ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nhiều thập kỷ qua, toàn thế giới đã nhận thấy rằng các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và vƣờn quốc gia (VQG) có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và mang lại lợi ích cho toàn xã hội. Các khu bảo tồn là nơi lƣu trữ các vật liệu thiên nhiên cho sự phát triển của các ngành y tế, nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp, đồng thời gìn giữ các chức năng tự nhiên của hệ sinh thái, bảo vệ đất đai, điều hoà khí hậu, giúp con ngƣời đƣợc sống trong bầu khí quyển trong lành. Mặc dù các khu bảo tồn có tầm quan trọng nhƣ vậy, nhƣng quản lý các khu bảo tồn đã và đang gặp rất nhiều khó khăn từ phía các cộng đồng địa phƣơng (CĐĐP), đặc biệt đối với các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam [21, trang 15-20]. Là một nƣớc nhiệt đới với 3/4 diện tích đất đai là đồi núi, Việt Nam rất giàu có về đa dạng sinh học.
Cho tới nay đã có gần 12.000 loài thực vật và 7.000 loài động vật đã đƣợc ghi nhận có ở Việt Nam. Nguồn tài nguyên này không những có vai trò quan trọng đối với toàn xã hội, có ý nghĩa quốc gia, khu vực, toàn thế giới mà còn là nguồn sinh kế chủ yếu của con ngƣời, đặc biệt đối với các cộng đồng sống trong và gần rừng. Từ năm 1962 đến nay, Việt Nam đã thành lập một hệ thống các khu rừng đặc dụng, trong đó có 105 KBTTN và VQG. Hầu hết các KBTTN và VQG này nằm ở vùng núi và là nơi có các cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống.
Vì vậy để ngăn chặn những tác động bất lợi tới TNR đồng thời huy động ngƣời dân tham gia vào bảo tồn đa dạng sinh học của KBTTN và VQG phải có vùng đệm. Đối với CĐĐP trong các vùng đệm, việc thành lập các KBTTN và VQG luôn có xu hƣớng làm thay đổi lớn tới cuộc sống của họ. Bắt đầu từ những thay đổi về vị trí nhà ở, về thói quen chiếm hữu đất đai trong canh tác, nguồn sản phẩm sẵn có ở rừng, dẫn tới nhiều thay đổi khác về tập quán canh tác, sinh kế, văn hoá. Tài nguyên rừng (TNR) - nguồn sống chủ yếu của ngƣời dân vùng núi bao đời nay dƣờng nhƣ đã không còn là của họ.
Trong khi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 đó, các sinh kế tạo nguồn thu nhập khác chƣa bù lại đƣợc sự thiếu hụt lớn lao này. Chính vì vậy đã gây ra mâu thuẫn giữa KBTTN và VQG với CĐĐP. Khi chƣa tìm đƣợc tiếng nói chung đối với việc bảo tồn TNR thì việc tồn tại những tác động bất lợi của ngƣời dân vào TNR là một tất yếu. Rừng đặc dụng RĐD Hữu Liên nằm trong vùng núi đá vôi Cao Bằng - Lạng Sơn, đây là hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi có giá trị cao về mặt sinh học với nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm.
Thực vật có 7 loài đặc hữu, quý hiếm nhƣ: Hoàng đàn, Nghiến, Trai lý, Cây một lá, Đinh, Thiên tuế. Động vật có 15 loài nhƣ: Hƣơu Xạ, Voọc đen má trắng, Voọc đen tuyền, Gấu ngựa, Trăn đất Tuy nhiên hiện nay, thành phần và số lƣợng các loài động, thực vật, vi sinh vật rừng đã giảm đi nhiều một số loại đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng do việc khai thác quá mức của con ngƣời. Vùng đệm RĐD Hữu Liên trải rộng trên địa bàn 5 xã của 3 huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn với tổng diện tích tự nhiên là 26. Tại đây có 5 dân tộc Kinh, Tầy, Nùng, Dao, Mông sinh sống, với tổng số 18.
Địa hình vùng đệm biến đổi đa dạng do những ngọn đồi thấp nhấp nhô dƣới chân núi. Diện tích đất canh tác của ngƣời dân không lớn, đất có độ dốc cao, có nhiều đá lẫn và đã đƣợc khai thác và sử dụng trong nhiều năm. Thực tế là các hoạt động sử dụng đất và khai thác TNR vùng RĐD Hữu Liên trong những thập kỷ gần đây đã làm cạn kiệt nguồn TNR, hiện tƣợng xói mòn đất nghiêm trọng ở nhiều nơi và các khu đất màu mỡ bị mất đi đã làm suy giảm năng suất cây trồng. Từ khi ban quản lý (BQL) RĐD Hữu Liên đƣợc thành lập đến nay, mặc dù diện tích đất và rừng thuộc quyền quản lý của BQL, nhƣng việc sử dụng đất và khai thác TNR bởi các CĐĐP vẫn còn đang diễn ra và tiếp tục làm suy giảm TNR.
Trƣớc tình hình đó, Nhà nƣớc ta đã triển khai một số chƣơng trình, dự án hỗ trợ cho vùng đệm với số tiền không nhỏ, tuy nhiên các dự án này chƣa thực sự có tác dụng ngăn chặn những tác động bất lợi của các CĐĐP tới TNR tại RĐD Hữu Liên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 Vậy vấn đề đặt ra là tại sao lại nhƣ vậy và có thể có giải pháp nào làm giảm thiểu đƣợc những tác động bất lợi của các CĐĐP vùng đệm tới TNR RĐD Hữu Liên Chính vì câu hỏi này, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương trong vùng đệm đến tài nguyên rừng rừng đặc dụng Hữu Liên, Hữu Lũng, Lạng Sơn. Để giải quyết vấn đề trên, chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu cần thiết phải trả lời đƣợc các câu hỏi: CĐĐP vùng đệm RĐD Hữu Liên tác động bất lợi tới TNR bằng những hình thức nào? Những nguyên nhân nào dẫn đến sự tác động bất lợi của các CĐĐP vùng đệm RĐD Hữu Liên tới TNR? Qua đây nhằm đề xuất một số giải pháp làm giảm thiểu sự tác động bất lợi của CĐĐP tới TNR và đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội địa phƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái niệm về CĐĐP và vùng đệm. Khái niệm CĐĐP (Local Community) Khái niệm về cộng đồng đƣợc sử dụng nhiều trong các nghiên cứu, tuy nhiên chƣa có sự thống nhất chung về mặt từ ngữ. Theo Darcy Davis Case (1990), cộng đồng địa phƣơng là nhóm ngƣời sống trên cùng một khu vực, thƣờng cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung và/hoặc có quan hệ gia đình với nhau [23, trang 50]. Một khái niệm khác đƣợc Phạm Xuân Phƣơng (2001) sử dụng trong báo cáo tại Hội thảo quốc gia “Khuôn khổ chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” đƣợc tổ chức tại Hà Nội từ ngày 14-15/11/2001 là “cộng đồng bao gồm toàn thể những ngƣời sống thành một xã hội có những điểm tƣơng đồng về mặt văn hoá truyền thống, có mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thƣờng có ranh giới không gian trong một làng bản” [19, trang 1-8].
Trong bài phát biểu của Giáo sƣ Lê Quý An về “Quan hệ đồng tác trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” tại hội thảo “Vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam”, cộng đồng đƣợc định nghĩa là nhóm ngƣời sống tại cùng một địa phƣơng hoặc dƣới sự quản lý của cùng một chính quyền địa phƣơng [31]. Nhƣ vậy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cƣ thôn, làng, bản, cộng đồng các dòng họ, các nhóm ngƣời có những đặc điểm và lợi ích chung. Trong phạm vi nghiên cứu này, cộng đồng đƣợc hiểu theo nghĩa CĐĐP và là thôn xóm. Khái niệm vùng đệm (Buffer Zone) Quan niệm về vùng đệm bắt đầu đƣợc đề cập vào khoảng năm 1950.
Khi Khu bảo tồn Nerfu ở Zambia Luangua gặp phải thách thức trƣớc nhu cầu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 cuộc sống và tập quán của ngƣời dân địa phƣơng, họ đã quan tâm đến việc cho phép các CĐĐP đƣợc săn bắn theo phƣơng thức truyền thống. Ở Vƣờn quốc gia Corbet ở Ấn Độ, ngƣời dân địa phƣơng cũng đƣợc quyền thu hoạch và khai thác các sản phẩm không phải là gỗ trong một số khu rừng bán tự nhiên. Tại hội nghị về khu bảo tồn và VQG lần thứ III do IUCN tổ chức tại Bali năm 1982 đã đề cập đến việc đáp ứng nhu cầu của ngƣời dân địa phƣơng thông qua việc xây dựng các vùng đệm. Vấn đề này đã đƣợc thảo luận nhiều hơn trong Hội nghị MAB/UNESCO về Chƣơng trình hành động cho các khu bảo tồn sinh quyển, đƣợc tổ chức tại Minsk (Liên Xô cũ) năm 1984.
Trên cơ sở đó, có rất nhiều khái niệm về vùng đệm đƣợc đƣa ra [14]. Theo Jeffey Sayer (1991) thì “Vùng đệm là vùng đất nằm xung quanh vƣờn quốc gia hay khu bảo tồn mà ở đó việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên có hạn chế, hay ở đó các biện pháp quản lý đặc biệt về phát triển nhằm nâng cao hiệu quả của công việc bảo vệ”. Michael Brow Barbara Uryckoff - Baird (1994) cho rằng: “Vùng đệm là vùng nằm trong hoặc tiếp giáp với khu bảo tồn, tại đó mối quan hệ hài hoà giữa môi trƣờng tự nhiên và con ngƣời đƣợc chú trọng, mục tiêu của việc quản lý vùng đệm là tối ƣu hoá những giá trị văn hoá, xã hội, sinh thái và tài nguyên thông qua việc quản lý tích cực, thích ứng, công bằng với tất cả các nhóm và cho phép thay đổi giá trị đối với thời gian”. GTZ (1996) thì quan niệm rằng: “Vùng đệm và vùng chuyển tiếp là những vùng đất nằm ngoài hay trong khu bảo tồn.
Các vùng này có chức năng tạo thuận lợi cho khu bảo tồn và cho cuộc sống của dân cƣ ở đây. Dân cƣ sinh sống ở đây luôn là tiềm năng trực tiếp ảnh hƣởng đến khu bảo tồn”. Tại Hội thảo quốc gia về sự tham gia của CĐĐP trong quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đƣợc tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 17-18 tháng 12 năm 1997, khái niệm vùng đệm đã đƣợc đƣa ra thảo luận. Một số khái niệm đƣợc đề cập tới trong hội thảo là [21]: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Vùng đệm là “Vùng đất nằm ngoài khu bảo tồn hay vƣờn quốc gia, tại đó việc sử dụng đất đã phần nào đƣợc hạn chế, nhằm tạo thành một vành đai bảo vệ bổ sung cho khu bảo tồn, đồng thời giúp cho nhân dân sinh sống trong vung đƣợc bù đắp phần nào những thiệt thòi do việc thành lập các khu bảo tồn đó gây ra” (Mackinnon, 1981, 1986).