Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Quản lý tài nguyên và Môi trường (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) của tác giả Lý Thái Huy tập trung vào mối quan hệ giữa sinh kế cộng đồng dân cư vùng đệm và công tác bảo tồn tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.
KBTTN Bát Đại Sơn được thành lập theo Quyết định số 2601/QĐ-UB ngày 06/10/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang với nhiệm vụ bảo tồn hệ sinh thái núi đá vôi, các nguồn gen quý hiếm và duy trì chức năng phòng hộ đầu nguồn. Khu vực này nằm trong vùng Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn, nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số với đời sống kinh tế khó khăn, tập quán canh tác lạc hậu và sinh kế gắn liền với tài nguyên thiên nhiên. Mâu thuẫn nảy sinh khi việc xác lập ranh giới bảo tồn làm hạn chế quyền tiếp cận đất đai và lâm sản truyền thống của người dân, trong khi các phương thức tạo thu nhập thay thế chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm hai nội dung chính:
- Nghiên cứu những tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng, hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hình thức và mức độ tác động bất lợi của người dân địa phương vùng đệm đến tài nguyên rừng tại KBTTN Bát Đại Sơn.
- Phạm vi không gian: Địa bàn KBTTN Bát Đại Sơn và 04 xã vùng đệm thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang (gồm xã Bát Đại Sơn, Cán Tỷ, Thanh Vân, Nghĩa Thuận).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và khảo sát thực địa được thực hiện từ ngày 28/02/2019 đến ngày 10/05/2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và luận cứ khoa học
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên bốn cơ sở lý luận và quan điểm tiếp cận chính:
- Lý thuyết hệ thống: Xem xét tương tác hai chiều giữa hệ thống kinh tế – xã hội của cộng đồng địa phương và hệ thống tự nhiên của tài nguyên rừng. Hiệu quả kinh tế và nhu cầu sinh kế quyết định mức độ tác động vào rừng, do đó việc giải quyết các áp lực sinh thái phải xuất phát từ việc điều chỉnh các yếu tố kinh tế và xã hội.
- Quan điểm sinh thái – nhân văn: Áp dụng mô hình Tháp sinh thái – nhân văn của Robert E. Park (1936), phân tích hoạt động của con người dưới sự chi phối tuần tự của 4 bậc: Bậc sinh thái (yếu tố vật lý, địa hình, khí hậu), Bậc kinh tế (sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường), Bậc thể chế (chính sách, tổ chức cộng đồng, quản lý nhà nước) và Bậc đạo đức (văn hóa, nhận thức, tập quán bản địa).
- Quan điểm bảo tồn – phát triển: Dựa trên khung phân tích tích hợp bảo tồn và phát triển, tác giả áp dụng hai cách tiếp cận: (1) Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế nhằm giảm tải áp lực khai thác rừng; (2) Cách tiếp cận có sự tham gia trong quy hoạch và chia sẻ lợi ích quản lý tài nguyên.
- Phương pháp tiếp cận có sự tham gia: Dựa trên thang phân loại 7 mức độ tham gia của Hosley (1996), nghiên cứu lựa chọn cấp độ tham gia thứ 3 (tham gia qua hình thức tư vấn, phỏng vấn và cung cấp thông tin).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp:
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu từ Ban quản lý rừng đặc dụng Bát Đại Sơn, Hạt Kiểm lâm huyện Quản Bạ, UBND các xã vùng đệm; các văn bản quy phạm pháp luật liên quan (như Chỉ thị số 286/TTg năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 194-CT năm 1986, Quyết định số 1171/QĐ năm 1986).
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA):
- Khảo sát thực địa tại 4 thôn đại diện cho 4 xã vùng đệm: thôn Sán Trồ (xã Bát Đại Sơn), thôn Đầu Cầu I (xã Cán Tỷ), thôn Lùng Cúng (xã Thanh Vân) và thôn Xín Cái (xã Nghĩa Thuận).
- Phỏng vấn sâu Ban quản lý thôn và cán bộ kiểm lâm quản lý địa bàn.
- Phỏng vấn bán định hướng đối với mẫu ngẫu nhiên có hệ thống gồm 60 hộ gia đình thuộc các nhóm hộ nghèo, cận nghèo và trung bình.
- Xử lý và phân tích số liệu: Số liệu định lượng được tổng hợp và phân tích thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel; các thông tin định tính về thể chế, chính sách và tập quán được phân tích theo khung đánh giá PRA.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài, đặt trong bối cảnh xung đột giữa yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt của khu rừng đặc dụng trên núi đá vôi và nhu cầu sinh tồn của cư dân bản địa. Xác định rõ mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ quản lý rừng bền vững.
Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Tổng hợp các khái niệm học thuật về vùng đệm theo định nghĩa của IUCN và quy chế quản lý rừng tại Việt Nam; khái niệm cộng đồng địa phương. Rà soát các mô hình quản trị vườn quốc gia trên thế giới (điển hình như Yellowstone tại Mỹ, Kakadu tại Úc, Wasur tại Indonesia, Phu Kheio tại Thái Lan) và các công trình nghiên cứu trong nước (tại Vườn quốc gia Cúc Phương, Pù Mát, Tam Đảo, Ba Vì). Khái quát hóa phương pháp luận dựa trên lý thuyết hệ thống, tháp sinh thái nhân văn và tiếp cận có sự tham gia.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là những tác động tiêu cực của cư dân vùng đệm tới tài nguyên rừng KBTTN Bát Đại Sơn. Trình bày chi tiết tiến trình nghiên cứu theo 4 nội dung chính: (1) Khái quát khu vực nghiên cứu; (2) Thực trạng tác động bất lợi của người dân; (3) Phân tích nguyên nhân kinh tế – xã hội; (4) Đề xuất các nhóm giải pháp. Mô tả cụ thể quy trình chọn 4 điểm thôn nghiên cứu, cỡ mẫu điều tra 60 hộ gia đình và sơ đồ các bước thực hiện.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chương 4 tập trung làm rõ các kết quả điều tra thực địa:
1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên sinh vật KBTTN Bát Đại Sơn
- Diện tích và hiện trạng đất đai: Tổng diện tích tự nhiên đạt 4.957,0 ha; trong đó đất có rừng là 3.989,1 ha (tỷ lệ che phủ 86,8%), bao gồm 3.911,7 ha rừng tự nhiên và 77,4 ha rừng trồng. Đất trống chưa có rừng chiếm 607,9 ha (13,2%), đất nông nghiệp và đất khác chiếm 35,1 ha.
- Hệ thực vật: Ghi nhận 708 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 432 chi và 135 họ. Phân bố theo 2 kiểu thảm thực vật chính: Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp từ độ cao $\ge$ 700 m (diện tích 4.670,07 ha) và Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp độ cao < 700 m (diện tích 282,25 ha). Khu hệ có các loài quý hiếm như Bách xanh, Bách vàng, Thông đỏ, Thiết sam giả lá ngắn, Nghiến, Trai, Mun; diện tích trồng Thảo quả dưới tán rừng đạt 273,0 ha.
- Hệ động vật: Thống kê được 198 loài động vật có xương sống, gồm 49 loài thú (8 bộ, 23 họ), 104 loài chim (10 bộ, 29 họ), 22 loài bò sát (2 bộ, 9 họ) và 23 loài lưỡng cư (1 bộ, 7 họ).
2. Đặc điểm kinh tế – xã hội vùng đệm
- Dân số và dân tộc: Khu vực có 6 dân tộc cư trú, trong đó người H'Mông chiếm 84%, Dao chiếm 8,2%, Nùng chiếm 6,2%, các dân tộc khác chiếm 0,7%. Toàn vùng đệm 4 xã có 33 thôn bản với 3.893 hộ gia đình, mật độ dân số trung bình 98 người/km². Riêng 3 thôn nằm hoàn toàn trong vùng lõi (Pải Chư Phìn, Xà Phìn, Thào Chư Phìn) có 139 hộ với 807 nhân khẩu.
- Lao động và việc làm: Số người trong độ tuổi lao động là 8.211 người (chiếm 51,66% dân số). Lao động làm nông – lâm nghiệp chiếm 93,31%, lao động phổ thông chiếm trên 93%. Thời gian sử dụng lao động trung bình đạt 189 ngày/năm, tỷ lệ lao động nhàn rỗi thời điểm nông nhàn chiếm từ 8 – 10%.
- Sản xuất nông nghiệp: Trồng trọt chiếm 70% giá trị sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi chiếm 29%, dịch vụ chiếm 1%. Năm 2018, sản lượng lương thực toàn vùng đạt 8.772,02 tấn (thóc 1.783,12 tấn trên diện tích 335,09 ha; ngô 1.689,0 ha; đậu tương 720,23 ha; sắn 89,0 ha; khoai lang 61,0 ha). Bình quân lương thực đạt 551,93 kg/người/năm. Tổng đàn gia súc đạt 21.748 con (lợn 13.680 con, trâu 1.225 con, bò, ngựa 342 con, dê 1.262 con).
3. Các hình thức tác động bất lợi đến tài nguyên rừng
- Chặt phá rừng làm nương rẫy: Thiếu đất canh tác dẫn đến hiện tượng lén lút phá rừng; canh tác nương rẫy sau 7 – 10 năm làm đất bị kiệt quệ dinh dưỡng, thảm thực bì bị suy thoái.
- Chăn thả gia súc tự do: Người dân duy trì tập quán thả rông bò, trâu vào rừng đặc biệt là sau vụ thu hoạch ngô. Tần suất chăn thả khảo sát từ 2 đến 7 lần/tuần/hộ. Gia súc dẫm đạp làm gãy cành, phá hủy tầng cây tái sinh, nén chặt đất và gây xói mòn mạnh trên các sườn dốc karst, đồng thời cạnh tranh thức ăn với các loài thú móng guốc tự nhiên.
- Khai thác gỗ quý hiếm: Tình trạng chặt trộm các loài gỗ nhóm IA, IIA (Nghiến, Bách xanh, Bách vàng, Thông đỏ, Mun, Trai) phục vụ dựng nhà (làm cột), đóng đồ dùng gia đình và bán sang biên giới làm đồ mỹ nghệ, ván quan tài.
- Thu hái lâm sản ngoài gỗ (LSNG) và săn bắt: Khai thác tự phát quanh năm các loài cây thuốc nam (Thuốc đắng, Cốt toái bổ, Kim ngân), măng rừng, phong lan tím, mật ong làm thay đổi cấu trúc thảm thực vật dưới tán rừng.
4. Cơ cấu thu nhập và các nhóm nguyên nhân tác động
Thu nhập bình quân đầu người toàn vùng năm 2018 là 9,03 triệu đồng/năm (Bát Đại Sơn: 7,10 triệu; Cán Tỷ: 7,50 triệu; Nghĩa Thuận: 10,50 triệu; Thanh Vân: 11,00 triệu), mức thu nhập này chỉ đủ đảm bảo nhu cầu đời sống từ 9 – 10 tháng/năm. Khoảng thiếu hụt lương thực và chi tiêu buộc người dân phải tìm kiếm nguồn bù đắp từ rừng.
| Nhóm hộ gia đình |
Trồng trọt, chăn nuôi (tr.đ) |
Kinh doanh, dịch vụ (tr.đ) |
Nguồn khác/Khai thác tự nhiên (tr.đ) |
Tổng thu nhập (tr.đ/năm) |
| Hộ nghèo |
22,0 |
0,0 |
10,0 |
32,0 |
| Hộ cận nghèo |
26,9 |
0,0 |
12,3 |
39,2 |
| Hộ trung bình |
31,8 |
5,2 |
14,3 |
51,3 |
| Bình quân |
26,9 |
1,7 |
12,2 |
40,8 |
Nguyên nhân cơ bản:
- Nguyên nhân kinh tế: Thu nhập thấp, thiếu đất canh tác màu mỡ, thiếu vốn phát triển kinh tế hộ, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu thị trường tiêu thụ nông sản ổn định.
- Nguyên nhân xã hội: Trình độ dân trí thấp, thói quen phụ thuộc lâu đời vào rừng, sức ép nhân khẩu trẻ, lực lượng lao động dôi dư lúc nông nhàn không có việc làm phụ.
- Nguyên nhân thể chế và tổ chức: Năng lực thực thi quy chế vùng đệm của chính quyền cơ sở còn hạn chế; công tác phối hợp giữa Hạt Kiểm lâm, Ban quản lý khu bảo tồn và các thôn bản chưa đồng bộ; thiếu chế tài và sinh kế thay thế bền vững.
5. Đề xuất hệ thống giải pháp
Tác giả đưa ra 9 nhóm giải pháp cụ thể:
- Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nông nhàn.
- Phát triển mô hình quản lý rừng cộng đồng tại các thôn bản.
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi vùng cao.
- Khuyến khích sử dụng bếp tiết kiệm củi và tìm kiếm các nguồn chất đốt thay thế.
- Nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa chính quyền các cấp và Ban quản lý KBT.
- Phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng gắn với Công viên địa chất.
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế hộ gia đình, áp dụng tiến bộ kỹ thuật.
- Hỗ trợ chính sách vốn vay ưu đãi phục vụ sản xuất.
- Thực hiện giải pháp bảo tồn nghiêm ngặt nguồn gen các loài thực vật quý hiếm (Bách vàng, Bách xanh, Thông đỏ).
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp những kết luận then chốt rút ra từ nghiên cứu và kiến nghị các cấp quản lý hỗ trợ nguồn lực để triển khai đồng bộ các giải pháp sinh kế vùng đệm gắn với trách nhiệm giữ rừng của người dân địa phương.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng chính
- Đã hệ thống hóa toàn diện hiện trạng tài nguyên KBTTN Bát Đại Sơn với diện tích rừng tự nhiên là 3.911,7 ha, độ che phủ rừng đạt 86,8%, lưu giữ 708 loài thực vật có mạch và 198 loài động vật có xương sống.
- Khảo sát và chỉ ra thực trạng áp lực dân số với 3.893 hộ tại 33 thôn vùng đệm, trong đó có 139 hộ (807 nhân khẩu) sinh sống bên trong vùng lõi và 1.146 hộ nằm ở các thôn giáp ranh ranh giới bảo tồn.
- Xác định tỷ lệ lao động nhàn rỗi từ 8 – 10% và khoảng trống thu nhập khi mức bình quân 9,03 triệu đồng/người/năm chỉ đáp ứng 9 – 10 tháng sinh hoạt của hộ gia đình.
- Làm rõ cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ, trong đó nguồn thu ngoài nông nghiệp (bao gồm khai thác tài nguyên rừng và làm thuê) chiếm từ 27,8% đến 31,3% tổng thu nhập của hộ nghèo và cận nghèo.
- Lập danh mục chi tiết các loài lâm sản bị khai thác phục vụ tiêu dùng và thương mại hóa (Bách xanh, Bách vàng, Nghiến, Trai, Mun, Măng, Thuốc đắng, Phong lan...).
Đóng góp của đề tài
- Khóa luận đã chuyển dịch góc nhìn tiếp cận từ việc đánh giá tác động một chiều của khu bảo tồn lên đời sống người dân sang việc phân tích định lượng tác động của cộng đồng địa phương tới tài nguyên rừng và bóc tách các nguyên nhân gốc rễ về kinh tế – xã hội.
- Cung cấp bộ dữ liệu thực địa cập nhật năm 2018 – 2019 về cơ cấu thu nhập nông hộ, tập quán chăn thả gia súc và mức độ sử dụng lâm sản tại 4 xã vùng đệm KBTTN Bát Đại Sơn.
- Đề xuất hệ thống giải pháp dung hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế cộng đồng có tính ứng dụng cao cho Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu mới dừng lại ở việc khảo sát chọn mẫu đại diện trên 60 hộ gia đình tại 4 thôn điểm; thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ cuối tháng 2/2019 đến đầu tháng 5/2019); dữ liệu về sản lượng khai thác gỗ và săn bắt động vật hoang dã chủ yếu dựa trên lời khai và phỏng vấn định tính do tính chất nhạy cảm và bất hợp pháp của các hành vi này.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô điều tra trên toàn bộ 33 thôn bản; áp dụng các phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên rừng để đo lường chính xác giá trị lâm sản khai thác thực tế; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và các chuỗi giá trị cây dược liệu (Thảo quả, cây thuốc nam) nhằm tìm kiếm sinh kế thay thế hoàn toàn việc khai thác rừng tự nhiên.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Quản lý tài nguyên và Môi trường, Phát triển nông thôn.
- Cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý tại Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia có điều kiện tự nhiên núi đá vôi tương tự khu vực phía Bắc.
- Các nhà nghiên cứu quan tâm đến phương pháp đánh giá có sự tham gia (PRA), thiết kế bảng hỏi bán định hướng và phân tích cơ cấu kinh tế nông hộ vùng đệm rừng đặc dụng.
Câu hỏi thường gặp
1. KBTTN Bát Đại Sơn có diện tích tự nhiên bao nhiêu và tỷ lệ che phủ rừng đạt mức nào?
Tổng diện tích tự nhiên của KBTTN Bát Đại Sơn là 4.957,0 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 3.989,1 ha, đạt tỷ lệ che phủ 86,8% (gồm 3.911,7 ha rừng tự nhiên và 77,4 ha rừng trồng).
2. Quy mô mẫu điều tra thực địa của khóa luận được thực hiện như thế nào?
Nghiên cứu tiến hành điều tra bảng hỏi bán định hướng trên 60 hộ gia đình (thuộc các nhóm hộ nghèo, cận nghèo và trung bình) được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống tại 4 thôn thuộc 4 xã vùng đệm: Sán Trồ (Bát Đại Sơn), Đầu Cầu I (Cán Tỷ), Lùng Cúng (Thanh Vân) và Xín Cái (Nghĩa Thuận).
3. Những loài cây gỗ quý hiếm nào tại KBTTN Bát Đại Sơn chịu áp lực khai thác lớn nhất từ người dân?
Các loài cây gỗ quý nhóm IA và IIA bị khai thác nhiều gồm Bách xanh, Bách vàng, Thông đỏ, Thiết sam giả lá ngắn, Nghiến, Trai và Mun. Các loài này bị khai thác để làm cột nhà, đồ gia dụng hoặc bán sang Trung Quốc làm đồ mỹ nghệ và ván quan tài.
4. Mức thu nhập bình quân đầu người tại các xã vùng đệm là bao nhiêu và đáp ứng được đời sống sinh hoạt như thế nào?
Thu nhập bình quân đầu người của 4 xã vùng đệm năm 2018 đạt 9,03 triệu đồng/người/năm (xã Bát Đại Sơn thấp nhất với 7,10 triệu đồng; xã Thanh Vân cao nhất với 11,00 triệu đồng). Mức thu nhập này chỉ đảm bảo nhu cầu sinh hoạt cho các hộ gia đình từ 9 đến 10 tháng/năm.
5. Hoạt động chăn thả gia súc tự do trong rừng gây ra những tác động tiêu cực gì đối với KBTTN Bát Đại Sơn?
Tập quán thả rông gia súc (đặc biệt là bò với tần suất từ 2 đến 7 lần/tuần) làm giẫm đạp chết cây con tái sinh, làm gãy cành, nén chặt và xói mòn đất dốc karst, cạnh tranh thức ăn trực tiếp với nhóm thú móng guốc tự nhiên và làm tăng nguy cơ lây truyền dịch bệnh từ vật nuôi sang động vật hoang dã.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Lý Thái Huy đã phản ánh toàn diện bức tranh tương tác giữa đời sống kinh tế – xã hội của cộng đồng dân tộc thiểu số vùng đệm và công tác quản lý tài nguyên rừng tại KBTTN Bát Đại Sơn. Các dữ liệu định lượng về cơ cấu nguồn thu, mức độ chăn thả và khai thác lâm sản đã làm sáng tỏ nguyên nhân sâu xa dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học là do áp lực thiếu hụt sinh kế và đất sản xuất. Hệ thống 9 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế hộ gia đình với tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và gắn kết cộng đồng trong bảo tồn rừng đặc dụng.