TRUONG DAI HOC LAM NGHIEP KHOA LUAN TOT NGHIEP CAC GIAI PHAP QUAN LY BAO VE LOAI SON DUONG (Capricornis Suamainaensisy TREN CO SỬ CỘNG DONG Ngành: Quản lý tài nguyên rừng & môi trường Mã số: 302 Giáo viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Đắcaie Sinh viên thực hiện : Võ Anh Đức Khoá học : 2005 -2009 Hà Nội, 2009 LỜI NÓI ĐẦU Để hoàn thành chương trình đào tạo Đại học tại trường Đại học Lâm Nghiệp nhằm đánh giá kết quả học tập và gắn đào tạo với thực tiễn, được sự nhất trí của khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường trường Đại học Lâm Nghiệp, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài tốt nghiệp: “Các giải pháp quản lý bảo vệ loài Sơn dương (Capricornis sumatraensis) trên cơ sở cộng đồng tại Vườn quốc gia Cát Bà”. Trong quá trình thực hiện đề tài, với nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, trường Đại học Lâm nghiệp, ban quản lý Vườn. quốc gia Cát Bà, gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi, đến nay khoá luận tốt nghiệp của tôi đã hoàn thành.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Nguyễn Đắc Mạnh - giảng viên bộ môn Động vật rừng đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành bài khoá luận này, cùng các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, trường Đại học Lâm Nghiệp, ông Hoàng Văn Thập - Giám đốc VQG Cát Bà, anh Phan Duy Thức - chủ dé tai “Diéu tra đánh giá thực trạng loài Sơn dương tại VOG Cat Ba”, chi Vi Hitu Tinh - thành viên đội tuần rừng dự án bảo tồn Voọc, các anh các chú trạm Trà Báu, trạm Vạn Tà, cán bộ công nhân viên VQG Cát Bà, gia đình, bạn bè đã tạo những điều kiện tốt nhất đề tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp theo đúng quy định của nhà trường. Do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm nghiên cứu chưa có nhiều nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, kính mong được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến xây dựng của các thầy, cô giáo cùng các bạn để khoá luận được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn ! Hà nội, ngày 23 tháng 5 năm 2009 Sinh viên thực hiện Võ Anh Đức MỤC LỤC DAT VAN DE Phan 1. TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới 1. Ở Hải Phòng và tại VQG Cát Bà. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐẢO CÁT BÀ. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN.
Vị trí địa lý và ranh giới hành chính 2. Đặc điểm địa hình, địa thế. Đặc điểm địa chất thổ nhưỡng, 2. Đặc điểm khí hậu thuỷ văn.
Đặc điểm hệ thống thuỷ văn hải văn 2. Thảm thực vật ở Cát Bà. Kiếu thảm thực vật 2. Khu hệ thực vật rừng 2.
Khu hệ động vật. Đặc điểm khu hệ động vật trên cạn 2. Động thực vật biển 2. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI 2.
Dân số, dân tộc và phân bố dân cư. Dân số và phân bố dan cw. Cơ cầu dân số và lao động. Các hoạt động sản xuất kinh 2.
Thực trạng cơ sở hạ tằng. Giáo dục và đào tạo. Thông tin - văn hoá. Đời sống sinh hoạt của người dân.
MỤC TIÊU- NỘI DUNG- PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 2 3.1 MUC TIEU NGHIEN CUU 2 3. Muc tiéu chung. Muc tiéu cy thé. NOI DUNG NGHIEN CUU sacl 3.
PHAM VI NGHIEN CUU. PHUONG PHAP NGHIEN CUU ei 3. Kế thừa có chọn lọc từ các nguồn tài liệu sẵn có. Phong van cán bộ của VQG Cát Bà và dân cư địa phương.
Phân tích các mẫu vật lưu trữ và săn bắt (sừng, da).4, Điều tra khảo sát theo tuyến 3. Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA). Phương pháp phân tích số liệu. KET QUA NGHIEN CUU VA BAN LUAN.1, PHAN BO VA TINH TRANG SON DUONG TREN DAO CAT BA.
Phan bé ctia Son duong theo dai cao. Phân bố của Sơn dương theo sinh cảnh. CAC MOI DE DỌA DEN QUAN THE SON DƯƠNG TẠI KHU vực NGHIÊN CỨU. Các mối đe dọa trực 4.
Các mối đe dọa gián tiếp. Phân cấp các môi đe dọa. HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO TÒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ VÀ XÃ GIA LUẬN.1 Cơ cầu tổ chức của VQG Cát Bà. CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BẢO VỆ LOÀI SƠN DƯƠNG TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐÔNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ.
Mô tả khu vực ưu tiên bảo vệ loài Sơn đương 4. Giải pháp quản lý bảo vệ loài tại khu vực ưu tiên bảo vệ và vai trò của. cộng đồng trong các giải pháp này. Giải pháp giảm thiểu các mối đe doạ tại khu vực ưu tiên bảo vệ và vai trò của cộng đồng trong các giải pháp này.
Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đông trong công tác quản lý bảo vệ loài Sơn dương, wd KET LUAN - TON TAI - KHUYÉN NGHỊ. KET LUAN AT 2. TON TAI - KHUYEN NGHI. +48 CAC TU VIET TAT BV & PTR: Bảo vệ và phát triển rừng DDSH: Da dang sinh hoc HST: Hệ sinh thái LSNG: Lâm sản ngoài gỗ NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn PCCCR: Phòng chống cháy rừng QL&BVTNR: Quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng TNR: Tài nguyên rừng UBND: Ủy ban nhân dân VQG: Vườn quốc gia DAT VAN DE Loài Sơn dương (Capricornis sumatraensis) theo đánh giá của các chuyên gia về thú ở Việt Nam có số lượng còn sót lại ngoài tự nhiên rất Ít, đặc biệt là những khu vực bị cách lập hoặc hành lang sinh thái hẹp, điển hình như các đảo, các khu rừng có diện tích nhỏ.
Tại thành phố Hải Phòng, loài Sơn dương chỉ còn lại trên đảo Cát Bà. Theo các tài liệu nghiên cứu đã công bó, trước những năm 1990, trên đảo Cát Bà loài Sơn dương có số lượng tương, đối lớn và chúng có mặt rộng khắp trên toàn đảo. Nhưng hiện nay theo nguồn thông tin cung cấp từ người dân địa phương và cán bộ kiểm lâm thì số lượng loài Sơn dương đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng. Những thông tin này chưa được kiểm chứng ở ngoài thực địa một cách khoa học.
Các thông tin vé loài Sơn dương trên đảo Cát Bà hiện nay chưa được thu thập đầy đủ và có hệ thống. Chính vì vậy, việc quản lý bảo vệ chúng trên đảo Cát Bà gặp rất nhiều khó khăn, cụ thể làkhông đề ra được các giải pháp quản lý, bảo vệ thiết thực. Trong khi đó, áp lực săn bắt loài cũng đang diễn ra ráo riết và vấn đề nghiêm trọng hơn là mùa săn bắt trùng với mùa sinh sản, chính điều này lại càng làm gia tăng nguy cơ tuyệt chủng tới số lượng ít ỏi Sơn đương còn lại trên đảo. Tinh trang săn bắt các loại động vật hoang dã nói chung và loài Sơn dương nói riêng vẫn không có dấu hiệu thuyên giảm do công tác quản lý bảo vệ của Vườn chưa thực sự hiệu quả, thiết thực và còn một nguyên nhân khác là nhu cầu về thực phẩm và giá trị kinh tế mà nó mang lại cũng tương đối lớn đối với cuộc sống của người dân nơi đây.
Không chỉ vậy, với việc dân số ngày càng, tăng cùng với đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ khắp các vùng miền của Việt Nam đã gây nhiều ảnh hưởng xấu tới các HST, các vùng sinh cảnh trong đó Cát Bà không phải là trường hợp ngoại lệ. Các hoạt động mở rộng đất ở, đất canh tác hay khai thác lâm sản của người dân nơi đây đã tác động mạnh tới sinh cảnh làm khu vực sống của các loài động vật khác bị thu hẹp nhanh chóng. Với tình hình này sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề phục hồi loài ở sinh cảnh đặc trưng của hải đảo, mà một trong số đó là loài Sơn đương tương lai không. 1 xa sẽ biến mất khỏi HST này nếu tình trạng hiện nay không sớm được thay đổi.
Việc xây dựng và quản lý các khu rừng đặc dụng nhưng chưa quan tâm đến cuộc sống người dân sống trong và gần khu rừng đã vô tình đặt người dân vào vị trí ngoài cuộc trong công tác bảo tồn thiên nhiên. Ở một số nơi, thay vì tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên, người dân đã quay lại đối đầu với lực lượng bảo vệ rừng. Người dân sống trong và gần rừng thường có các kinh nghiệm, kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên, cộng thêm lực lượng dồi dào là một tiềm năng to lớn cần phải khai thác và ứng dụng vào công tác bảo tồn. Từ những vấn đề đó thấy rằng khi xây dựng kế hoạch quản lý khu rừng đặc dụng cần có sự tham gia của người dân, trên cơ sở đặc điểm của cộng đồng dân bản địa mà tổ chức các hoạt động hợp lý nhằm bảo tồn tài nguyên có hiệu quả, do vậy tôi đã chọn đề tài nghiên cứu về “Các giải pháp quản lý bảo vệ loài Sơn dương (Capricornis sumatraensis) trên cơ sở cộng đồng tại Vườn quốc gia Cát Bà”.
TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Trên thế giới Trên thế giới có hơn 6 loài Sơn dương thuộc giống Capricorris, một số loài như Sơn dương Nhật bản (Capricornis erispus) là loài đặc hữu của Nhật Ban chỉ được tìm thấy trên đảo Honshu, Kyushu và Shikoku. Loài Sơn dương Đài Loan (Caprieornis swinhoei) là loài đặc hữu của Đài Loan, chỉ tìm thấy trên đảo Đài Loan. Loài nghiên cứu còn được gọi là loài Sơn dương đất liền chúng phân bố từ Nepal, Án Độ, Trung Quốc tới Đông Nam Á.
Hai loài Sơn dương Nhật Bản và Đài Loan có nhiều chương trình nghiên cứu và chương trình hành động bảo tồn loài, trong khi đó loài Sơn dương đất liền cũng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhưng cho tới nay nghiên cứu về hiện trạng phân bố vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt là không có chương. trình hành động bảo tồn loài cụ thể. Ở Việt Nam Chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung chuyên sâu về loài, chỉ có những nghiên cứu về các loài thú có móng guốc nói chung. Các thông tin đánh giá về tình trạng phân bồ và số lượng cá thẻ phân mảnh, không có hệ thống.
Do vậy, hiện ở Việt Nam chưa có một chương trình hành động bảo tồn loài cụ thể, mặc dù sự nguy cấp về chúng rất cao. Những nghiên cứu có liên quan đến loài Sơn dương có thể sơ bộ như sau: - Đặc điểm phân bố dịa lý của loài Cheo cheo (Tragulus javanicus) và thú móng guốc ở Việt Nam và Đông Nam Á của Viện Tiến hoá Sinh thái Động vật Seversop Mockova, năm 1983.