Chương 1 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÚ Ở BẮC VIỆT NAM VÀ QUẢNG TRỊ 1. Sơ lược tình hình nghiên cứu thú ở Bắc Việt Nam Ở nước ta, từ lâu đời thú đã được nhân dân ta sử dụng làm thực phẩm, dược liệu, xuất khẩu., chính vì vậy mà các công trình nghiên cứu về thú ở nước ta bắt đầu khá sớm. Trong khoảng thời gian từ năm 1724 – 1784, Lê Quý Đôn đã viết các cuốn sách “ Vân đài loại ngữ” và “Phủ biên tạp lục”, trong đó ông thống kê nguồn lợi động vật của một số địa phương. Tiếp theo đó là nhiều công trình khác như “Đại nam nhất thống chí” của nhà bác học triều Nguyễn (1874) thống kê các loài thú phổ biến ở nhiều tỉnh trong cả nước.
Brousmiches (1887) đã ghi nhận nhiều loài thú ăn thịt như Cáo - Vulpes vulpes, Rái cá thường - Lutra lutra, Mèo rừng - Prionailurus bengalensis, Hổ - Panthera tigris, Báo hoa mai - Panthera pardus, trong tài liệu "Nhìn chung về lịch sử tự nhiên của Bắc bộ”. Heude (1894), ghi nhận loài Sơn dương - Capricornis maritimus phân bố ở miền bắc Việt Nam. Billet (1896), các mô tả loài Hươu sao - Cervus nippon, Thỏ rừng - Lepus sinensis và tê tê - Manis pentadactyla thu được ở tỉnh Cao Bằng. Pousargues (1898), ghi nhận loài Voọc đen - Pithecus francoisi có ở vùng biên giới phía Bắc và Trung bộ.
Ménégaux (1906) mô tả thêm 2 loài thú ăn thịt mới: Chồn bạc má bắc - Melogale moschata và loài Cầy hương - Viverricula indica. Boutan (1906) trong sách "Mười năm nghiên cứu động vật" đã ghi nhận thêm 2 loài thú ăn thịt mới: Cầy móc cua - Herpestes urva, Rái cá vuốt bé - c 6 Aonyx cinerea, các loài thú móng guốc và khỉ hầu, Hươu sao - Cervus nippon, Hươu xạ - Moschus berezovskii, Nai - Cervus unicolor, Lợn rừng - Sus scrofa, Hoẵng - Muntiacus muntjak, Khỉ vàng - Macaca mulatta, Khỉ đuôi lợn - M. nemestrina, Khỉ mốc - M. assamensis, Thỏ rừng - Lepus nigricolis cũng được ghi nhận.
Osgood (1932) đã tổng hợp nhiều tài liệu về thú do các đoàn nghiên cứu thú Đông Nam Á Kelley -Roosevelts và của Delacour, Stevens, đã ghi nhận 172 loài và phân loài thú ở Việt Nam. Đây là một công trình khoa học tạo nên bước ngoặt trong lịch sử nghiên cứu thú ở nước ta và Đông Dương. Từ năm 1962 - 1966, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước đã tổ chức nghiên cứu liên hợp động vật - ký sinh trùng, côn trùng gồm nhiều cơ quan phối hợp: Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội , Trường Đại học Y khoa, Trường Đại học Nông Nghiệp I , Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Côn trùng. Đoàn nghiên cứu do Ban Sinh vật-Địa - Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước chủ trì đã tiến hành điều tra , khảo sát tổng hợp về động vật trên 12 tỉnh ở miền Bắc Việt Nam.
Kết quả của các đợt khảo sát được Đặng Huy Huỳnh và cs tổng kết và ghi nhận 169 loài thú thuộc 32 họ và 11 bộ, trong đó, có 85 loài thú hoang dã phân bố ở vùng Đông Bắc Việt Nam[11]. Lê Hiền Hào (1973) đã giới thiệu một số đặc điểm sinh học và phân bố của những loài thú kinh tế miền Bắc Việt Nam trong cuốn “Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam”[9]. Công trình nghiên cứu của Cao Văn Sung và cs (1980). Về những loài gặm nhấm ở Việt Nam đã ghi nhận 64 loài, thuộc 23 giống, 7 họ[24].
Đáng chú ý có 8 loài lần đầu tiên ghi nhận ở Việt Nam và 10 loài lần đầu tiên ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam. c 7 Từ đầu năm 1980 đến nay, các dự án nghiên cứu thành lập các VQG, khu BTTN mới bắt đầu triển khai mạnh. Nhiều kết quả nghiên cứu thú trong các các khu BTTN và VQG lần lượt được công bố. Dang Huy Huynh et al.,(1996), đã ghi nhận 31 loài thú thuộc 17 họ và 9 bộ ở VQG Cát Bà.
Năm 2001, trong “Báo cáo Điều tra hiện trạng đa dạng sinh học rừng đặc dụng Hữu Liên, tỉnh Lạng Sơn”, các tác giả đã ghi nhận 69 loài thú thuộc 27 họ và 8 bộ Nguyễn Xuân Đặng và cs (2006) đã ghi nhận ở VQG Tam Đảo có 77 loài thuộc 24 họ và 8 bộ. Trong thời kỳ này, các nhà nghiên cứu thú Việt Nam đã xuất bản 3 cuốn danh lục thú Việt Nam: Sokolov V., Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh,(1986) xuất bản cuốn "Khu hệ và sinh thái chim thú Việt Nam" bằng tiếng Nga. Đặng Huy Huỳnh, Đào Văn Tiến, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Minh Khiên (1994) đã xuất bản “Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” [12]Trong danh lục này đã ghi nhận 223 loài thú thuộc 37 họ, 12 bộ. Lê Vũ Khôi (2000) đã xuất bản cuốn“Danh lục các loài thú ở Việt Nam”[15] ghi nhận 289 loài và phân loài thuộc 40 họ, 14 bộ.
Trịnh Việt Cường (2001) kết quả điều tra thành phần các loài thú ở VQG Pù Mát, sơ bộ thống kê được 50 loài thú thuộc 20 họ của 7 bộ, trong đó có 24 loài quí hiếm. Lê Trọng Trãi và cs (2004) [20] đã ghi nhận ở vườn quốc gia Ba Bể có 55 loài thú thuộc 25 họ bà 8 bộ; ở khu BTTN Nà Hang đã ghi nhận 83 loài thú thuộc 23 họ và 8 bộ[26]. c 8 Vùng Bắc Trung Bộ là khu vực có địa hình đa dạng hiểm trở, đặc biệt các vùng dọc biên giới Việt-Lào, đã tạo nên đa dạng các hệ sinh thái từ miền đồng bằng ven biển đến các vùng gò đồi, núi đá có nhiều hang động nổi tiếng như động Phong Nha (VQG Phong Nha Kẻ Bàng) đó là nền tảng tạo thành tính ĐDSH cao. Các hệ sinh thái ở Bắc Trung Bộ luôn giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội vùng.
Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu về thú đã được tiến hành trong vùng. Điều đặc biệt trong 2 năm (1992 và 1994), các nhà khoa học đã phát hiện được ba loài thú lớn, trong đó có hai loài thuộc vùng rừng núi Hà Tĩnh, đó là Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) phát hiện tại Khu BTTN Vũ Quang- Hà Tĩnh năm 1992 và loài Mang lớn hay còn gọi là Mang bầm (Megamuntiacus vuquangensis) cũng được tìm thấy ở khu BTTN Vũ Quang- Hà Tĩnh, nơi mà trước đây không lâu đã phát hiện loài trĩ cuối cùng trên thế giới, loài Gà lam đuôi trắng hay còn gọi là Gà lừng (Lophura hatinhensis). Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng, 1999 trong báo cáo “Primates in Phong Nha Ke Bang area: The status overview and recomendations for further survey and monitoring” gửi cho WWF Việt Nam đã cho biết vùng Phong Nha Kẻ Bàng là trung tâm Linh trưởng quan trọng của Việt Nam. Ít nhất đã ghi nhận được 11 trên tổng số 25 loài và phân loài Linh trưởng có ở Việt Nam.
Chưa có một vùng nào có số loài và phân loài Linh trưởng cao như vậy. (2000) đã phát hiện loài thỏ vằn Nesolagus timminsi loài thú mới cho khoa học trên cơ sở một bộ xương thu thập được tại Hương Sơn, Hà Tĩnh. Phạm Nhật và các cộng sự (2001) kết quả điều tra khu hệ thú ở VQG Phong Nha-Kẻ Bàng đã xác định có mặt của 98 loài thú, thuộc 24 họ, 9 bộ , c 9 trong đó đã phát hiện thêm hai loài / phân loài mới cho khu vực là Thỏ vằn (Nesolagus timinsi) và Voọc đen tuyền (Trachypithecus francosi ebenus). Tình hình nghiên cứu thú tại Quảng Trị và Bắc Hướng Hóa: Điều tra ĐDSH nói chung và thú nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị không nhiều và chỉ mới bắt đầu thực hiện gần đây, khi Quảng Trị bắt đầu hình thành các khu rừng đặc dụng.
Báo cáo điều tra đa dạng sinh học thú tại Khu BTTN Đakrông của tác giả Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Mạnh Hà năm 2005 ghi nhận được 67 loài thú thuộc 25 họ và 10 bộ [7]. Dự án xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị của UBND tỉnh Quảng Trị năm 2006 đã ghi nhận tại khu BTTN Bắc Hướng Hoá có 42 loài thú thuộc 17 họ và 6 bộ [27]. Kết quả điều tra của Nguyễn Xuân Đặng, Đặng Ngọc Cần, Nguyễn Xuân nghĩa từ năm 2004-2007 ghi nhận tại địa bàn tỉnh Quảng Trị có 54 loài thú lớn, thuộc 20 họ và 7 bộ, trong đó ở khu BTTN Bắc Hướng Hoá là 47 loài, ở khu BTTN Đakrông là 49 loài và ở khu BTTN đường Hồ Chí Minh huyền thoại là 25 loài [3]. Mới đây trong chuyến khảo sát điều tra về dơi và thú nhỏ của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật - tháng 04/2007 của Nguyễn Trường Sơn và nnk, đã ghi nhận có 11 loài dơi thuộc 5 họ trong đó có một loài quý hiếm là Dơi muỗi sọ nhỏ Pipistrellus paterculus.[21] c 10 Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên: 2.
Vị trí địa lý Khu BTTN Bắc Hướng Hóa nằm trong vùng sinh thái Trung Trường Sơn chuyển tiếp giữa Nam và Bắc Trường Sơn, có ranh giới phía Tây giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào( chiều dài khoảng 6km), phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Bình( chiều dài khoảng 20km), phía Nam giáp các xã Hướng Phùng, Hướng Sơn và Hướng Linh, phía Đông giáp với 3 huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Đakrông. Tổng diện tích tự nhiên của khu BTTN Bắc Hướng Hóa là 25.200 ha, trong đó điện tích đất có rừng là 22.537 ha (Nguồn:Kết quả rà soát 3 loại rừng năm 2006 của UBND tỉnh Quảng Trị) Ranh giới của khu BTTN bắc Hướng Hóa nằm trên địa bàn 5 xã: Hướng Lập, Hướng Việt, Hướng Sơn, Hướng Linh và Hướng Phùng thuộc huyện Hướng Hóa. Địa hình Địa hình khu vực nghiên cứu là vùng núi thấp ở phía nam của giải Trường Sơn Bắc với dãy núi cao trên 1000 m chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam dọc ranh giới hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị. Về phía Quảng Trị địa hình nâng cao hơn, chia cắt mạnh, độ dốc lớn phổ biến từ 15-25o, có nhiều nơi, nhiều chỗ dốc đứng.
Trong khu vực có các đỉnh cao điển hình như: Động Sa Mù (1550m) gần đỉnh đèo Sa Mù và Động Voi Mẹp(1771m) ở phía đông nam khu bảo tồn. Trong khu vực ngoài đồi, núi đất chiếm đa số còn lại có hai dãy núi đá vôi. Ở gần trung tâm là dãy đá vôi chạy theo hướng Đông-Tây, ranh giới hai xã Hướng Lập và Hướng Việt, gần trung tâm xã Hướng Việt có dãy núi đá vôi chạy theo hướng Bắc-Nam.