Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng thuộc tỉnh Quảng Ninh sở hữu tổng diện tích tự nhiên 16.218,9 ha, trong đó diện tích đất có rừng đạt 13.443,6 ha, chiếm tỷ lệ che phủ 79,6%. Đây là khu vực lưu giữ hệ sinh thái rừng kín thường xanh núi thấp nguyên vẹn và tập trung lớn nhất vùng Đông Bắc Việt Nam. Theo thống kê của Viện Dược liệu, Việt Nam hiện có 3.948 loài cây thuốc, riêng tỉnh Quảng Ninh đã ghi nhận trên 500 loài. Tuy nhiên, trước áp lực khai thác tự phát và nạn phá rừng cục bộ, nguồn tài nguyên thực vật quý giá tại Đồng Sơn - Kỳ Thượng đứng trước nguy cơ cạn kiệt nghiêm trọng.

Nghiên cứu được triển khai với mục tiêu xác lập cơ sở dữ liệu khoa học về tính đa dạng thành phần loài, dạng sống, sinh cảnh phân bố, đồng thời đánh giá thực trạng khai thác và đúc kết tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 5 xã gồm Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Đồng Lâm, Vũ Oai, Hòa Bình thuộc huyện Hoành Bồ trong khung thời gian từ tháng 3/2013 đến tháng 10/2013.

Kết quả nghiên cứu đã định danh chính xác 428 loài cây thuốc tự nhiên thuộc 330 chi và 125 họ, đóng góp cơ sở dữ liệu nền tảng cho công tác quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp tỉnh. Về mặt kinh tế xã hội, đề tài mở ra hướng đi bền vững nhằm chuyển đổi sinh kế cho 34 hộ dân sinh sống tại vùng lõi và hơn 2.200 nhân khẩu tại vùng đệm, với mục tiêu giảm tỷ lệ đói nghèo 45% tại địa phương thông qua phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu dưới tán rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sinh thái học quần xã và động thái thảm thực vật nhiệt đới gió mùa để phân tích mối tương quan giữa sự phân bố của các loài thực vật làm thuốc với điều kiện lập địa, thổ nhưỡng và đai cao. Khung lý thuyết bảo tồn đa dạng sinh học tại chỗ (In-situ) và bảo tồn chuyển chỗ (Ex-situ) được kết hợp với lý thuyết Tri thức sinh thái bản địa (Traditional Ecological Knowledge) nhằm làm rõ vai trò của cộng đồng người Dao trong việc thu hái, sử dụng và duy trì nguồn gen.

Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Dạng sống thực vật (Life form): Phân loại cấu trúc hình thái thích nghi gồm cây thân thảo, cây bụi, dây leo, cây gỗ và cây thân cột.
  2. Tổ thành loài (Species composition): Tỷ lệ tham gia và mức độ ưu thế của từng loài trong cấu trúc tầng tán lâm phần theo công thức định lượng.
  3. Độ phong phú sinh học (Species richness): Chỉ số phản ánh số lượng taxon loài, chi, họ trên từng đơn vị diện tích và sinh cảnh.
  4. Giá trị bảo tồn nguồn gen: Mức độ nguy cấp của loài cây thuốc dựa trên thang đánh giá của Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Danh lục Đỏ Cây thuốc Việt Nam năm 2006.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các phương pháp điều tra lâm học thực địa, xã hội học nông thôn có sự tham gia và phân tích dữ liệu chuyên ngành:

  • Thiết kế tuyến khảo sát: Thiết lập 8 tuyến điều tra thực địa với tổng chiều dài 68 km, cắt ngang các dải địa hình từ 40 m đến 1.090 m qua các tiểu khu trọng điểm như 56, 58, 59, 60, 70, 72 và 80A.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Bố trí 120 ô tiêu chuẩn điển hình hình vuông có kích thước 10 m x 10 m (diện tích 100 m2/ô). Mẫu được phân tầng đồng đều trên 4 trạng thái sinh cảnh chính: 30 ô tại rừng gỗ tự nhiên, 30 ô tại rừng tre nứa thuần loài, 30 ô tại rừng hỗn giao gỗ tre nứa và 30 ô trên đất chưa có rừng. Việc chọn mẫu phân tầng giúp phản ánh khách quan cấu trúc thực bì và trữ lượng phân bố dược liệu.
  • Phương pháp thu thập và xử lý mẫu: Đánh giá độ nhiều của loài theo thang chuẩn Drude (Soc, cop1, cop2, cop3), phân loại chiều cao sinh trưởng theo 3 cấp độ (dưới 1 m, 1,1 m đến 3 m, trên 3 m) và thẩm định chất lượng cây. Thu thập 60 mẫu tiêu bản thực vật khô, xử lý bằng cồn, foocmol và HgCl2 theo quy chuẩn của Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam.
  • Điều tra xã hội học và phân tích dữ liệu: Phỏng vấn sâu các già làng, thầy lang người Dao và cán bộ kiểm lâm địa bàn. Dữ liệu được tổng hợp, phân tích ma trận tổ thành loài và phân loại taxon khoa học thông qua phần mềm Microsoft Excel chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận và định lượng cụ thể các chỉ số đa dạng tài nguyên thực vật làm thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng qua các kết quả then chốt:

  1. Đa dạng taxon bậc cao: Tổng cộng có 428 loài cây thuốc mọc tự nhiên thuộc 330 chi và 125 họ thuộc 4 ngành thực vật bậc cao có mạch và nhóm Nấm. Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế áp đảo với 409 loài (chiếm 95,56% tổng số loài), 314 chi và 114 họ. Trong đó, lớp Ngọc lan (Hai lá mầm) chiếm 333 loài, còn lớp Hành (Một lá mầm) đóng góp 76 loài. Ngành Dương xỉ ghi nhận 13 loài, ngành Thông đất có 3 loài, nhóm Nấm có 2 loài và ngành Thông có 1 loài.
  2. Cấu trúc các họ ưu thế: Có 18 họ thực vật tập trung từ 6 đến 24 loài làm thuốc. Đứng đầu là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 24 loài, họ Cúc (Asteraceae) với 22 loài, họ Đậu (Fabaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) cùng có 17 loài, họ Ráy (Araceae) có 13 loài. Ngược lại, có tới 107 họ (chiếm 85,60%) chỉ có từ 1 đến 5 loài.
  3. Đa dạng về dạng sống: Cây thân thảo chiếm tỷ lệ cao nhất với 159 loài (tương đương 38,78%), tiếp theo là cây bụi với 124 loài (30,24%), dây leo có 72 loài (17,56%), cây thân gỗ có 50 loài (12,20%) và cây thân cột có 5 loài (1,22%).
  4. Phân hóa theo đai cao và sinh cảnh: Số lượng loài giảm rõ rệt theo chiều cao địa hình. Tại đai cao dưới 300 m ghi nhận 60 loài xuất hiện trong các ô tiêu chuẩn, nhưng khi lên đai cao trên 700 m, số lượng loài giảm 30%, chỉ còn lại 42 loài.
  5. Danh mục loài có nhu cầu thương mại lớn: Xác định được 39 loài và nhóm loài dược liệu có nhu cầu thị trường rất cao, tiêu biểu như Cẩu tích (nhu cầu cả nước 300-500 tấn/năm), Chè dây (100-200 tấn/năm), Bách bộ (khoảng 100 tấn/năm), Thiên niên kiện (trên 100 tấn/năm), Thổ phục linh và Sa nhân (vài trăm tấn/năm).

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm số lượng loài cây thuốc theo đai cao (từ 60 loài ở đai dưới 300 m xuống 42 loài ở đai trên 700 m) bắt nguồn từ sự thay đổi khí hậu cục bộ mang tính á nhiệt đới núi cao và độ dốc hiểm trở (trên 30-40 độ), tạo nên sinh cảnh hẹp chỉ thích ứng với các loài bản địa đặc hữu như Ba kích, Củ bình vôi, Cốt toái bổ hay Tắc kè đá. Các dữ liệu về dạng sống và cấu trúc tổ thành theo đai cao có thể được biểu diễn trực quan bằng biểu đồ tròn tỷ lệ phần trăm dạng sống và biểu đồ cột so sánh số lượng loài giữa các tầng đai nhằm làm rõ xu hướng phân bố không gian.

Khi đối chiếu với các khu bảo tồn lân cận, mức độ phong phú 428 loài tại Đồng Sơn - Kỳ Thượng tương đương với Vườn quốc gia Bạch Mã (585 loài) và Rừng Hoàng Liên Sơn (866 loài). Điều này khẳng định đây là kho dự trữ gen thảo dược trọng yếu của miền Bắc. Tuy nhiên, áp lực dân sinh từ 34 hộ dân vùng lõi cùng tập quán khai thác rễ, củ tự nhiên mang tính tận diệt (chiếm tới 60% hoạt động khai thác) đang đe dọa trực tiếp đến khả năng tái sinh của các loài quý hiếm như Hoàng tinh cách, Phòng kỷ lá tròn và Quảng phòng kỷ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn nguyên vẹn tính đa dạng sinh học và phát triển kinh tế bền vững từ tài nguyên cây thuốc, các giải pháp mang tính khả thi cao cần được triển khai đồng bộ:

  1. Phân vùng bảo tồn nghiêm ngặt nguồn gen quý: Ban quản lý Khu bảo tồn cần phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm địa bàn tiến hành cắm mốc ranh giới, kiểm soát chặt chẽ 5 tiểu khu trọng điểm (TK 56, 58, 59, 60, 70) trong giai đoạn 2014-2020. Mục tiêu giảm 80% tình trạng khai thác dược liệu trái phép tại vùng lõi 15.021,7 ha rừng đặc dụng.
  2. Phát triển mô hình trồng bán tự nhiên dưới tán rừng: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh chủ trì xây dựng 50 ha mô hình gây trồng thử nghiệm các loài có giá trị thương mại lớn gồm Chè dây, Sa nhân, Ba kích và Cẩu tích tại vùng đệm. Ứng dụng phương pháp nhân giống In-vitro và kỹ thuật lâm sinh tiên tiến nhằm nâng thu nhập bình quân của các hộ gia đình lên 30-40% trong lộ trình 2015-2025.
  3. Thành lập Hợp tác xã liên kết tiêu thụ sản phẩm: Ủy ban nhân dân huyện Hoành Bồ đóng vai trò cầu nối liên kết các hộ đồng bào người Dao với doanh nghiệp sản xuất dược phẩm. Xây dựng chuỗi giá trị thu hái đạt chuẩn GACP-WHO, cam kết bao tiêu 100% sản lượng dược liệu sơ chế đạt chuẩn kỹ thuật.
  4. Triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và chuyển giao tri thức: Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp cho 34 hộ dân vùng lõi tham gia nhận khoán bảo vệ rừng dược liệu. Đồng thời, biên soạn tài liệu hướng dẫn kỹ thuật thu hái bền vững, lồng ghép tri thức cổ truyền của người Dao vào các chương trình khuyến lâm cộng đồng trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và số liệu khoa học của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý lâm nghiệp và Ban quản lý rừng đặc dụng: Cung cấp cơ sở dữ liệu hiện trạng 428 loài và bản đồ tuyến ô tiêu chuẩn giúp Chi cục Kiểm lâm và Ban quản lý Khu bảo tồn xây dựng phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 5-10 năm.
  2. Doanh nghiệp và Hợp tác xã sản xuất dược liệu: Cung cấp thông tin chi tiết về trữ lượng, phân bố tự nhiên và đặc điểm sinh học của 39 loài thương mại (như Chè dây, Cẩu tích, Bách bộ) để xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn.
  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điều tra thực vật học, xử lý mẫu tiêu bản lâm nghiệp và kỹ thuật phân tích ma trận tổ thành loài theo đai cao.
  4. Chính quyền địa phương và các tổ chức phát triển nông thôn: Căn cứ thực tiễn để hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo cho 45% hộ nghèo người Dao tại vùng đệm thông qua các dự án sinh kế lâm sản ngoài gỗ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng có bao nhiêu loài cây dược liệu mọc tự nhiên? Nghiên cứu đã phát hiện và lập danh lục 428 loài cây thuốc mọc tự nhiên, thuộc 330 chi, 125 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch và nhóm Nấm. Trong đó, ngành Ngọc lan chiếm ưu thế với 409 loài, tương đương 95,56% tổng số loài cây thuốc được ghi nhận.

  2. Những loài cây thuốc nào tại khu vực nghiên cứu đang có nhu cầu khai thác thương mại cao nhất? Luận văn xác định 39 loài có nhu cầu thị trường lớn, nổi bật là Cẩu tích (nhu cầu tiêu thụ 300-500 tấn/năm), Chè dây (100-200 tấn/năm), Bách bộ (khoảng 100 tấn/năm), Thiên niên kiện (trên 100 tấn/năm) cùng các loài Sa nhân và Thổ phục linh đạt sản lượng khai thác hàng trăm tấn mỗi năm.

  3. Vì sao số lượng loài cây thuốc lại suy giảm ở các đai độ cao trên 700 m? Tại đai cao trên 700 m chỉ ghi nhận 42 loài so với 60 loài ở đai dưới 300 m. Nguyên nhân chính do khí hậu chuyển sang tính chất á nhiệt đới núi cao, địa hình dốc đứng từ 30 đến 50 độ và tầng đất mỏng, tạo ra hoàn cảnh sinh thái đặc thù hạn chế sự thích nghi của các loài thực vật thông thường.

  4. Vai trò của đồng bào dân tộc Dao trong việc bảo tồn cây thuốc tại địa phương như thế nào? Người Dao chiếm tới 99% dân số trong khu vực và nắm giữ kho tàng tri thức bản địa phong phú về thu hái, sơ chế cây thuốc gia truyền. Việc chuyển đổi từ khai thác tự nhiên sang gây trồng bán tự nhiên sẽ giúp họ trở thành lực lượng nòng cốt bảo vệ 13.443,6 ha rừng đặc dụng.

  5. Phương pháp chọn mẫu nào đã được áp dụng để đảm bảo tính đại diện của nghiên cứu? Tác giả đã thiết lập 120 ô tiêu chuẩn kích thước 100 m2 phân bố đều trên 8 tuyến khảo sát dài 68 km. Các ô được chia đều cho 4 trạng thái sinh cảnh rừng (30 ô/sinh cảnh) kết hợp đo đếm theo thang Drude, đảm bảo tính đại diện và độ chính xác cao cho toàn bộ khu bảo tồn.

Kết luận

  • Đã xác lập danh mục toàn diện gồm 428 loài cây thuốc thuộc 330 chi, 125 họ thực vật và Nấm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng.
  • Làm rõ cấu trúc dạng sống với nhóm cây thân thảo chiếm ưu thế 38,78% (159 loài) và chỉ ra quy luật suy giảm 30% số loài từ đai thấp lên đai cao trên 700 m.
  • Xác định 39 loài cây dược liệu có giá trị kinh tế và nhu cầu sử dụng cao trên thị trường, cung cấp cơ sở cho việc phát triển chuỗi cung ứng thương mại.
  • Đánh giá vai trò tri thức bản địa của cộng đồng người Dao chiếm 99% dân số, chỉ rõ sự cần thiết phải gắn bảo tồn rừng với giải quyết bài toán 45% hộ nghèo.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về khoanh nuôi bảo tồn In-situ, nhân giống Ex-situ 50 ha dược liệu dưới tán rừng và liên kết doanh nghiệp giai đoạn 2014-2025.

Kế hoạch hành động tiếp theo đòi hỏi Ban quản lý Khu bảo tồn và Ủy ban nhân dân địa phương nhanh chóng triển khai cắm mốc quy hoạch phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trong giai đoạn 2014-2020, đồng thời mở rộng mô hình sinh kế trồng dược liệu bán tự nhiên từ năm 2020 đến 2025. Các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp dược phẩm và tổ chức bảo tồn cần chung tay đầu tư nguồn lực tài chính, chuyển giao công nghệ chế biến nhằm bảo vệ vững chắc kho tàng dược liệu quý giá tại vùng Đông Bắc Việt Nam.