Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về REDD+ 1. Biến đổi khí hậu Khái niệm Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm. Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình.
Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn địa cầu. Nguyên nhân và thực trạng của biến đổi khí hậu Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng ngoại) được phản xạ từ bề mặt trái đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho trái đất, gây nên hiệu ứng nhà kính.[1] Các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nước, CO2, CH4, N2O, O3, các khí CFC.
Hiệu ứng nhà kính, xuất phát từ effet de serre trong tiếng Pháp, do nhà khoa học Jean Baptiste Joseph Fourier lần đầu tiên đặt tên vào năm 1824, 4 diễn ra khi khí quyển chứa khí đã hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt đất phát ra, sau đó một phần lượng bức xạ này lại được các chất khí đó phát xạ trở lại trái đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất ấm, nhất là về đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu vào trái đất. Nếu không có các chất khí nhà kính trái đất sẽ lạnh hơn hiện nay khoảng 330C, tức là nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất sẽ khoảng – 180C. Nồng độ carbon dioxide trong khí quyển đang tăng lên. Bằng cách phân tích các bong bóng khí trong băng ở Nam Cực và Greenland, các nhà khoa học đã đưa ra kết luận rằng, 650.000 năm qua, nồng độ khí carbon dioxide (CO2) dao động từ 180 - 300ppm (đơn vị đo lường để diễn đạt nồng độ theo khối lượng, tính theo phần triệu).
Trước khi cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra (giữa thế kỷ XVIII), nồng độ CO2 đo được ở mức cân bằng khoảng 280ppm. Tuy nhiên, con số này đã tăng nhanh không ngừng qua các năm sau đó và hiện tại nó đang tiến sát tới mốc 400ppm. Theo cơ quan Năng lượng Quốc tế (AIE), từ nay đến năm 2050, việc thải khí CO2 sẽ tăng 130%, lên đến 900ppm, cao gấp đôi hàm lượng mà ta không được phép vượt quá. Việc phân tích các đồng vị của cacbon trong khí quyển cho thấy sự gia tăng CO2 trong khí quyển là kết quả của việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và đốt rừng, chứ không phải là kết quả của quá trình tự nhiên.
Carbon dioxide là khí nhà kính, làm tăng tính hiệu ứng nhà kính của khí quyển và do đó dẫn đến sự nóng lên của trái đất. Khí thải từ tác hại của việc chặt phá rừng chiếm tới 10% tổng lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Tại Việt Nam: Theo số liệu quan trắc, biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam có những điểm đáng chú ý. Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung 5 bình năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,70C.
Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 -2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931- 1960). Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,60C. Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 là 0,8 - 1,30C và cao hơn thập kỷ 1991 - 2000: 0,4 - 0,0C. Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống.
- Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20 cm, phù hợp với xu thế chung của toàn cầu. - Số đợt không khí lạnh: Ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm. 6/7 trường hợp có số đợt không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI - III) thấp dị thường (0-1 đợt) cũng rơi vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997, 11/1997).
Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp. - Bão: Vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn. - Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ (1981 - 1990 ) và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây. Rừng và vai trò của rừng trong ứng phó với biến dổi khí hậu 1.
Vai trò của rừng trong ứng phó với biến đổi khí hậu Các khái niệm chung Rừng (quan điểm FAO) là một khu đất liền khoảnh lớn hơn 0,5 ha với chiều cây cao lớn hơn 5m và độ tàn che lớn hơn 10%, hoặc cây rừng có thể đạt được chiều cao và độ tàn che theo tiêu chí này trong điều kiện nguyên sản. Nó không bao gồm đất sử dụng cho nông nghiệp và đô thị [7], hiện tại trong REDD+ Việt Nam phổ biến sử dụng đinh nghĩa này. Quản lý rừng bề vững (SFM) là duy trì và làm tăng gía trị môi trường, xã hội và kinh tế của tất cả các kiểu rừng, cho các gía trị hiện thời và các giá trị tái sinh trong tương lai. SFM được xem xét dưới góc độ (I) Phạm vi/quy mô của nguồn tài nguyên rừng; (II) đa dạng sinh học; (III) sức sống và năng lực phục hồi; (IV) chức năng sản xuất; (V) chức năng bảo vệ; (VI) chức năng kinh tế - xã hội; (VII) khung thể chế và chính sách pháp lý [10].
Sinh khối rừng: Sinh khối rừng được định nghĩa là tổng hợp vật chất hữu cơ sống trên bề mặt đất trong rừng, được tính bằng tấn sinh khối trên một đơn vị diện tích (rừng, ha, vùng, hoặc quốc gia). Sinh khối rừng được phân loại thành sinh khối sống trên mặt đất bao gồm: thân cây, cành nhánh, vỏ, hạt và lá. Sinh khối dưới mặt đất là tất cả sinh khối sống của rễ. Những rễ cây có đường kính nhỏ hơn 2mm (được khuyến nghị) bỏ qua bởi vì chúng thường rất khó để phân biệt với vật chất hữu cơ trong đất hoặc vật rơi rụng khác [9].
Bể chứa các bon: là bể chứa lưu trữ cacbon. Đối với rừng, có 5 loại bể chứa cacbon được xem xét để ước tính, đó là : cacbon trong cây gỗ sống (sinh khối trên và dưới mặt đất) ; cacbon trong gỗ cây chết (cây đứng và cây đổ) ; trữ lượng cacbon trong tầng thảm tươi ; cây bụi (cây tái sinh, cỏ) ; trữ lượng cacbon trong thảm mục (mảnh gỗ mục, vật rơi rụng, mùn) và cacbon hữu cơ trong đất [9]. 7 Trữ lượng các bon : là khối lượng của cacbon trong một bể chứa cacbon [9]. Suy thoái rừng (forest degradation) : Theo UNEP rừng bị suy thoái là những khu rừng thứ sinh, thông qua các hoạt động của con người, đã bị phá vỡ cấu trúc, chức năng, tổ thành loài hoặc năng suất [6].
Theo định nghĩa của IPCC, suy thoái rừng là các hoạt động trực tiếp của con người làm thiệt hại giá trị của rừng (đặc biệt cacbon), được đặc trưng bởi giảm độ che phủ rừng [9]. Quản lý tốt tài nguyên rừng có vai trò quan trọng trong việc đối phó với tình trạng biến đổi khí hâụ. Biến đổi khí hậu và rừng thực chất có mối liên quan mật thiết với nhau. Những thay đổi khí hậu toàn cầu đang gây ra ảnh hưởng đến các khu rừng, do nhiệt độ hàng năm của trái đất tăng cao hơn đã làm thay đổi khí hậu toàn cầu đang gây ảnh hưởng đến các khu rừng, do nhiệt độ hằng năm của trái đất tăng cao hơn đã làm thay đổi mô hình lượng mưa và các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt xảy ra với tần suất nhiều hơn.
Tuy nhiên, những cánh rừng, trực tiếp là cây xanh giúp thu giữ carbon và biến đổi chúng nhờ quá trình quang hợp, giữ vai trò chủ yếu trong việc giảm khí nhà kính. Các thảm thực vật đã thu giữ một lượng CO2 lớn hơn một nửa khối lượng chất khí đó sinh ra từ sự đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch trên thế giới. và từ nguyên liệu carbon này hàng năm thảm thực vậ trên đất đã tạo ra được 150 tỷ tấn vật chất khô thực vật. Khám phá này càng khẳng định thêm vai trò hệ sinh thái rừng trong việc làm giảm lượng CO2 trong khí quyển[8].
Thực trạng suy giảm tài nguyên rừng trên thế giới và ở Việt Nam Trên thế giới Theo số liêu của tổ chức Nông lương thế giới (FAO) : tổng diện tích rừng trên thế giới hiện nay khoảng 4 tỉ ha, chiếm gần 30% diện tích đất toàn cầu. Hàng năm trên thế giới bị mất đi khoảng 13 triệu ha rừng (trong đó có khoảng 0,4% là rừng nguyên sinh) và con số này vẫn chưa có dấu hiệu giảm, 8 đặc biệt là trong những năm gần đây những vụ cháy rừng có quy mô càng nhiều hơn trước.