Nghiên Cứu Về Hiện Trạng Buôn Bán Động Vật Hoang Dã Tại Khu Vực Nội Thành Hà Nội

Luận văn thạc sĩ phân tích bước đầu nghiên cứu về hiện trạng buôn bán động vật hoang dã tại khu vực nội thành hà nội, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Môi Trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2012

122
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiện trạng buôn bán động vật hoang dã tại Hà Nội

Buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD) tại Hà Nội đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ ĐVHD không ngừng gia tăng, đặc biệt trong các khu vực nội thành. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học mà còn đe dọa đến sự tồn tại của nhiều loài động vật quý hiếm. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Trang (2012), tình hình buôn bán ĐVHD tại Hà Nội đang diễn ra phức tạp và cần có những biện pháp quản lý hiệu quả.

1.1. Đặc điểm và quy mô buôn bán động vật hoang dã

Buôn bán ĐVHD tại Hà Nội chủ yếu diễn ra ở các chợ truyền thống và qua mạng xã hội. Các loài động vật như rắn, kỳ đà, và nhiều loại chim quý hiếm thường xuyên được bày bán. Nghiên cứu cho thấy, nhiều người dân vẫn chưa nhận thức rõ về tác hại của việc tiêu thụ ĐVHD.

1.2. Tác động của buôn bán động vật hoang dã đến môi trường

Việc buôn bán ĐVHD không chỉ gây ra sự suy giảm quần thể động vật mà còn làm mất cân bằng sinh thái. Nhiều loài động vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do bị khai thác quá mức. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và sự phát triển bền vững của Hà Nội.

II. Vấn đề và thách thức trong quản lý buôn bán động vật hoang dã

Quản lý buôn bán ĐVHD tại Hà Nội gặp nhiều thách thức. Các quy định pháp luật hiện hành chưa đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng buôn bán trái phép. Hơn nữa, sự thiếu hiểu biết của người dân về pháp luật liên quan đến bảo vệ ĐVHD cũng là một vấn đề lớn. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, việc thực thi các chính sách bảo vệ ĐVHD còn nhiều bất cập.

2.1. Những khó khăn trong việc thực thi pháp luật

Nhiều quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD chưa được thực thi nghiêm túc. Các cơ quan chức năng gặp khó khăn trong việc kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm. Điều này dẫn đến tình trạng buôn bán ĐVHD diễn ra công khai và phổ biến.

2.2. Nhận thức của người dân về buôn bán động vật hoang dã

Nhiều người dân vẫn chưa nhận thức được tác hại của việc tiêu thụ ĐVHD. Họ thường cho rằng việc sử dụng các sản phẩm từ ĐVHD là bình thường và không gây hại. Cần có các chương trình giáo dục để nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề này.

III. Phương pháp nghiên cứu hiện trạng buôn bán động vật hoang dã

Nghiên cứu hiện trạng buôn bán ĐVHD tại Hà Nội được thực hiện thông qua nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp điều tra thực địa và phỏng vấn là hai phương pháp chính được sử dụng để thu thập dữ liệu. Các thông tin thu thập được sẽ giúp đánh giá chính xác tình hình buôn bán ĐVHD tại khu vực này.

3.1. Phương pháp điều tra thực địa

Phương pháp này bao gồm việc khảo sát các chợ và khu vực buôn bán ĐVHD. Các nhà nghiên cứu sẽ ghi nhận các loại động vật được bày bán, giá cả và các hình thức buôn bán. Điều này giúp có cái nhìn tổng quan về quy mô và đặc điểm của thị trường ĐVHD.

3.2. Phỏng vấn người tiêu dùng và người bán

Phỏng vấn là một phương pháp quan trọng để thu thập thông tin về nhận thức và thái độ của người dân đối với việc tiêu thụ ĐVHD. Qua đó, có thể hiểu rõ hơn về động cơ và lý do khiến họ tham gia vào hoạt động này.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình buôn bán ĐVHD tại Hà Nội đang diễn ra phức tạp và cần có những biện pháp can thiệp kịp thời. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc nâng cao nhận thức của người dân và tăng cường thực thi pháp luật là rất cần thiết. Các giải pháp đề xuất sẽ giúp cải thiện tình hình bảo tồn ĐVHD tại Hà Nội.

4.1. Đánh giá hiện trạng buôn bán động vật hoang dã

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nhiều loài động vật hoang dã đang bị khai thác quá mức. Các chợ truyền thống và mạng xã hội là những nơi chính diễn ra hoạt động buôn bán này. Cần có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn.

4.2. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý

Cần tăng cường giáo dục cộng đồng về bảo vệ ĐVHD và thực thi nghiêm các quy định pháp luật. Các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ để ngăn chặn tình trạng buôn bán trái phép.

V. Kết luận và tương lai của buôn bán động vật hoang dã tại Hà Nội

Tình hình buôn bán ĐVHD tại Hà Nội đang ở mức báo động. Nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời, nhiều loài động vật sẽ đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Cần có sự chung tay của cả cộng đồng và các cơ quan chức năng để bảo vệ ĐVHD và duy trì sự đa dạng sinh học.

5.1. Tương lai của động vật hoang dã tại Hà Nội

Nếu không có sự can thiệp kịp thời, nhiều loài động vật hoang dã sẽ bị đe dọa. Cần có các chính sách bảo vệ hiệu quả hơn để đảm bảo sự tồn tại của chúng.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn động vật hoang dã

Cộng đồng cần nâng cao nhận thức và tham gia tích cực vào các hoạt động bảo tồn ĐVHD. Sự hợp tác giữa các tổ chức và cá nhân sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo vệ động vật hoang dã.

30/06/2025
Luận văn thạc sĩ bước đầu nghiên cứu về hiện trạng buôn bán động vật hoang dã tại khu vực nội thành hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Chƣơng I. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các công ƣớc liên quan đến bảo tồn động vật hoang dã 1. Hiện trạng buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD) Chƣơng II.

Địa điểm, thời gian và phƣơng pháp nghiên cứu 2. Địa điểm nghiên cứu 2. Thời gian nghiên cứu 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng III.

Kết quả nghiên cứu Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 3 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CƢ́U 1. Các khái niệm Động, thực vật hoang dã: là loài đô ̣ng vâ ̣t , thƣ̣c vâ ̣t, vi sinh vâ ̣t và nấm sinh sống và phát triển theo quy luâ ̣t. (Theo Luật đa dạng sinh học của Quốc hội khóa XII, kỳ thứ tƣ, số 20/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008) Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm: Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trƣờng, số lƣợng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng thuộc Danh mục các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ quy định chế độ quản lý, bảo vệ. Hoặc: Loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ là loài hoang dã, giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trƣờng hoặc văn hóa - lịch sử mà số lƣợng còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng.

(Theo Luật đa dạng sinh học của Quốc hội khóa XII, kỳ thứ tƣ, số 20/2008/QH12 QUA ngày 13 tháng 11 năm 2008) Hoặc: Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm: là loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trƣờng, số lƣợng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng, thuộc danh mục các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đƣợc sắp xếp thành hai nhóm theo tính chất và mức độ quý, hiếm của chúng: Nhóm I: Gồm những loại thực vật (IA) và những loại động vật (IB) đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lƣợng, trữ lƣợng rất ít hoặc đang có nguy cơ bị diệt chủng. Nhóm II: Gồm những loại thực vật (IIA) và những loài động vật (IIB) có giá trị kinh tế cao đang bị khai thác quá mức, dẫn đến cạn kiệt và có nguy cơ diệt chủng. (Theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/3/2006) Buôn bán động, thực vật hoang dã: Là việc mua, bán, trao đổi với mục đích thƣơng mại tài nguyên động vật, thực vật hoang dã. 4 Sử dụng động, thực vật hoang dã: Là việc dùng động thực vật hoang dã và/hoặc các sản phẩm của chúng vào các mục đích nhƣ: ẩm thực, thuốc chữa bệnh và đồ dùng.

Về cơ sở pháp lý 1. Các văn bản trong nước Với việc thông qua “Kế hoạch Hành động Quốc gia về Tăng cƣờng Kiểm soát Buôn bán Động, thực vật hoang dã đến năm 2010” và ban hành “Nghị định số 18/1992/HĐBT-CP (đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2002 bằng Nghị định 48/2002/NĐ- CP; và đƣợc sửa đổi bổ sung tiếp vào năm 2006 bằng Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về động, thực vật rừng và Nghị định số 59/2006/NĐ-CP về các loài động vật, thực vật biển) để bảo vệ các loài nguy cấp khỏi bị khai thác và kinh doanh, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện sự nỗ lực kiểm soát hoạt động buôn bán trái phép động vật trong phạm vi biên giới của mình. Sau đây là một số Luật, Nghị định, Quyết định về việc khai thác, buôn bán ĐVHD một cách bền vững:  Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng (1991) – Lệnh 58-LCT/HĐNN 19/8/1991. Động vật rừng đã đƣợc quy định là một thành phần của rừng.

Trong luật cũng quy định rõ: “Việc khai thác các loài thực vật rừng, săn bắn động vật rừng phải tuân theo quy định của nhà nước về quản lý, bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng. Những loại động vật rừng, thực vật rừng quý hiếm phải được quản lý theo chế độ đặc biệt. Danh mục và chế độ quản lý bảo vệ các loài động vật rừng, thực vật rừng quý hiếm do Hội đồng Bộ trưởng quy định (Điều 19). Trong Điều 25 cũng quy định rõ việc xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng phải được Bộ Lâm nghiệp cho phép.

Việc nhập nội giống thực vật rừng, động vật rừng phải đảm bảo những nguyên tắc sinh học và những quy định về kiểm dịch quốc gia, không hại đến hệ sinh thái và phải được Bộ Lâm nghiệp cho phép”.  Luật Đa dạng sinh học (2008) – Điều 44 quy định: “Việc khai thác có điều kiện loài hoang dã trong tự nhiên được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về thuỷ sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể việc bảo vệ loài hoang dã bị cấm khai thác 5 trong tự nhiên và việc khai thác loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên; định kỳ công bố Danh mục loài hoang dã bị cấm khai thác trong tự nhiên và Danh mục loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên”.  Nghị định số 39/CP cấp ngày 5/4/1963 ban hành “Điều lệ tạm thời về săn bắt chim, thú rừng”.

Bản điều lệ quy định cấm săn bắt 20 loài chim, thú; hạn chế săn bắt 4 loài thú; quy định các phƣơng tiện cấm sử dụng để săn bắt ở các khu bảo vệ thiên nhiên, những khu lƣu trữ chim, thú rừng và những nơi nuôi thú rừng. Từ quy định này, Tổng cục Lâm nghiệp đã tiến hành khảo sát, xây dựng một số khu rừng bảo vệ chim, thú. Các khu rừng cấm này đã trở thành xƣơng sống của hệ thống rừng đặc dụng sau này của Việt Nam.  Nghị định 18-HĐBT ngày 17/1/1992 đƣợc Hội đồng Bộ trƣởng ban hành, nhằm thực hiện Điều 19 của Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng năm 1991.

Nghị định này quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ. Nghị định ban hành danh mục các loài động, thực vật rừng thuộc 2 nhóm (nhóm I và nhóm II). Đây là nghị định quan trọng nhất và có ảnh hƣởng lớn nhất đến hoạt động khai thác, buôn bán và sử dụng các loài ĐTVHD ở Việt Nam. Đây cũng là nghị định đầu tiên có định nghĩa và danh mục cụ thể các loài quý, hiếm cũng nhƣ cơ chế quản lý hoạt động khai thác, buôn bán chúng.

 Nghị định 11/199/NĐ-CP ngày 3/3/1999 của Chính phủ về hàng hóa cấm lƣu thông, dịch vụ thƣơng mại cấm thực hiện; hàng hóa, dịch vụ thƣơng mại hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện.  Nghị định 11/2002/NĐ-CP ngày 22/1/2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành theo Nghị định 18/HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trƣởng quy định danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ.  Nghị định số 48/2002/NĐ-CP ngày 22/04/2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành theo Nghị định số 18/HĐBT ngày 17 tháng 01 năm 1992 của Hội đồng Bộ trƣởng quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ. 6  Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/3/2006 về quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm.

Nghị định 32/2006/NĐ-CP đƣợc ban hành nhằm thay thế hoàn toàn hai nghị định 18-HĐBT và 48/2002/NĐ-CP. Nghị định này cũng có những định nghĩa và khái niệm hoàn thiện hơn về động, thực vật hoang dã, hoạt động gây nuôi, đặc biệt là không bao gồm các loài thuộc chuyên ngành thủy sản.  Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10/8/2006 của cơ quan quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trƣởng và trồng cấy nhân tạo các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Đây là một văn bản nhằm cụ thể hóa việc thực thi CITES.

Trong nghị định này nêu tƣơng đối đầy đủ quy định về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trƣởng, trồng cấy nhân tạo các loài động, thực vật (kể cả loài lai) hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Nghị định kèm theo 5 phụ biểu là các mẫu đề nghị cấp giấy phép, chứng chỉ cũng nhƣ hồ sơ đăng ký cơ sở trồng cấy nhân tạo thực vật hoang dã và đăng ký các trại nuôi sinh sản động vật hoang dã quý hiếm và động, thực vật hoang dã thông thƣờng.  Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 về việc sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ và quản lý lâm sản. Đây là văn bản đầy đủ nhất về nguyên tắc xử phạt, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, đơn vị tính để xác định thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính gây ra.

 Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng ngày 11/9/1972, điều 9 quy định: “Việc săn bắt chim muông, thú rừng với bất kỳ mục đính gì phải tuân theo luật lệ của Nhà nước về săn bắt chim muông, thú rừng và phải được cơ quan lâm nghiệp từ cấp tỉnh trở lên cho phép”, “Hội đồng Chính phủ quy định những loài thực vật, động vật quý và hiếm trong rừng cần phải bảo vệ và có chế độ bảo vệ các loài đó”.  Quyết định 276-QĐ ngày 2/6/1989 của Bộ Lâm nghiệp quy định việc quản lý, bảo vệ và xuất nhập khẩu động vật rừng. Nghiêm cấm săn bắt và xuất khẩu 30 loài thú, 6 loài chim và 2 loài bò sát. Bộ Lâm nghiệp quản lý thống nhất việc xuất khẩu động vật rừng trong cả nƣớc.

Khuyến khích việc thành lập các trại nhân giống phục vụ xuất khẩu. Việc ban hành quyết định này nhằm mục đích quản lý, bảo vệ, 7 phát triển, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi động vật rừng, nhất là các loài quý hiếm, đặc hữu của Việt Nam và cũng để ngăn chặn có hiệu quả việc săn bắt tùy tiện, hủy diệt; việc khai thác bừa bãi, thiếu kế hoạch, phục vụ xuất khẩu, dẫn đến việc nguồn lợi động vật rừng bị cạn kiệt một cách nhanh chóng.  Quyết định số 07/2007/QĐ-BNN của Bộ trƣởng Bộ NN và PTNT ngày 23/1/2007 về việc thành lập cơ quan quản lý Công ƣớc về Buôn bán Quốc tế Các loài Động vật, Thực vật Hoang dã Nguy cấp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hiện Trạng Buôn Bán Động Vật Hoang Dã Tại Nội Thành Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình buôn bán động vật hoang dã trong khu vực nội thành Hà Nội. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ các hình thức buôn bán mà còn phân tích nguyên nhân và hậu quả của hoạt động này đối với hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng và các biện pháp bảo tồn cần thiết để ngăn chặn tình trạng này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến bảo tồn động vật hoang dã, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ thành phần loài thú và ảnh hưởng của cộng đồng dân cư đối với công tác bảo tồn các loài thú khu bảo tồn thiên nhiên bắc hướng hóa tỉnh quảng trị, nơi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của cộng đồng đến bảo tồn động vật.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ đánh giá nhận thức và cơ hội tham gia giáo dục bảo tồn của người dân sống tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh vọoc mũi hếch khau ca hà giang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của giáo dục trong việc bảo tồn động vật hoang dã.

Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm huyện thuận châu tỉnh sơn la, tài liệu này đề xuất các giải pháp bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng, một yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ động vật hoang dã.

Những tài liệu này không chỉ cung cấp thông tin bổ ích mà còn mở ra cơ hội cho bạn khám phá sâu hơn về các vấn đề bảo tồn động vật hoang dã.