiếu với bản đồ hiện trạng giai đoạn 2000–2010 thông qua MapInfo, nhiều vạt rừng phòng hộ và rừng tự nhiên nghèo kiệt gần bản đã bị người dân chuyển đổi cơ cấu sang trồng rừng Keo tự phát nhằm tìm kiếm nguồn thu ngắn hạn.

So sánh với các nghiên cứu lâm nghiệp xã hội tại các nước Đông Nam Á, mô hình quản lý tập trung thuần túy của các ban quản lý khu bảo tồn thường thất bại nếu không giải quyết được bài toán sinh kế tại chỗ. Tại bản Na Pêng, diện tích 814 ha rừng bảo tồn nằm sát khu dân cư nhưng thiếu ranh giới cắm mốc thực địa, trong khi lực lượng kiểm lâm mỏng và thiếu cơ chế chia sẻ quyền lợi với người dân. Việc cộng đồng bản địa duy trì bảo vệ tốt 6,5 ha rừng thiêng và 10,88 ha đất nghĩa địa bằng luật tục truyền thống là minh chứng rõ nét cho thấy: Khi người dân có quyền làm chủ và gắn kết tâm linh, trách nhiệm bảo vệ rừng tự giác sẽ cao hơn nhiều so với mệnh lệnh hành chính thuần túy.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả điều tra thực chứng, luận văn đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa công tác quản lý rừng bảo tồn:

+-------------------------------------------------------------------------+
|                 HỆ THỐNG GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỪNG BẢN NA PÊNG            |
+-------------------------------------------------------------------------+
| 1. QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT                                                |
|    - Cấp 66,5 ha đất nông nghiệp dự phòng cho 11 hộ thiếu đói           |
|    - Cắm mốc ranh giới 814 ha rừng bảo tồn & 34,7 ha rừng phòng hộ      |
+-------------------------------------------------------------------------+
| 2. THỂ CHẾ VÀ CHIA SẺ LỢI ÍCH                                           |
|    - Ký hợp đồng khoán bảo vệ rừng theo Nghị định 186/TTG.CP            |
|    - Trích 30-40% quỹ phát triển bản từ dịch vụ môi trường rừng         |
+-------------------------------------------------------------------------+
| 3. TỔ CHỨC BẢO VỆ RỪNG TỰ QUẢN                                          |
|    - Thành lập 4 tổ tuần tra thôn bản (mỗi tổ 10-12 thành viên)         |
|    - Ban hành Quy ước bảo vệ rừng gắn liền với chế tài hương ước        |
+-------------------------------------------------------------------------+
| 4. PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG                                          |
|    - Khai thác bền vững 12,4 ha măng tre nứa, mây, cây thuốc            |
|    - Đào tạo kỹ thuật thâm canh lúa nước & chăn nuôi nhốt chuồng        |
+-------------------------------------------------------------------------+

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất và phân định ranh giới rừng trên thực địa. Chính quyền huyện Bua La Pha cùng Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Khăm Muôn cần tiến hành cắm mốc ranh giới rõ ràng cho 814 ha rừng bảo tồn và 34,7 ha rừng phòng hộ trước năm 2011. Đồng thời, tổ chức phân bổ 66,5 ha đất sản xuất nông nghiệp còn trong quy hoạch dự phòng cho 11 hộ gia đình đang thiếu đói và các hộ mới tách để đảm bảo mục tiêu 1,66 ha đất canh tác/hộ, chấm dứt hoàn toàn tập quán đốt nương làm rẫy trên đất dốc.

Thứ hai, triển khai cơ chế giao đất khoán rừng và chia sẻ lợi ích theo luật định. Áp dụng nhất quán Luật Lâm nghiệp số 01/96 và Nghị định số 186/TTG.CP để ký hợp đồng nhận khoán bảo vệ 814 ha rừng bảo tồn cho cộng đồng bản Na Pêng. Thiết lập quy chế hưởng lợi minh bạch, cho phép người dân khai thác hợp lý lâm sản ngoài gỗ (mây, tre nứa, cây thuốc) và được chia sẻ ít nhất 30–40% nguồn thu từ các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng để gây quỹ phát triển thôn bản.

Thứ ba, củng cố bộ máy tự quản và xây dựng hương ước bảo vệ rừng thôn bản. Kiện toàn Ban quản lý rừng cấp bản gồm Trưởng bản, Công an bản, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên; thành lập 4 tổ tuần tra rừng tự quản với sự tham gia của 209 lao động nòng cốt. Lực lượng này phối hợp với Hạt Kiểm lâm Pha Thăm Binh thực hiện tuần tra định kỳ 2 lần/tháng tại các khu vực nhạy cảm có độ dốc dưới 20 độ; tích hợp quy định cấm chặt cây gỗ quý và cấm săn bắt động vật hoang dã vào hương ước văn hóa bản làng.

Thứ tư, hỗ trợ phát triển sinh kế thay thế và nâng cao năng lực khuyến nông - khuyến lâm. Trạm Khuyến nông huyện Bua La Pha cần tổ chức 3 khóa tập huấn kỹ thuật thâm canh lúa nước, chuyển đổi đàn gia súc 140 con (trâu, bò) từ thả rông sang nuôi nhốt có kiểm soát dịch bệnh, đồng thời phát triển mô hình kinh doanh lâm sản ngoài gỗ bền vững trên diện tích 12,4 ha rừng tre nứa hiện có.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Bộ Nông Lâm nghiệp Lào, Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Khăm Muôn và UBND huyện Bua La Pha có thể vận dụng luận văn làm cơ sở thực tiễn để ban hành các quy chế giao khoán rừng vùng đệm và định mức phân chia lợi ích lâm sản tại các khu bảo tồn quốc gia.
  2. Ban quản lý các khu rừng đặc dụng và khu bảo tồn thiên nhiên: Ban quản lý khu bảo tồn Pha Thăm Binh và các đơn vị đồng cấp tại Lào cũng như khu vực Đông Dương có thể sử dụng trực tiếp mô hình tổ chức tuần tra tự quản thôn bản và phương pháp giám sát tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm nghiệp: Là nguồn học liệu mẫu mực về phương pháp luận kết hợp điều tra trắc lượng rừng (13 OTC, đo D1.3, Hvn, G, M) với công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và ứng dụng phần mềm GIS MapInfo trong phân tích động thái thảm thực vật.
  4. Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và đơn vị tài trợ quốc tế: Các tổ chức đang triển khai dự án bảo tồn đa dạng sinh học, giảm nghèo vùng cao và quản trị tài nguyên thiên nhiên tại Lào (như WWF, IUCN, GIZ) có thể sử dụng hệ thống số liệu kinh tế - xã hội của 76 hộ dân bản Na Pêng làm dữ liệu nền tảng cho việc thiết kế các dự án can thiệp sinh kế.

Câu hỏi thường gặp

Nút thắt lớn nhất trong công tác bảo vệ rừng tại bản Na Pêng là gì?

Nút thắt lớn nhất là mâu thuẫn giữa bảo tồn nghiêm ngặt và nhu cầu sinh kế bức thiết của 76 hộ dân sống phụ thuộc vào rừng. Năm 2010, bản vẫn còn 11 hộ thiếu lương thực, trong khi 814 ha rừng bảo tồn chưa có ranh giới cắm mốc rõ ràng trên thực địa và người dân chưa được hưởng lợi kinh tế hợp pháp từ công tác bảo vệ rừng.

Vì sao trữ lượng rừng ở độ dốc dưới 20 độ lại suy giảm mạnh hơn khu vực có độ dốc cao?

Do địa hình dưới 20 độ bằng phẳng, gần bản và nguồn nước suối Pêng nên thuận lợi cho việc đi lại, dẫn đến tình trạng người dân và các đơn vị bên ngoài khai thác trộm các loài gỗ quý (Lim xanh, Gụ mật, Gõ đỏ) phục vụ xây dựng nhà ở và thương mại. Ngược lại, khu vực có độ dốc trên 20 độ hiểm trở, khó tiếp cận nên duy trì được trữ lượng lên tới 297 m3/ha.

Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đề xuất có gì ưu việt hơn cơ chế cũ?

Cơ chế cũ chỉ dựa vào lực lượng kiểm lâm mỏng nên không bao quát được 2.172,12 ha rừng, dẫn đến khai thác lậu tràn lan. Mô hình đề xuất trao quyền giám sát trực tiếp cho 76 hộ dân, gắn trách nhiệm bảo vệ với quyền khai thác lâm sản ngoài gỗ hợp pháp, cấp 66,5 ha đất canh tác dự phòng và trích lập quỹ bản, tạo động lực tự giác bảo vệ rừng từ cơ sở.

Dữ liệu điều tra 13 ô tiêu chuẩn phản ánh điều gì về cấu trúc sinh thái khu bảo tồn?

Dữ liệu cho thấy tính đa dạng sinh học tầng cây gỗ rất cao với 56 loài thực vật, trữ lượng bình quân đạt 196,63 m3/ha và tiết diện ngang đạt 23,55 m2/ha. Cấu trúc tổ thành xuất hiện nhiều loài gỗ quý giá trị cao như Vàng kiên, Bằng lăng hoa nhiều, Gội nhăn, chứng minh khu vực nghiên cứu có giá trị bảo tồn sinh thái trọng yếu của quốc gia.

Người dân bản Na Pêng được hưởng quyền lợi cụ thể nào khi tham gia quản lý rừng?

Khi tham gia đồng quản lý, người dân được ưu tiên nhận khoán bảo vệ rừng, được khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ (măng, mây, nứa, dược liệu) trên 12,4 ha rừng tre nứa, được nhận đất canh tác nông nghiệp ổn định lâu dài (1,66 ha/hộ) và được chia sẻ lợi nhuận từ các nguồn thu dịch vụ bảo vệ môi trường rừng.

Kết luận

  • Luận văn đã cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống số liệu khoa học chính xác về hiện trạng 2.172,12 ha đất lâm nghiệp tại bản Na Pêng, xác định trữ lượng rừng đạt 196,63 m3/ha cùng sự hiện diện của 56 loài cây gỗ quý.
  • Phân tích rõ nét mối quan hệ tương hỗ giữa sinh kế của 76 hộ dân Lào Lùm với tài nguyên rừng, chỉ ra nguyên nhân suy giảm trữ lượng tại vùng thấp do thiếu cơ chế đồng quản lý và áp lực thiếu hụt lương thực của 11 hộ nghèo.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao: Quy hoạch đất đai, giao đất khoán rừng gắn với chia sẻ lợi ích, thành lập 4 tổ tuần tra tự quản thôn bản và phát triển sinh kế phi gỗ.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền huyện Bua La Pha và Hạt Kiểm lâm Pha Thăm Binh phối hợp cắm mốc ranh giới 814 ha rừng bảo tồn, ban hành bản quy ước bảo vệ rừng thôn bản trong vòng 6 đến 12 tháng.
  • Quý nhà khoa học, nhà quản lý và các tổ chức phát triển quan tâm có thể khai thác, ứng dụng toàn diện khung phương pháp luận và dữ liệu thực chứng của luận văn thạc sĩ này nhằm nhân rộng mô hình lâm nghiệp cộng đồng bền vững tại các vùng đệm khu bảo tồn trên toàn quốc.