Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca thuộc tỉnh Hà Giang có tổng diện tích tự nhiên 2.024 ha, trong đó vùng lõi nghiêm ngặt chiếm khoảng 1.000 ha. Đây là nơi phân bố quan trọng nhất của loài Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) – một trong những loài linh trưởng nguy cấp hàng đầu thế giới với quần thể ghi nhận khoảng 90 cá thể. Khu bảo tồn nằm trên địa bàn 3 xã giáp ranh gồm Tùng Bá (huyện Vị Xuyên), Yên Định và Minh Sơn (huyện Bắc Mê). Thực trạng kinh tế - xã hội tại vùng đệm còn nhiều khó khăn với 34,9% số hộ thuộc diện nghèo đói theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010, thu nhập từ lâm nghiệp ước tính chiếm từ 12% đến 28% cơ cấu thu nhập nông nghiệp. Áp lực sinh kế dẫn đến việc người dân vẫn khai thác gỗ, chăn thả gia súc bừa bãi và thu hái lâm sản ngoài gỗ với khối lượng ước tính 4.000 kg dược liệu làm men rượu mỗi năm.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự xung đột giữa nhu cầu sinh kế của cộng đồng địa phương và mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học. Mặc dù Khu bảo tồn được chính thức thành lập vào tháng 10 năm 2009, các hoạt động giáo dục bảo tồn trước đó còn nhỏ lẻ và chủ yếu hướng đến học sinh tiểu học tại xã Tùng Bá. Đề tài luận văn thạc sĩ tập trung đánh giá mức độ nhận thức, thái độ của cộng đồng dân cư đối với tài nguyên thiên nhiên và xác định cơ hội tham gia giáo dục bảo tồn. Nghiên cứu được thực hiện tại 8 thôn bản thuộc 3 xã giáp ranh trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 09 năm 2010. Kết quả đánh giá chỉ ra rằng tỷ lệ người dân đạt nhận thức tốt chỉ chiếm 42,22%, cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng chiến lược truyền thông môi trường có sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo vệ bền vững quần thể linh trưởng quý hiếm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Giáo dục môi trường và Giáo dục bảo tồn được khởi xướng từ Hội nghị Stockholm năm 1972 và chuẩn hóa bởi Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 1970). Giáo dục bảo tồn được xác định là quá trình học tập dựa vào hành động thực tế nhằm thay đổi nhận thức, kỹ năng và thái độ ứng xử của cộng đồng đối với hệ sinh thái. Mô hình nghiên cứu tích hợp thang đo thái độ môi trường của Kellert và phương pháp tiếp cận bảo tồn dựa vào cộng đồng (Community-Based Conservation) của các chuyên gia bảo tồn quốc tế.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh 4 khái niệm trung tâm: Giáo dục bảo tồn (GDBT), Nhận thức sinh thái, Đơn vị cộng đồng địa phương và Quản lý tài nguyên có sự tham gia (Đồng quản lý). Thang điểm chuẩn được thiết kế với tổng điểm tối đa là 22 điểm; các phiếu đạt từ 11 điểm trở lên (tương đương 50% tổng điểm) được xếp loại nhận thức tốt. Mô hình đánh giá đặt trong bối cảnh chuẩn nghèo thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, làm rõ mối liên hệ giữa điều kiện sinh kế và mức độ tham gia bảo vệ rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thông qua phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA). Cỡ mẫu khảo sát chính thức gồm 90 phiếu phỏng vấn cấu trúc (30 phiếu trên mỗi xã tại 8 thôn: Phia Đeng, Khuẩy Lòa, Bản Loan, Bản Bó, Nà Yến, Tin Tốc, Hồng Minh, Nà Lòa) và 25 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với đại diện chính quyền thôn, xã và người dân. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên, đại diện cho các nhóm giới tính (60 nam, 30 nữ), thành phần dân tộc (người Tày, người Dao), trình độ học vấn và mức thu nhập.

Việc lựa chọn bảng hỏi cấu trúc kết hợp bán cấu trúc giúp định lượng hóa chính xác mức độ hiểu biết, đồng thời đi sâu giải thích các rào cản xã hội. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Excel và SPSS 13.0 với các thuật toán thống kê suy luận gồm kiểm định Independent Samples T-Test (so sánh 2 nhóm độc lập) và phân tích phương sai một chiều One-way ANOVA (so sánh từ 3 nhóm trở lên) ở độ tin cậy 95% (mức ý nghĩa p < 0,05). Tiến trình nghiên cứu diễn ra theo 3 giai đoạn: đợt điều tra thực địa lần 1 từ 26/12/2009 đến 15/01/2010; đợt điều tra thực địa lần 2 từ 28/02/2010 đến 13/03/2010; tổng hợp số liệu và hoàn thiện phân tích từ 15/03/2010 đến 30/09/2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng quan mức độ nhận thức của người dân còn ở mức thấp và có sự phân hóa rõ rệt giữa nhận thức môi trường chung và nhận thức về Khu bảo tồn. Cụ thể, tỷ lệ người đạt nhận thức tốt chung chỉ là 42,22% (38 người), nhận thức trung bình là 27,78% (25 người) và nhận thức kém chiếm 30,00% (27 người). Trong khi 53,33% người dân hiểu rõ về thiên tai (hạn hán, lũ lụt, cháy rừng) thì chỉ có 14,44% (13 người) có hiểu biết tốt về Khu bảo tồn Khau Ca và Voọc mũi hếch, 46,67% (42 người) xếp loại kém và gần 100% không biết năm thành lập Khu bảo tồn.

Thứ hai, nhận thức có sự khác biệt rõ rệt theo giới tính và dân tộc. Nam giới đạt điểm nhận thức trung bình là 10,05 điểm với 45,00% xếp loại tốt, cao hơn đáng kể so với nữ giới chỉ đạt 8,18 điểm với 36,67% loại tốt (kiểm định T-Test cho giá trị p = 0,047 < 0,05). Theo thành phần dân tộc, người Tày có điểm nhận thức trung bình đạt 10,00 điểm, vượt trội hơn người Dao với 8,18 điểm (kiểm định T-Test cho giá trị p = 0,020 < 0,05).

Thứ ba, trình độ học vấn, nghề nghiệp và thu nhập tạo ra khoảng cách lớn về nhận thức sinh thái. Nhóm có học vấn từ cấp III trở lên có 80,00% đạt loại tốt, trong khi nhóm không đi học hoặc cấp I chỉ đạt 11,13% (ANOVA cho p = 0,000 < 0,05). Cán bộ, giáo viên và nhóm hộ có thu nhập trên 10 triệu đồng/năm có nhận thức vượt trội hoàn toàn so với nhóm nông dân có thu nhập dưới 10 triệu đồng/năm (p = 0,000).

Thứ tư, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhận thức theo địa bàn sinh sống và độ tuổi. Tổng điểm nhận thức tại xã Yên Định đạt 308 điểm (53,33% đạt chuẩn), xã Tùng Bá đạt 276 điểm (33,33% đạt chuẩn) và xã Minh Sơn đạt 271 điểm (40,00% đạt chuẩn), kiểm định ANOVA cho p = 0,384 > 0,05. Tương tự, yếu tố độ tuổi có giá trị p = 0,303 > 0,05, khẳng định mức độ hiểu biết giữa các thế hệ là tương đương nhau.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch nhận thức giữa thiên tai tự nhiên và hiểu biết về Voọc mũi hếch phản ánh tính bức thiết của đời sống thực tiễn. Đợt hạn hán nghiêm trọng vào tháng 03 năm 2010 đã làm ngưng trệ diện tích lúa nước tại Yên Định và Tùng Bá, buộc người dân phải quan tâm sâu sắc đến môi trường. Ngược lại, Khu bảo tồn mới thành lập vào tháng 10 năm 2009 và thiếu vắng các chiến dịch truyền thông đại chúng khiến thông tin về loài nguy cấp chưa tiếp cận được cộng đồng.

Sự vượt trội về nhận thức của nam giới và người Tày bắt nguồn từ cấu trúc phân công lao động và rào cản ngôn ngữ. Phụ nữ người Dao tại các thôn vùng cao như Phia Đeng, Khuẩy Lòa dành phần lớn thời gian trên nương rẫy, ít có cơ hội tiếp xúc cán bộ và hạn chế khả năng nói tiếng Kinh. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu quốc tế về loài linh trưởng Tamarin tại Braxin của Engels và Jacobson (2001) cũng như nghiên cứu rùa biển tại Sri Lanka của Rajakaruna (2009). Các biến số nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua bảng so sánh kiểm định ANOVA/T-Test và biểu đồ cột thể hiện tương quan phân bố điểm số theo nhóm nhân khẩu học để tối ưu hóa việc theo dõi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết kế và triển khai chương trình truyền thông đa ngữ (tiếng Dao, tiếng Tày và tiếng Kinh) gắn với hình ảnh trực quan sinh động. Mục tiêu nâng tỷ lệ nhận thức của người dân về Voọc mũi hếch từ 14,44% lên trên 75% trong vòng 18 tháng (giai đoạn 2011-2012). Đơn vị chủ trì thực hiện là Ban quản lý Khu bảo tồn Khau Ca phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang và Tổ chức Bảo tồn Động thực vật hoang dã Quốc tế (FFI).

Thứ hai, lồng ghép yếu tố bình đẳng giới, tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng và giáo dục bảo tồn lưu động chuyên biệt cho phụ nữ vùng đệm. Chỉ tiêu đặt ra là thu hút ít nhất 60% phụ nữ dân tộc thiểu số tại 8 thôn bản tham gia định kỳ hàng quý từ năm 2011. Cơ quan thực hiện là Hội Phụ nữ các xã phối hợp với ban quản lý dự án lâm nghiệp địa phương.

Thứ ba, mở rộng và chuẩn hóa quy chế hoạt động của nhóm tuần rừng cộng đồng dựa trên cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng. Tăng quy mô tổ tuần rừng từ 12 thành viên hiện nay lên 24 đến 30 thành viên, đảm bảo đại diện đầy đủ các thôn giáp ranh, đồng thời chi trả phụ cấp tuần tra thỏa đáng từ quý I năm 2011 dưới sự quản lý của Hạt Kiểm lâm và chính quyền xã.

Thứ tư, hỗ trợ phát triển mô hình sinh kế thay thế bền vững nhằm giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng. Đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật trồng cỏ voi chăn nuôi gia súc nhốt chuồng và khoanh nuôi vườn rừng lấy củi gỗ nhỏ; hướng tới mục tiêu giảm 50% khối lượng thu hái 4.000 kg thảo dược men rượu tự nhiên và chấm dứt 100% tình trạng đặt bẫy động vật hoang dã trong thời hạn 3 năm (2011-2013). Đơn vị thực hiện là Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Bắc Mê, Vị Xuyên cùng UBND 3 xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia có điều kiện tương đồng. Luận văn cung cấp bộ công cụ khảo sát nhận thức chuẩn hóa (thang điểm 22 câu hỏi) giúp đơn vị đánh giá chính xác tác động xã hội học và thiết kế kế hoạch đồng quản lý tài nguyên hiệu quả.

Nhóm 2: Các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới bảo tồn quốc tế (FFI, WWF, PanNature). Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chi tiết về nhân khẩu học, sự bất bình đẳng giới và rào cản ngôn ngữ vùng cao để xây dựng các dự án tài trợ giáo dục môi trường đúng trọng tâm.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý bảo vệ rừng, Lâm học, Khoa học môi trường. Tài liệu là ví dụ điển hình về việc ứng dụng phương pháp PRA kết hợp xử lý thống kê suy luận (ANOVA, Independent Samples T-Test) trên SPSS để phân tích mối quan hệ giữa sinh kế và bảo tồn.

Nhóm 4: Cán bộ quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cấp huyện, xã vùng cao. Giúp lãnh đạo địa phương tham khảo các mô hình quản lý rừng thôn bản thành công như quy chế đánh kẻng lấy củi tuần 2 lần hoặc cấp hạn ngạch 4 cây gỗ làm nhà cho hộ mới tách để lồng ghép vào hương ước, quy ước bản làng.

Câu hỏi thường gặp

Nhận thức của người dân về Khu bảo tồn và Voọc mũi hếch vì sao lại thấp hơn nhiều so với nhận thức về thiên tai? Người dân trực tiếp chịu tổn thất kinh tế từ lũ lụt và đợt hạn hán tháng 03/2010 nên nhận thức rõ rủi ro môi trường (53,33% loại tốt). Ngược lại, Khu bảo tồn mới thành lập tháng 10/2009 và thiếu truyền thông đại chúng khiến 46,67% người dân có hiểu biết kém về loài linh trưởng này.

Yếu tố giới tính và dân tộc ảnh hưởng như thế nào đến khả năng tiếp cận giáo dục bảo tồn? Nam giới (10,05 điểm) và người Tày (10,00 điểm) có nhận thức cao hơn hẳn nữ giới và người Dao (cùng đạt 8,18 điểm, p < 0,05). Nguyên nhân do phụ nữ người Dao chịu gánh nặng nương rẫy, sống xa trung tâm và gặp rào cản lớn về ngôn ngữ tiếng Kinh khi tiếp cận thông tin.

Tổ tuần rừng cộng đồng 12 thành viên tại Khau Ca đem lại hiệu quả thực tế ra sao? Tổ tuần rừng thành lập năm 2002 giúp các thành viên nâng cao nhận thức, 100% sở hữu xe máy và cải thiện thu nhập gia đình. Tuy nhiên, họ đối mặt với thách thức vắng nhà ảnh hưởng sinh kế nông nghiệp và phát sinh mâu thuẫn xã hội khi ngăn chặn hành vi khai thác gỗ trái phép.

Hoạt động khai thác lâm sản nào đang đe dọa lớn nhất đến sinh cảnh loài Voọc mũi hếch? Nhu cầu lấy gỗ làm nhà (năm 2006 có 79 hộ làm nhà mới, 88 hộ sửa nhà) và khai thác khoảng 4.000 kg dược liệu tự nhiên làm men rượu mỗi năm là hai hoạt động tác động trực tiếp, làm suy thoái thảm thực vật tầng cây bụi và chia cắt sinh cảnh loài linh trưởng.

Luận văn đã kiểm định tính chính xác của các giả thiết nghiên cứu bằng công cụ nào? Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 13.0 để chạy các kiểm định One-way ANOVA cho biến khu vực, học vấn, độ tuổi và Independent Samples T-Test cho biến giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, thu nhập ở độ tin cậy 95% (ngưỡng bác bỏ giả thiết vô hiệu p < 0,05).

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa toàn diện thực trạng nhận thức bảo tồn tại 3 xã vùng đệm Khu bảo tồn Khau Ca với tỷ lệ nhận thức tốt đạt 42,22% và nhận thức kém chiếm 30,00%.
  • Kiểm định thống kê khẳng định có sự phân hóa nhận thức sâu sắc theo giới tính (p = 0,047), dân tộc (p = 0,020), học vấn (p = 0,000), nghề nghiệp (p = 0,000) và thu nhập (p = 0,000).
  • Nghiên cứu chứng minh không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhận thức giữa 3 xã (p = 0,384) và giữa các nhóm tuổi (p = 0,303).
  • Đóng góp chính của đề tài là cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và đề xuất bộ 4 giải pháp can thiệp giáo dục bảo tồn gắn với sinh kế bền vững.
  • Lộ trình giai đoạn 2011-2015 cần tập trung nhân rộng tổ tuần rừng lên 24-30 người và chuyển đổi mô hình truyền thông đa ngữ cho cộng đồng người Dao.

Các nhà quản lý lâm nghiệp, chính quyền địa phương và các tổ chức bảo tồn cần nhanh chóng phối hợp thực hiện các giải pháp giáo dục bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo vệ quần thể Voọc mũi hếch Khau Ca trước nguy cơ tuyệt chủng.