Mở đầu Chƣơng I. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các công ƣớc liên quan đến bảo tồn động vật hoang dã 1. Hiện trạng buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD) Chƣơng II.
Địa điểm, thời gian và phƣơng pháp nghiên cứu 2. Địa điểm nghiên cứu 2. Thời gian nghiên cứu 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng III.
Kết quả nghiên cứu Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 3 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CƢ́U 1. Các khái niệm Động, thực vật hoang dã: là loài đô ̣ng vâ ̣t , thƣ̣c vâ ̣t, vi sinh vâ ̣t và nấm sinh sống và phát triển theo quy luâ ̣t. (Theo Luật đa dạng sinh học của Quốc hội khóa XII, kỳ thứ tƣ, số 20/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008) Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm: Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trƣờng, số lƣợng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng thuộc Danh mục các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ quy định chế độ quản lý, bảo vệ. Hoặc: Loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ là loài hoang dã, giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trƣờng hoặc văn hóa - lịch sử mà số lƣợng còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng.
(Theo Luật đa dạng sinh học của Quốc hội khóa XII, kỳ thứ tƣ, số 20/2008/QH12 QUA ngày 13 tháng 11 năm 2008) Hoặc: Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm: là loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trƣờng, số lƣợng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng, thuộc danh mục các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đƣợc sắp xếp thành hai nhóm theo tính chất và mức độ quý, hiếm của chúng: Nhóm I: Gồm những loại thực vật (IA) và những loại động vật (IB) đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có số lƣợng, trữ lƣợng rất ít hoặc đang có nguy cơ bị diệt chủng. Nhóm II: Gồm những loại thực vật (IIA) và những loài động vật (IIB) có giá trị kinh tế cao đang bị khai thác quá mức, dẫn đến cạn kiệt và có nguy cơ diệt chủng. (Theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/3/2006) Buôn bán động, thực vật hoang dã: Là việc mua, bán, trao đổi với mục đích thƣơng mại tài nguyên động vật, thực vật hoang dã. 4 Sử dụng động, thực vật hoang dã: Là việc dùng động thực vật hoang dã và/hoặc các sản phẩm của chúng vào các mục đích nhƣ: ẩm thực, thuốc chữa bệnh và đồ dùng.
Về cơ sở pháp lý 1. Các văn bản trong nước Với việc thông qua “Kế hoạch Hành động Quốc gia về Tăng cƣờng Kiểm soát Buôn bán Động, thực vật hoang dã đến năm 2010” và ban hành “Nghị định số 18/1992/HĐBT-CP (đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2002 bằng Nghị định 48/2002/NĐ- CP; và đƣợc sửa đổi bổ sung tiếp vào năm 2006 bằng Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về động, thực vật rừng và Nghị định số 59/2006/NĐ-CP về các loài động vật, thực vật biển) để bảo vệ các loài nguy cấp khỏi bị khai thác và kinh doanh, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện sự nỗ lực kiểm soát hoạt động buôn bán trái phép động vật trong phạm vi biên giới của mình. Sau đây là một số Luật, Nghị định, Quyết định về việc khai thác, buôn bán ĐVHD một cách bền vững: Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng (1991) – Lệnh 58-LCT/HĐNN 19/8/1991. Động vật rừng đã đƣợc quy định là một thành phần của rừng.
Trong luật cũng quy định rõ: “Việc khai thác các loài thực vật rừng, săn bắn động vật rừng phải tuân theo quy định của nhà nước về quản lý, bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng. Những loại động vật rừng, thực vật rừng quý hiếm phải được quản lý theo chế độ đặc biệt. Danh mục và chế độ quản lý bảo vệ các loài động vật rừng, thực vật rừng quý hiếm do Hội đồng Bộ trưởng quy định (Điều 19). Trong Điều 25 cũng quy định rõ việc xuất nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng phải được Bộ Lâm nghiệp cho phép.
Việc nhập nội giống thực vật rừng, động vật rừng phải đảm bảo những nguyên tắc sinh học và những quy định về kiểm dịch quốc gia, không hại đến hệ sinh thái và phải được Bộ Lâm nghiệp cho phép”. Luật Đa dạng sinh học (2008) – Điều 44 quy định: “Việc khai thác có điều kiện loài hoang dã trong tự nhiên được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về thuỷ sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể việc bảo vệ loài hoang dã bị cấm khai thác 5 trong tự nhiên và việc khai thác loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên; định kỳ công bố Danh mục loài hoang dã bị cấm khai thác trong tự nhiên và Danh mục loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên”. Nghị định số 39/CP cấp ngày 5/4/1963 ban hành “Điều lệ tạm thời về săn bắt chim, thú rừng”.
Bản điều lệ quy định cấm săn bắt 20 loài chim, thú; hạn chế săn bắt 4 loài thú; quy định các phƣơng tiện cấm sử dụng để săn bắt ở các khu bảo vệ thiên nhiên, những khu lƣu trữ chim, thú rừng và những nơi nuôi thú rừng. Từ quy định này, Tổng cục Lâm nghiệp đã tiến hành khảo sát, xây dựng một số khu rừng bảo vệ chim, thú. Các khu rừng cấm này đã trở thành xƣơng sống của hệ thống rừng đặc dụng sau này của Việt Nam. Nghị định 18-HĐBT ngày 17/1/1992 đƣợc Hội đồng Bộ trƣởng ban hành, nhằm thực hiện Điều 19 của Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng năm 1991.
Nghị định này quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ. Nghị định ban hành danh mục các loài động, thực vật rừng thuộc 2 nhóm (nhóm I và nhóm II). Đây là nghị định quan trọng nhất và có ảnh hƣởng lớn nhất đến hoạt động khai thác, buôn bán và sử dụng các loài ĐTVHD ở Việt Nam. Đây cũng là nghị định đầu tiên có định nghĩa và danh mục cụ thể các loài quý, hiếm cũng nhƣ cơ chế quản lý hoạt động khai thác, buôn bán chúng.
Nghị định 11/199/NĐ-CP ngày 3/3/1999 của Chính phủ về hàng hóa cấm lƣu thông, dịch vụ thƣơng mại cấm thực hiện; hàng hóa, dịch vụ thƣơng mại hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện. Nghị định 11/2002/NĐ-CP ngày 22/1/2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành theo Nghị định 18/HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trƣởng quy định danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ. Nghị định số 48/2002/NĐ-CP ngày 22/04/2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành theo Nghị định số 18/HĐBT ngày 17 tháng 01 năm 1992 của Hội đồng Bộ trƣởng quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ. 6 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/3/2006 về quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm.
Nghị định 32/2006/NĐ-CP đƣợc ban hành nhằm thay thế hoàn toàn hai nghị định 18-HĐBT và 48/2002/NĐ-CP. Nghị định này cũng có những định nghĩa và khái niệm hoàn thiện hơn về động, thực vật hoang dã, hoạt động gây nuôi, đặc biệt là không bao gồm các loài thuộc chuyên ngành thủy sản. Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10/8/2006 của cơ quan quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trƣởng và trồng cấy nhân tạo các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Đây là một văn bản nhằm cụ thể hóa việc thực thi CITES.
Trong nghị định này nêu tƣơng đối đầy đủ quy định về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trƣởng, trồng cấy nhân tạo các loài động, thực vật (kể cả loài lai) hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Nghị định kèm theo 5 phụ biểu là các mẫu đề nghị cấp giấy phép, chứng chỉ cũng nhƣ hồ sơ đăng ký cơ sở trồng cấy nhân tạo thực vật hoang dã và đăng ký các trại nuôi sinh sản động vật hoang dã quý hiếm và động, thực vật hoang dã thông thƣờng. Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 về việc sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ và quản lý lâm sản. Đây là văn bản đầy đủ nhất về nguyên tắc xử phạt, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, đơn vị tính để xác định thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính gây ra.
Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng ngày 11/9/1972, điều 9 quy định: “Việc săn bắt chim muông, thú rừng với bất kỳ mục đính gì phải tuân theo luật lệ của Nhà nước về săn bắt chim muông, thú rừng và phải được cơ quan lâm nghiệp từ cấp tỉnh trở lên cho phép”, “Hội đồng Chính phủ quy định những loài thực vật, động vật quý và hiếm trong rừng cần phải bảo vệ và có chế độ bảo vệ các loài đó”. Quyết định 276-QĐ ngày 2/6/1989 của Bộ Lâm nghiệp quy định việc quản lý, bảo vệ và xuất nhập khẩu động vật rừng. Nghiêm cấm săn bắt và xuất khẩu 30 loài thú, 6 loài chim và 2 loài bò sát. Bộ Lâm nghiệp quản lý thống nhất việc xuất khẩu động vật rừng trong cả nƣớc.
Khuyến khích việc thành lập các trại nhân giống phục vụ xuất khẩu. Việc ban hành quyết định này nhằm mục đích quản lý, bảo vệ, 7 phát triển, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi động vật rừng, nhất là các loài quý hiếm, đặc hữu của Việt Nam và cũng để ngăn chặn có hiệu quả việc săn bắt tùy tiện, hủy diệt; việc khai thác bừa bãi, thiếu kế hoạch, phục vụ xuất khẩu, dẫn đến việc nguồn lợi động vật rừng bị cạn kiệt một cách nhanh chóng. Quyết định số 07/2007/QĐ-BNN của Bộ trƣởng Bộ NN và PTNT ngày 23/1/2007 về việc thành lập cơ quan quản lý Công ƣớc về Buôn bán Quốc tế Các loài Động vật, Thực vật Hoang dã Nguy cấp.