ĐẶT VẤN ĐỀ Để thực hiện quản lý rừng dựa vào cộng đồng, thì một trong những vấn đề cần quan tâm là nghiên cứu hệ thống kinh nghiệm, kiến thức địa phương, làm cơ sở cho việc phát triển các giải pháp kỹ thuật cũng như quản lý rừng thích ứng và bền vững. Tây Nguyên là nơi cư trú lâu đời của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa, có đời sống vật chất, tinh thần gắn bó với quản lý tài nguyên rừng; từ đây đã hình thành các kiến thức bản địa có giá trị, vấn đề đặt ra là phát hiện, hệ thống hóa, ứng dụng nó trong phương thức quản lý rừng cộng đồng – một phương thức đang được Chính phủ Việt Nam thừa nhận qua Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004. Việt Nam có trên 60% diện tích đất tự nhiên là đồi núi, thuộc đối tượng sản xuất lâm nghiệp, phần lớn diện tích này phân bố ở vùng cao, là nơi cư trú của hầu hết các cộng đồng dân tộc thiểu số, có nền văn hóa và hệ thống canh tác khác biệt. Từ bao đời nay, người dân bản địa vùng cao đã sống dựa vào rừng, rừng và đất lâm nghiệp luôn gắn liền với đời sống của người dân nơi đây, nó vừa là đối tượng tác động vừa là môi trường sống của họ, và vì thế đã hình thành nên những nét kiến thức, văn hóa đặc trưng theo từng vùng, miền.
Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, tài nguyên rừng đã suy giảm một cách nhanh chóng, hệ quả của nó là những tác hại khôn lường không chỉ về mặt kinh tế, môi trường sinh thái mà còn cả về văn hóa xã hội. Trong khi đó, đời sống của một bộ phận không nhỏ người dân nơi đây vẫn còn nhiều khó khăn. Người dân sống gần rừng, đặc biệt là các cộng đồng người đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, thì ít được hưởng lợi hợp pháp từ rừng và chưa tích cực tham gia vào công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Vậy vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên gắn liền với việc nâng cao đời sống của người dân địa phương một cách bền vững.
Để thực hiện được vấn đề này, nhất thiết phải dựa vào những cộng đồng cư 2 dân đã từng gắn bó cuộc sống vật chất, tâm linh với rừng qua nhiều thế hệ, đó chính là những cộng đồng người đồng bào dân tộc thiểu số bản địa. Vì vậy, trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2001 - 2010 đã xác định: “ Hướng phát triển của lâm nghiệp trong giai đoạn tới là phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển từ nền lâm nghiệp chủ yếu khai thác tài nguyên rừng sang nền lâm nghiệp nhân dân với trọng tâm là bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng, để đảm bảo khả năng phòng hộ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm của rừng, phát triển công nghiệp chế biến vừa và nhỏ với thiết bị và công nghệ tiên tiến, gắn với vùng nguyên liệu tập trung để nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng; khai thác tiềm năng lao động, giải quyết công ăn việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân miền núi, xã hội hóa nghề rừng, thu hút các nguồn lực đầu tư; nâng cao vai trò và giá trị đóng góp của ngành lâm nghiệp vào phát triển kinh tế quốc dân” [1] Trong gần 10 năm trở lại đây, trong định hướng phát triển lâm nghiệp, Chính phủ đã có nhiều chính sách, chủ trương về phân cấp phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng, giao đất giao rừng, chế độ hưởng lợi từ rừng cho người quản lý rừng; chủ trương về xã hội hóa nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng. Đây là các cơ sở pháp lý quan trọng trong phát triển lâm nghiệp dựa vào người dân, cộng đồng. Quá trình đổi mới trong quản lý sử dụng tài nguyên từ việc quản lý tập trung sang hình thái quản lý có sự tham gia của người dân là một chuyển hướng mang tính chiến lược của ngành lâm nghiệp từ lâm nghiệp thuần tuý nhà nước sang lâm nghiệp nhân dân - lâm nghiệp xã hội.
Vấn đề này đã tạo ra nhiều nhân tố tích cực mới, đa dạng hoá các hình thức quản lý và phương thức tiếp cận đối với quản lý tài nguyên rừng. Qua đó, ngoài lâm nghiệp quốc doanh còn phát huy được vai trò của các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là cộng đồng và hộ gia đình tham gia quản lý bảo vệ và phát triển vốn rừng. 3 Xã hội hoá về bảo vệ và phát triển rừng hiện nay đang là vấn đề quan tâm của toàn cầu. Thực tế trên thế giới đã có nhiều nước với nhiều nghiên cứu để tiếp cận và phát triển mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng và đã có những thành công đáng kể.
Ở Việt Nam, theo Bảo Huy “… quản lý rừng cộng đồng ở các vùng cao và các định chế của nó đã tồn tại khách quan trong tiến trình quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên của các cộng đồng dân tộc thiểu số, ở một vài nơi cộng đồng vẫn duy trì phương thức này một cách ngầm định trong buôn làng và kiểm soát được hoạt động sử dụng tài nguyên đất, rừng trong cộng đồng; tuy nhiên chúng chưa được đánh giá đầy đủ và thừa nhận một cách chính thức trong hệ thống quản lý tài nguyên hiện nay. Song song với nó, hoạt động lâm nghiệp ở cơ sở chưa có phương pháp tiếp cận thích hợp, vai trò của cộng đồng, người dân trong quản lý kinh doanh rừng chưa được coi trọng, cộng đồng dân tộc thiểu số thay vì sử dụng luật tục, truyền thống để bảo vệ và phát triển rừng thì lại đứng ngoài cuộc vì rừng chưa mang lại lợi ích cho cộng đồng; điều này đã làm mất đi một nguồn lực quan trọng trong phát triển rừng bền vững vùng cao. Đứng trước thực trạng đó, về phía nhà nước đã có các chính sách hỗ trợ cho tiến trình khôi phục và phát triển mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng như giao đất giao rừng, chế độ hưởng lợi từ rừng, cùng với các chương trình hỗ trợ phát triển nông thôn miền núi, xoá đói giảm nghèo…” [4] Cuộc sống gắn bó với thiên nhiên qua nhiều thế hệ từ ngàn đời nay của các cộng đồng người đồng bào dân tộc thiểu số bản địa đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, đã được trải nghiệm qua nhiều thế hệ và là kết quả đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng. Đó là những kiến thức vô giá được đúc rút từ sự tương tác của các cư dân với điều kiện tự nhiên nơi họ sinh sống.
Có thể coi đây là những yếu tố văn hóa sản xuất, sinh hoạt của các tộc người, như vậy nó cũng có xu hướng biến đổi thích ứng với môi trường cụ thể. 4 Hệ thống kiến thức bản địa của một cộng đồng địa phương là một trong những nguồn lực quan trọng có tính chất quyết định đến sự phát triển bền vững của cộng đồng, xã hội nếu như hệ thống kiến thức đó được phát huy đúng mức. Phát hiện và vận dụng được hệ thống kiến thức sinh thái của cộng đồng chính là giải pháp thu hút sự tham gia quản lý, sử dụng tài nguyên của cộng đồng dân cư đó. Tây nguyên được xác định là “mái nhà xanh” của cả khu vực Miền trung và phía Nam, là nơi bắt nguồn của nhiều hệ thống sông lớn như: sông Ba, sông Đồng Nai, sông Mê Kông và còn là đầu nguồn của nhiều nhà máy thủy điện lớn như Yaly, Ya Dring, Thác Mơ và Trị An.
ĐăkLăk là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên này và cũng là một tỉnh có tỷ lệ che phủ của rừng tự nhiên gần như lớn nhất nước. Vai trò của diện tích rừng tự nhiên ở ĐăkLăk không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với địa bàn tỉnh mà còn hết sức quan trọng đối với cả khu vực Miền trung - Tây nguyên. Xác định được điều đó, trong những năm qua lãnh đạo tỉnh ĐăkLăk đã có nhiều nỗ lực tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để bảo vệ và phát triển vốn rừng. Trong chiến lược phát triển lâm nghiệp của tỉnh, ĐăkLăk đã chú trọng đến việc giao đất giao rừng cho người dân quản lý sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Trong những năm qua, Đăklăk đã được ưu ái với nhiều chương trình dự án hỗ trợ phát triển lâm nghiệp trong và ngoài nước. Cùng với sự nổ lực của địa phương, kết quả là Đăklăk đã giao được hơn 24.000 ha rừng tự nhiên và đất trống lâm nghiệp cho người dân quản lý sử dụng. Trong đó tại địa bàn xã EaSol, huyện Ea H’ leo đã tiến hành giao được 3.164 ha đất lâm nghiệp cho ba cộng đồng là người đồng bào dân tộc thiểu số Jrai quản lý sử dụng theo phương thức quản lý rừng cộng đồng. Mặt khác, tại địa phương Đăklăk hiện nay đã và đang triển khai thực hiện nhiều chương trình nhằm thu hút sự tham gia của người dân, nhất là cộng đồng người đồng bào dân tộc thiểu số bản địa, trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng như giao khóan bảo vệ rừng theo chương trình thuộc dự án 661; giao khoán đất lâm nghiệp theo nghị định 181/NĐ-CP; trồng cây phân tán; chương trình hỗ trợ người 5 dân trồng rừng sản xuất ; … Đối tượng tham gia chính là các cộng đồng người đồng bào dân tộc thiểu số bản địa.
Bên cạnh đó hệ thống kiến thức bản địa của các cộng đồng người đồng bào dân tộc thiểu số bản địa có ý nghĩa rất lớn đối với việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, nơi cộng đồng đó sinh sống. Đặc biệt, do đặc thù của công tác lâm nghiệp, thì vai trò của hệ thống kiến thức sinh thái của cư dân vùng cao có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên. Hệ thống kiến thức bản địa của một cộng đồng bao gồm cả kiến thức về các khía cạnh của đời sống, kể cả việc quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Trong khuôn khổ đề tài này, chỉ quan tâm nghiên cứu về hệ thống kiến thức về sinh thái ở địa phương của cộng đồng người đồng bào dân tộc thiểu số bản địa Jrai, nhằm phục vụ cho việc phát triển các giải pháp kỹ thuật công nghệ thích ứng, dựa vào cộng đồng ở địa phương.