Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Loài Sơn dương (Capricornis sumatraensis) là loài thú móng guốc quý hiếm có số lượng cá thể ngoài tự nhiên tại Việt Nam còn rất ít, đặc biệt tại các khu vực sống bị cô lập hoặc có hành lang sinh thái hẹp. Tại thành phố Hải Phòng, loài động vật này chỉ còn phân bố duy nhất trên quần đảo đá vôi Cát Bà. Trước thập niên 1990, các ghi nhận cho thấy quần thể Sơn dương tại Cát Bà có mật độ tương đối lớn và phân bố rộng khắp trên toàn đảo. Tuy nhiên, các nguồn tin từ cán bộ kiểm lâm và người dân địa phương cho thấy số lượng loài đã suy giảm nghiêm trọng. Các thông tin khoa học về hiện trạng phân bố và quần thể Sơn dương trên đảo trước thời điểm nghiên cứu chưa được điều tra thực địa một cách bài bản, đồng bộ và có hệ thống, gây khó khăn cho việc hoạch định phương án bảo tồn.
Sự suy giảm của quần thể Sơn dương xuất phát từ các áp lực thực tế:
- Áp lực săn bắt, đánh bẫy ráo riết từ người dân nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm đặc sản và thương mại kinh tế; mùa săn bắt cao điểm lại trùng vào mùa sinh sản của loài.
- Áp lực gia tăng dân số, đô thị hóa, mở rộng đất canh tác và khai thác lâm sản làm thu hẹp và phân mảnh nghiêm trọng sinh cảnh rừng trên núi đá vôi.
- Bất cập trong cơ chế quản lý rừng đặc dụng: công tác quản lý bảo tồn trước đây chưa gắn chặt với đời sống dân sinh của cộng đồng địa phương sống trong và ven rừng, vô tình đặt người dân vào vị thế ngoài cuộc hoặc đối đầu với lực lượng kiểm lâm, thay vì phát huy tri thức bản địa và nguồn nhân lực sẵn có tại chỗ.
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài khóa luận "Các giải pháp quản lý bảo vệ loài Sơn dương (Capricornis sumatraensis) trên cơ sở cộng đồng tại Vườn quốc gia Cát Bà" được thực hiện với các mục tiêu cụ thể:
- Xác định khu vực ưu tiên bảo tồn loài Sơn dương trên đảo Cát Bà.
- Xác định vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Cát Bà.
- Đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn loài Sơn dương trên cơ sở cộng đồng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Loài Sơn dương (Capricornis sumatraensis), tập tính sinh thái học, hiện trạng phân bố và các mối đe dọa sinh tồn.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại 3 khu vực còn ghi nhận sự xuất hiện của Sơn dương trên đảo Cát Bà, gồm khu vực trạm kiểm lâm Trà Báu, trạm kiểm lâm Vạn Tà (thuộc địa phận xã Việt Hải) và khu vực rừng thuộc xã Gia Luận, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi thời gian: Khóa luận được thực hiện trong giai đoạn đào tạo 2005 - 2009, thời điểm khảo sát và thu thập dữ liệu thực địa hoàn tất vào tháng 3 năm 2009.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sinh thái học quần thể động vật hoang dã, tập tính học của các loài thú móng guốc thuộc họ Trâu bò (Bovidae), giống Sơn dương (Capricornis), kết hợp lý thuyết quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng (Community-Based Natural Resource Management). Tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu về phân bố thú móng guốc tại Việt Nam (Viện Tiến hóa Sinh thái Động vật Seversop Mockova, 1983; Phạm Trọng Ảnh, Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, 1990; Nguyễn Xuân Đặng, 1995), các tư liệu bảo tồn loài Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) tại VQG Pù Mát và Thừa Thiên Huế, cùng các báo cáo về khu hệ động thực vật VQG Cát Bà (Lê Mộng Chân, Nguyễn Kim Đào, 2003; Lê Thái Hà, Trần Thế Liên, 2007). Về mặt pháp lý, đề tài bám sát các quy định quản lý rừng đặc dụng và Nghị định số 18/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng quy định danh mục thực vật, động vật rừng quý hiếm.
Nghiên cứu phối hợp các phương pháp điều tra thực địa và xã hội học lâm nghiệp:
- Kế thừa dữ liệu và bản đồ GIS: Kế thừa số liệu thống kê sinh cảnh, tài nguyên và cơ sở dữ liệu GIS được số hóa trên nền tảng phần mềm MapInfo 7.5 của Vườn quốc gia Cát Bà để xây dựng các bản đồ chuyên đề (địa hình, thảm thực vật, tuyến điều tra, phân bố dấu vết, phân cấp đe dọa và vùng ưu tiên).
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Phỏng vấn sâu lãnh đạo Vườn quốc gia (Giám đốc, Trưởng phòng kỹ thuật, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm), cán bộ kiểm lâm địa bàn và các thợ săn có kinh nghiệm tại địa phương; sử dụng công cụ sơ đồ Venn và ma trận ra quyết định để phân tích vai trò, quyền hạn của các bên liên quan trong quản lý tài nguyên rừng tại xã Gia Luận.
- Phương pháp phân loại và phân cấp mối đe dọa: Sử dụng thang điểm 10 đánh giá 7 mối đe dọa trực tiếp dựa trên 3 tiêu chí: Phạm vi ảnh hưởng, Cường độ phá hủy và Tính khẩn cấp.
- Phân tích mẫu vật lưu trữ: Thu thập thông tin từ sừng, da lưu trữ hoặc săn bắt qua phiếu điều tra chuyên biệt.
- Phương pháp điều tra tuyến khảo sát thực địa: Thiết lập 15 tuyến điều tra chính và phụ bao quát 3 khu vực trọng điểm:
- Khu vực trạm Trà Báu: 7 tuyến (từ tuyến 1 đến tuyến 7, khu vực Ông Cậm, Vụng Tùng Gấu, Tùng Ngòi, Vụng Áng Le).
- Khu vực trạm Vạn Tà: 4 tuyến (từ tuyến 8 đến tuyến 11, khu vực Vàng Chín Dòn, Ông Cậm, Vạn Tà Cạn, Vạn Tà Nước).
- Khu vực xã Gia Luận: 4 tuyến (từ tuyến 12 đến tuyến 15, khu vực Áng Giác 1 - 3, Áng Giác Cùng, Áng Lá, Thong Néo Đất, Thong Nóm).
- Phương pháp đếm gián tiếp qua dấu vết: Do mật độ thấp và tập tính lẩn tránh hoạt động ban đêm của Sơn dương, nghiên cứu thu thập dữ liệu gián tiếp dựa trên vết phân, vết cọ xát sừng/thân cây, vết gặm thức ăn, lối mòn di chuyển và bãi nằm; ghi nhận tọa độ GPS, độ cao và sinh cảnh xung quanh.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề và Phần 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Phần này làm rõ vị trí phân loại học và hiện trạng bảo tồn của chi Capricornis. Trên thế giới ghi nhận hơn 6 loài Sơn dương; trong khi các loài hải đảo đặc hữu như Sơn dương Nhật Bản (Capricornis crispus) hay Sơn dương Đài Loan (Capricornis swinhoei) đã có các chương trình hành động bảo tồn bài bản, thì loài Sơn dương đất liền (Capricornis sumatraensis) phân bố từ Nepal, Ấn Độ, Trung Quốc đến Đông Nam Á vẫn thiếu vắng kế hoạch bảo tồn chi tiết. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở mức điều tra danh lục thú móng guốc tổng thể, chưa có công trình chuyên biệt về Sơn dương. Tại VQG Cát Bà, ngoài dự án bảo tồn chuyên sâu dành cho Voọc Cát Bà, dữ liệu về Sơn dương hoàn toàn phân mảnh, khiến các cơ quan quản lý lúng túng trong việc triển khai giải pháp thực tế.
Phần 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của đảo Cát Bà
Chương này tổng kết đặc trưng cơ bản của khu vực nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên: Quần đảo Cát Bà gồm 204 km² diện tích núi đá vôi (tọa độ 20°44' - 20°52' vĩ độ Bắc, 106°59' - 107°06' kinh độ Đông). Độ cao địa hình phổ biến khoảng 100m, điểm cao nhất là đỉnh Cao Vọng (322m). Khí hậu nhiệt đới gió mùa đại dương, nhiệt độ trung bình 23°C, lượng mưa từ 1.500 - 2.000 mm/năm. Thảm thực vật rừng chiếm 15.510 ha (52% diện tích tự nhiên) với 10 kiểu thảm chính. VQG ghi nhận 1.561 loài thực vật bậc cao có mạch (ngành Hạt kín chiếm 93,7%); khu hệ động vật trên cạn gồm 279 loài có xương sống (53 loài thú với 9 loài trong Sách đỏ Việt Nam, 160 loài chim, 45 loài bò sát, 21 loài lưỡng cư) và 1.313 loài sinh vật biển.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Dân số toàn đảo năm 2004 là 13.573 nhân khẩu (3.577 hộ), mật độ dân cư bình quân vùng đệm đạt 127 người/km² nhưng phân bố rất chênh lệch (Thị trấn Cát Bà đạt 4.596 người/km², xã Việt Hải chỉ có 7 người/km²). Lao động nông lâm nghiệp chiếm 21,5%; người dân duy trì đàn dê hơn 4.700 con và 1.748 đàn ong mật. Nhu cầu sử dụng chất đốt sinh hoạt còn phụ thuộc lớn vào tài nguyên rừng với mức tiêu thụ củi bình quân 2.220 ster/năm trên toàn đảo.
Phần 3: Mục tiêu, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Tác giả cụ thể hóa hệ thống biểu mẫu điều tra, bao gồm: Phiếu phân tích mẫu vật (Mẫu 01), Phiếu điều tra theo tuyến (Mẫu 02) và Bảng phân hạng mối đe dọa (Mẫu 03). Quy trình thiết kế mạng lưới 15 tuyến điều tra được xây dựng dựa trên địa hình karst phân cắt mạnh, kết hợp giữa tuyến chính và tuyến nhánh nhằm kiểm tra kỹ các eo giáp ranh giữa các dãy núi đá vôi. Phương pháp xác định cá thể được lượng hóa dựa trên kích thước bãi phân, mức độ phân hủy theo thời gian, vị trí tương đối giữa các tuyến và tập tính sống đơn lãnh thổ của loài.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Nội dung này trình bày các phát hiện thực địa quan trọng:
- Hiện trạng và phân bố quần thể: Trong đợt điều tra thực địa đến ngày 23/03/2009, nhóm nghiên cứu ghi nhận 86 dấu vết tại 57 điểm (hoàn toàn là dấu vết cũ xuất hiện từ tháng 02/2009 trở về trước). Phân tích tổng hợp chỉ ra toàn khu vực điều tra còn ít nhất 11 cá thể Sơn dương sinh sống.
- Phân bố theo đai cao: Tần suất xuất hiện dấu vết tập trung cao nhất ở đai cao 101 - 200m (chiếm 53%), tiếp đến là đai cao 1 - 100m (chiếm 43%), đai cao 201 - 300m chỉ ghi nhận 4%. Nguyên nhân là do đai cao 101 - 200m nằm ở sườn và đỉnh các dãy núi, xa khu dân cư và các thung áng canh tác, có nguồn thức ăn phong phú và nhiều hang hốc trú ẩn. Sơn dương có xu hướng xuống sườn và chân núi tránh rét vào mùa khô (tháng 10 đến tháng 4 năm sau), sau đó di chuyển lên đỉnh cao thoáng gió vào mùa mưa (tháng 5 đến tháng 9) để tránh các loài côn trùng hút máu (mòng, muỗi).
- Phân bố theo sinh cảnh: Sinh cảnh rừng thứ sinh nghèo thường xanh mưa ẩm trên núi đá vôi chiếm 52% tổng số dấu vết ghi nhận, do có cấu trúc 4 tầng tán cung cấp nguồn thức ăn dồi dào từ tầng cây bụi và thảm tươi (chiếm 80 - 85% khẩu phần của Sơn dương) cùng độ che phủ bảo vệ tốt. Sinh cảnh cây bụi và cây tái sinh trên núi đá vôi chiếm 33% dấu vết; sinh cảnh núi đá trọc chỉ chiếm 15%.
- Các mối đe dọa quần thể: Nghiên cứu xếp hạng bẫy bắt là hiểm họa số một (20/30 điểm), theo sau là khai thác gỗ, củi (16 điểm), khai thác lâm sản ngoài gỗ (12 điểm), cháy rừng (10 điểm), ô nhiễm môi trường (9 điểm), chuyển đổi đất nông nghiệp (7 điểm) và khai thác đá (5 điểm). Việc dùng bẫy cần giật bằng dây cáp, dây thừng thay cho dây leo truyền thống khiến hoạt động săn trộm diễn ra quanh năm. Chỉ riêng giai đoạn 2006 - 2007 đã có ít nhất 7 cá thể Sơn dương bị săn bắt trái phép trên đảo.
- Hiện trạng thể chế và giải pháp cộng đồng: Phân tích cơ cấu tổ chức của VQG Cát Bà và sơ đồ Venn tại xã Gia Luận chỉ ra UBND xã và Hạt Kiểm lâm huyện là hai đầu mối hành pháp nòng cốt, trong khi các tổ chức đoàn thể (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh) đóng vai trò tuyên truyền trực tiếp đến người dân. Tác giả xác định tiêu chí và khoanh vẽ 3 khu vực ưu tiên bảo vệ loài; đề xuất lắp đặt bẫy ảnh (camera-trap), bổ sung trạm bảo vệ tại hành lang Vạn Tà - Trà Báu, đồng thời triển khai hỗ trợ vốn, chuyển đổi vật liệu chất đốt và khuyến khích trồng cây thuốc tại vườn nhà cho người dân xã Gia Luận.
Phần Kết luận, tồn tại và khuyến nghị
Khóa luận đúc kết các kết quả định lượng đạt được, chỉ rõ hạn chế về việc chưa quan sát trực tiếp được cá thể sống do thời gian khảo sát thực địa ngắn, đồng thời khuyến nghị các cơ quan chức năng sớm thể chế hóa các giải pháp đồng quản lý với cộng đồng thôn bản vùng đệm.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả định lượng cụ thể về hiện trạng quần thể, đặc tính sinh thái và các yếu tố tác động đến loài Sơn dương tại Vườn quốc gia Cát Bà:
| Khu vực nghiên cứu |
Tuyến điều tra |
Số cá thể ước lượng |
Tổng số cá thể |
Cơ sở xác định |
| Trà Báu (xã Việt Hải) |
Tuyến 4 Tuyến 5 Tuyến 7 |
1 1 1 |
3 cá thể |
Kích thước, độ tuổi dấu vết phân; vị trí tọa độ không gian; tập tính sống đơn lãnh thổ |
| Vạn Tà (xã Việt Hải) |
Tuyến 8 Tuyến 10 |
1 2 |
3 cá thể |
|
| Xã Gia Luận |
Tuyến 12 Tuyến 13 Tuyến 14 |
1 2 2 |
5 cá thể |
|
| Toàn bộ khu vực |
15 tuyến |
11 cá thể |
11 cá thể |
86 dấu vết tại 57 điểm ghi nhận |
Số liệu phân bố dấu vết của Sơn dương theo đai cao và sinh cảnh thực địa:
| Đai cao / Dạng sinh cảnh |
Số lượng dấu vết |
Tỷ lệ phần trăm |
Đặc tính sinh thái phản ánh |
| Phân bố theo đai cao |
|
|
|
| Đai cao 1m - 100m |
37 |
43% |
Hoạt động kiếm ăn gần chân núi, kiếm chồi non |
| Đai cao 101m - 200m |
46 |
53% |
Khu vực sườn/đỉnh an toàn, nhiều hang hốc, xa nương rẫy |
| Đai cao 201m - 300m |
3 |
4% |
Địa hình cheo leo, thiếu thức ăn và điều kiện trú ẩn |
| Phân bố theo sinh cảnh |
|
|
|
| Rừng thứ sinh nghèo thường xanh núi đá vôi |
45 |
52% |
Cấu trúc 4 tầng tán, thảm tươi và cây bụi phong phú |
| Cây bụi, cây tái sinh trên núi đá vôi |
28 |
33% |
Tầng che phủ trung bình (~30%), khả năng ẩn náu hạn chế |
| Núi đá trọc |
13 |
15% |
Đất trơ sỏi đá, nghèo nàn nguồn thức ăn |
Bảng phân cấp mức độ đe dọa trực tiếp tới quần thể Sơn dương:
| Hoạt động đe dọa trực tiếp |
Phạm vi (max 10) |
Cường độ (max 10) |
Tính khẩn cấp (max 10) |
Tổng điểm |
Xếp hạng đe dọa |
| Săn bắt, đánh bẫy |
7 |
7 |
6 |
20 |
Hạng I |
| Khai thác gỗ, củi |
6 |
5 |
5 |
16 |
Hạng II |
| Khai thác lâm sản ngoài gỗ |
5 |
3 |
4 |
12 |
Hạng III |
| Cháy rừng |
3 |
3 |
4 |
10 |
Hạng IV |
| Ô nhiễm môi trường |
4 |
2 |
3 |
9 |
Hạng V |
| Chuyển đổi đất rừng sang nông nghiệp |
3 |
2 |
2 |
7 |
Hạng VI |
| Khai thác đá |
2 |
1 |
2 |
5 |
Hạng VII |
Thống kê lượng củi khai thác tại vùng lõi và vùng đệm VQG Cát Bà (nguồn dẫn Đặng Quang Thuyên, 2006 được tác giả sử dụng): Toàn huyện tiêu thụ 2.220 ster/năm (400 ster trong VQG, 1.820 ster ngoài VQG). Trong đó: Thị trấn Cát Bà tiêu thụ 600 ster, xã Trân Châu 470 ster, xã Phù Long 450 ster, xã Gia Luận 230 ster (40 ster trong VQG, 190 ster ngoài VQG), xã Xuân Đám 210 ster, xã Hiền Hào 150 ster và xã Việt Hải 110 ster.
Đóng góp mới của khóa luận:
- Cung cấp dẫn liệu thực địa đầu tiên mang tính hệ thống về số lượng cá thể tối thiểu (11 cá thể) và tọa độ phân bố chính xác của loài Sơn dương tại Cát Bà, thay thế cho các thông tin ước lượng cảm tính trước đó.
- Ứng dụng GIS chồng xếp bản đồ đai cao và hiện trạng rừng để khoanh vùng chính xác 3 khu vực ưu tiên bảo tồn (Trà Báu, Vạn Tà, Gia Luận).
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn bảo tồn loài với cộng đồng địa phương: thiết lập trạm bảo vệ liên kết hành lang giữa Vạn Tà và Trà Báu (bảo vệ 6 cá thể); đặt bẫy ảnh tại các eo địa hình hiểm trở; xúc tiến tái sinh tự nhiên tại các khoảnh rừng nghèo; giao khoán rừng kết hợp hỗ trợ người dân kỹ thuật nuôi ong, chăn nuôi gia súc có kiểm soát, vận động dùng bếp ga và trồng cây thuốc bản địa (Bồ béo, Dây thuốc máu, Đơn thắng, Đơn xương, Kim ngân) tại vườn nhà để giảm áp lực vào rừng tự nhiên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:
- Nhóm nghiên cứu không quan sát trực tiếp được cá thể sống ngoài tự nhiên mà phải dựa hoàn toàn vào việc nhận dạng và đếm dấu vết gián tiếp (phân, vết cà sừng, bãi nằm). Do đó, cấu trúc tuổi và tỷ lệ đực/cái của quần thể chưa thể xác định chính xác.
- Thời gian khảo sát thực địa có hạn; từ đầu tháng 3 đến ngày 23/03/2009 không ghi nhận được dấu vết mới của loài trên các tuyến điều tra, các dữ liệu thu được phản ánh thực trạng từ tháng 02/2009 trở về trước.
- Dữ liệu nghiên cứu mới bao quát được 3 khu vực trọng điểm (Trà Báu, Vạn Tà, Gia Luận), chưa thể mở rộng ra toàn bộ các dãy núi đá vôi khác thuộc huyện đảo Cát Hải.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở:
- Lắp đặt hệ thống bẫy ảnh tự động (camera-trap) tại các lối đi độc đạo, khe yên ngựa và gần hang ngủ để kiểm chứng số lượng cá thể, xác định chu kỳ hoạt động ngày - đêm và cấu trúc đàn.
- Mở rộng phạm vi điều tra sang các xã lân cận và tiến hành các nghiên cứu sâu hơn về đa dạng di truyền để đánh giá nguy cơ thoái hóa cận huyết của quần thể Sơn dương cô lập trên đảo.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Lâm học, Bảo tồn đa dạng sinh học và Động vật học.
- Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Bà, Hạt Kiểm lâm huyện Cát Hải và chính quyền các xã vùng đệm trong việc xây dựng phương án tuần tra, quản lý phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt và lập kế hoạch bảo tồn các loài thú móng guốc nguy cấp.
- Phần đáng tham khảo nhất trong khóa luận là quy trình tích hợp phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) với công nghệ GIS MapInfo để phân cấp thứ tự ưu tiên các mối đe dọa sinh cảnh, cùng hệ thống bảng biểu ghi chép dấu vết gián tiếp của động vật rừng trên địa hình núi đá vôi karst.
Câu hỏi thường gặp
1. Nghiên cứu đã xác định được bao nhiêu cá thể Sơn dương còn lại tại khu vực khảo sát trên đảo Cát Bà?
Dựa trên phân tích 86 dấu vết (vết phân, vết cọ xát, vết ăn, bãi nằm) tại 57 điểm ghi nhận trên 15 tuyến điều tra, tác giả ước lượng có ít nhất 11 cá thể Sơn dương còn sinh sống tại 3 khu vực nghiên cứu, bao gồm: khu vực trạm Trà Báu (3 cá thể), khu vực trạm Vạn Tà (3 cá thể) và khu vực xã Gia Luận (5 cá thể).
2. Tại sao Sơn dương tại Cát Bà lại tập trung hoạt động nhiều nhất ở đai cao từ 101m đến 200m?
Đai cao từ 101m đến 200m chiếm tới 53% tổng số dấu vết ghi nhận. Đây là khu vực sườn núi và gần đỉnh núi đá vôi, có vị trí cách xa các thung, áng canh tác của con người nên đảm bảo an toàn. Khu vực này sở hữu hệ thực vật tầng cây bụi phong phú, nhiều hang hốc tự nhiên thích hợp cho tập tính ngủ nghỉ, nhai lại thức ăn và che chắn trước các biến động thời tiết khắc nghiệt.
3. Phương thức săn bắt Sơn dương trái phép của người dân trên đảo có đặc điểm gì nổi bật?
Trước đây, thợ săn thường dùng súng thể thao bắn trực tiếp hoặc dùng bẫy làm từ dây cây rừng vào mùa khô. Tại thời điểm nghiên cứu, do số lượng cá thể còn rất ít nên thợ săn chuyển sang dùng bẫy cần giật và bẫy vương làm bằng dây nilon, dây cáp hoặc dây thừng bền chắc, đặt tại các lối đi độc đạo hoặc khu vực yên ngựa. Việc dùng dây nhân tạo cho phép hoạt động đánh bẫy diễn ra quanh năm mà không bị mục nát vào mùa mưa, gây đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn vong của loài (riêng hai năm 2006 - 2007 ghi nhận 7 cá thể bị bẫy bắt).
4. Dạng sinh cảnh nào đóng vai trò quan trọng nhất đối với nguồn thức ăn của Sơn dương tại Cát Bà?
Sinh cảnh rừng thứ sinh nghèo thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi là sinh cảnh sống thích hợp nhất, chiếm 52% số dấu vết ghi nhận. Dạng sinh cảnh này có cấu trúc 4 tầng tán, trong đó tầng cây bụi dưới 5m và tầng thảm tươi phát triển mạnh mẽ dưới bóng râm của các loài cây ưu thế (Nghiến, Trai, Teo lông), cung cấp nguồn thức ăn chiếm từ 80 - 85% khẩu phần hàng ngày của loài (cây bụi, chồi non, cây tái sinh, quả rừng, rêu và địa y).
5. Tác giả đề xuất những giải pháp giảm áp lực sinh kế nào cho cộng đồng dân cư xã Gia Luận?
Tác giả đề xuất kết hợp tuyên truyền pháp luật bảo vệ rừng với các gói hỗ trợ kỹ thuật và vốn nhằm phát triển nghề nuôi ong lấy mật và chăn nuôi gia súc có chuồng trại; khuyến khích người dân tự nhân giống, trồng các loài cây thuốc hay bị khai thác (Bồ béo, Dây thuốc máu, Đơn thắng, Đơn xương, Kim ngân) tại vườn nhà hoặc bờ rào; đồng thời thực hiện giao khoán rừng, vận động người dân thay thế chất đốt đun nấu từ củi rừng sang bếp gas và sử dụng vật liệu nhôm kính thay cho gỗ tự nhiên.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Võ Anh Đức đã phản ánh chân thực thực trạng báo động về quần thể Sơn dương (Capricornis sumatraensis) chỉ còn ít nhất 11 cá thể tại Vườn quốc gia Cát Bà vào năm 2009. Bằng việc kết hợp điều tra tuyến thực địa, phân tích dấu vết gián tiếp và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), nghiên cứu đã làm rõ tập tính phân bố không gian theo đai cao và sinh cảnh của loài, đồng thời lượng hóa mức độ nguy hại của nạn bẫy bắt và phá hủy môi trường sống. Các giải pháp bảo tồn được xây dựng mang tính khả thi cao khi gắn kết chặt chẽ giữa việc ứng dụng kỹ thuật lâm sinh, khoanh vùng bảo vệ ưu tiên bằng công nghệ GIS với việc cải thiện sinh kế và nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng dân cư bản địa.