Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hơn 2/3 diện tích tự nhiên là đồi núi, tạo nên hệ thực vật rừng phong phú với nhiều loài cây gỗ và lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có giá trị kinh tế, sinh thái cao. Từ lâu đời, đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống tại các vùng rừng núi đã có tập quán và tri thức bản địa trong việc khai thác các nguồn LSNG để phục vụ nhu cầu lương thực, thực phẩm và làm thuốc chữa bệnh.

Tính đến năm 2010, ngành lâm nghiệp Việt Nam quản lý khoảng 13,3 triệu ha rừng, bao gồm gần 11 triệu ha rừng tự nhiên và hơn 2,9 triệu ha rừng trồng. Tuy nhiên, dân số gia tăng cùng áp lực kinh tế đã làm gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên trong khi diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm. Nền sản xuất lâm nghiệp truyền thống trước đây chủ yếu chú trọng vào khai thác gỗ mà xem nhẹ các sản phẩm ngoài gỗ, dẫn đến tình trạng suy thoái tài nguyên rừng. Trong bối cảnh diện tích rừng bị thu hẹp và đời sống của người dân miền núi còn nhiều khó khăn, LSNG đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm, dược liệu, tăng thu nhập cho hộ gia đình, đồng thời góp phần làm giàu rừng, duy trì độ che phủ và giảm áp lực khai thác gỗ trái phép.

Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Phu Canh thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình là khu vực có tính đa dạng sinh học cao với diện tích rừng tự nhiên lớn. Tuy nhiên, đời sống của người dân địa phương thuộc vùng đệm và vùng lõi còn gặp nhiều khó khăn, tập quán khai thác LSNG vẫn mang tính tự phát, tiềm ẩn nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên quý. Vì vậy, đề tài "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển lâm sản ngoài gỗ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pu Canh huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình" do sinh viên Bùi Văn Bộ thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Trần Quốc Hưng được triển khai nhằm đánh giá hiện trạng và xây dựng các giải pháp quản lý, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Góp phần tìm hiểu mối quan hệ giữa con người với việc phát triển bền vững LSNG (cây thuốc và cây thực phẩm), cũng như mối quan hệ xã hội giữa các nhóm cộng đồng trong việc sử dụng LSNG.
  2. Bước đầu làm sáng tỏ tác động của LSNG thuộc nhóm thuốc và thực phẩm đến sự phát triển kinh tế cộng đồng tại địa phương.
  3. Tìm hiểu và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về phát triển bền vững một số loài LSNG gắn liền với phát triển kinh tế hộ gia đình tại 2 xã Đồng Chum và Tân Pheo, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
  4. Đánh giá thực trạng khai thác, bảo tồn và phát triển các loài LSNG làm thuốc và thực phẩm; phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới tài nguyên LSNG, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài cây LSNG thuộc 2 nhóm công dụng chính là cây thuốc và cây thực phẩm được người dân địa phương khai thác và sử dụng; các hộ gia đình sản xuất nông lâm nghiệp, các nhóm đối tượng khai thác thường xuyên và không thường xuyên; các cá nhân am hiểu tri thức bản địa về khai thác và chế biến thực phẩm, dược liệu; cán bộ kỹ thuật của Khu bảo tồn và cán bộ quản lý địa phương.
  • Phạm vi không gian: Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tập trung khảo sát sâu tại 3 xóm thuộc 2 xã: xóm Than và xóm Chàm (xã Tân Pheo), xóm Nhạp (xã Đồng Chum), huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thu thập số liệu và phân tích thực địa được tiến hành từ tháng 3/2015 đến tháng 5/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết, khái niệm và phân loại lâm sản ngoài gỗ

Khóa luận tiếp cận các khái niệm và cơ sở phân loại LSNG được công nhận trong nước và quốc tế:

  • Định nghĩa quốc tế: Theo Hội nghị chuyên gia LSNG khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Bangkok, 1991), lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest products) bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than, được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ. C. Chandrasekharan (FAO, 1995) phân loại LSNG thành 4 nhóm chính: cây sống và các bộ phận của cây; động vật và sản phẩm động vật; các sản phẩm chế biến (gia vị, dầu, nhựa thực vật...); và các dịch vụ từ rừng.
  • Quan điểm trong nước: Lê Mộng Chân và Vũ Văn Dũng (1992) định nghĩa thực vật rừng gồm các loài cây, cỏ, dây leo bậc cao và bậc thấp, trong đó các loài cho sản phẩm ngoài gỗ quý như nhựa thông, quả hồi, vỏ quế, song mây được coi là thực vật đặc sản rừng.
  • Văn bản quản lý nhà nước: Khung phân loại LSNG đầu tiên được quản lý bằng văn bản tại Việt Nam là Danh mục các loài đặc sản rừng ban hành kèm theo Nghị định số 160-HĐBT ngày 10/12/1984 của Hội đồng Bộ trưởng, chia đặc sản rừng thành 2 nhóm lớn: Hệ cây rừng (nhựa/tinh dầu/tanin, dược liệu, tiểu thủ công mỹ nghệ, sản phẩm công nghiệp chế biến) và Hệ động vật rừng.
  • Phương pháp phân loại áp dụng: Đề tài phân tích theo 2 hướng chính: phân loại theo hệ thống sinh học (giới/ngành/lớp/bộ/họ/loài) và phân loại theo nhóm giá trị sử dụng (tập trung vào nhóm cây lương thực - thực phẩm và nhóm cây làm dược liệu).

Tổng quan khu vực nghiên cứu (KBT Thiên nhiên Phu Canh)

  • Vị trí và diện tích: Khu BTTN Phu Canh nằm trên địa giới hành chính của 4 xã: Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng (huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình), cách trung tâm huyện 30 km và cách thành phố Hòa Bình 50 km. Tổng diện tích tự nhiên là 5.647 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt chiếm 2.434,6 ha và phân khu phục hồi sinh thái chiếm 3.212,4 ha.
  • Địa hình và thủy văn: Địa hình núi cao hiểm trở, đỉnh Phu Canh cao nhất đạt 1.349 m, độ cao trung bình 900 m, độ dốc bình quân trên 30°. Là lưu vực của suối Nhạp và suối Cửa Chông đổ ra hồ Sông Đà, cung cấp nước cho thủy điện Hòa Bình và sản xuất nông nghiệp.
  • Khí hậu và thổ nhưỡng: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình 1.824,4 mm/năm (tập trung 93,6% vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10), độ ẩm trung bình 83%, nhiệt độ trung bình 21,7°C. Đất đai gồm 2 nhóm chính: Nhóm đất Feralitic mùn trên núi cao có rừng chiếm 67,3% (3.800 ha, phát triển trên đá sa thạch, đá vôi và mác ma axit) và Nhóm đất Feralitic màu vàng trên đồi núi thấp/nương rẫy (1.847 ha).
  • Tài nguyên thực vật: Tổng diện tích có rừng đạt 4.213,9 ha (chiếm 74,6%), trong đó rừng tự nhiên là 4.106,5 ha với trữ lượng gỗ 363.343 m³. Thống kê của Khu bảo tồn ghi nhận 756 loài thực vật thuộc 13 nhóm công dụng khác nhau.
STT Nhóm công dụng Ký hiệu Số loài Tỷ lệ (%)
1 Cây cho gỗ G 281 37,17
2 Cây làm cảnh và bóng mát C, Bm 156 20,63
3 Cây cho thuốc T 150 19,84
4 Cây cho rau ăn R 48 6,35
5 Cây cho quả Q 47 6,22
6 Cây cho nhựa Nh 36 4,76
7 Cây cho tinh dầu Td 35 4,63
8 Cây cho sợi S 32 4,23
9 Cây cho tanin Tn 25 3,31
10 Cây cho tinh bột B 18 2,38
11 Cây cho màu nhuộm M 16 2,12
12 Cây cho dầu béo D 15 1,98
13 Cây cho nguyên liệu khác Nl 12 1,59
Tổng 756 100,00
  • Đặc điểm kinh tế - xã hội: 4 xã vùng nghiên cứu có 2.207 hộ với 11.207 nhân khẩu (dân tộc Tày chiếm 85,34%, Dao 9,47%, Mường 4,16%, Kinh 0,83%). Đất trồng lúa hạn chế với 277,24 ha, năng suất bình quân 31 tạ/ha, sản lượng 650,5 tấn/năm, bình quân lương thực đạt 60,4 kg/người/năm (chỉ đáp ứng 25% nhu cầu lương thực tại chỗ). Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 3 triệu đồng/năm (~160 USD).

Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu

  • Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập và kế thừa các báo cáo điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, dữ liệu quy hoạch và kiểm kê tài nguyên của Ban quản lý Khu BTTN Phu Canh và UBND các xã Tân Pheo, Đồng Chum.
  • Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Sử dụng công cụ lịch mùa vụ, thảo luận nhóm cộng đồng, phỏng vấn bán cấu trúc với cán bộ kiểm lâm, lãnh đạo xã, trưởng thôn bản và các nhóm người dân khai thác rừng.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Lập phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp 30 hộ gia đình/xóm tại 3 xóm đại diện (xóm Than, xóm Chàm thuộc xã Tân Pheo; xóm Nhạp thuộc xã Đồng Chum), tổng số mẫu phỏng vấn là 90 hộ gia đình.
  • Phương pháp điều tra thực địa theo tuyến: Thiết lập 04 tuyến điều tra đại diện qua các trạng thái rừng:
    • Tuyến 1 và 2: Đi qua tiểu khu 40 và 41 (thuộc xóm Than và xóm Chàm, xã Tân Pheo).
    • Tuyến 3 và 4: Đi qua tiểu khu 69 và 70 (thuộc xóm Nhạp, xã Đồng Chum).
  • Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn (ÔTC): Trên các tuyến điều tra, tại các vị trí có sự thay đổi thảm thực vật, thiết lập 12 ÔTC với diện tích 100 m² (kích thước 10 m x 10 m). Thu thập các chỉ tiêu: thành phần loài, tần số xuất hiện, tình hình phân bố và khả năng phát triển; đánh giá mức độ bắt gặp theo 3 cấp độ: + (ít gặp), ++ (gặp trung bình), +++ (gặp nhiều).
  • Phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu: Sử dụng thống kê mô tả để phân loại số liệu theo mùa vụ, bộ phận thu hái, hình thức chế biến, mục đích sử dụng (tự tiêu dùng hoặc bán) và mức độ đóng góp vào thu nhập hộ gia đình.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của LSNG đối với sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi cao huyện Đà Bắc và thực trạng suy giảm tài nguyên do khai thác tự phát. Xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, làm rõ ý nghĩa học tập (rèn luyện kỹ năng nghiên cứu thực địa, củng cố kiến thức nông lâm kết hợp) và ý nghĩa thực tiễn sản xuất (cung cấp cơ sở khoa học để Ban quản lý Khu bảo tồn và chính quyền địa phương xây dựng giải pháp quản lý bền vững).

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp cơ sở lý luận về LSNG, tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới (Trung Quốc, Liên Xô cũ, Mỹ, các nước Đông Nam Á và Nam Mỹ) và tại Việt Nam về cây thuốc và cây thực phẩm rừng. Khái quát các hệ thống phân loại LSNG của FAO, hệ thống phân loại theo công dụng và khung pháp lý theo Nghị định 160-HĐBT. Mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất, khí hậu, thủy văn, hệ thực vật và thực trạng dân sinh - kinh tế - hạ tầng của 4 xã vùng dự án thuộc Khu BTTN Phu Canh.

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng nghiên cứu là các loài LSNG làm thuốc, thực phẩm và các nhóm hộ dân khai thác tại 2 xã Tân Pheo và Đồng Chum. Thiết kế quy trình nghiên cứu gồm 4 bước: (1) Tổng quan tài liệu; (2) Thu thập dữ liệu thứ cấp; (3) Khảo sát thực địa, phỏng vấn 90 hộ dân, điều tra 4 tuyến và 12 ÔTC (100 m²); (4) Xử lý và phân tích số liệu.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả

  • Thực trạng nhóm cây thực phẩm: Thống kê chi tiết 54 loài cây thực phẩm được người dân sử dụng. Phân tích hình thức thu hái (lá, thân, củ, quả, măng), mùa vụ khai thác và giá trị kinh tế. Thống kê 20 loài cây thực phẩm được người dân gây trồng tại vườn nhà/nương rẫy và 34 loài khai thác trực tiếp từ rừng tự nhiên.
  • Thực trạng nhóm cây thuốc: Điều tra và lập danh lục 27 loài cây thuốc phổ biến. Phân tích chi tiết phương thức khai thác (đào rễ, chặt thân, hái lá, nhổ cả cây), kỹ thuật sơ chế thô sơ (phơi khô, sấy gác bếp) và mức độ thương mại hóa của từng loài.
  • Phân tích kinh tế và nguyên nhân suy thoái: Đánh giá mức độ đóng góp của LSNG vào thu nhập hộ gia đình; chỉ ra các nguyên nhân chính làm suy giảm nguồn tài nguyên thực vật (khai thác tận diệt, chuyển đổi mục đích sử dụng đất làm nương rẫy, thiếu quy hoạch thu hái và hỗ trợ kỹ thuật chế biến). Đề xuất danh mục các loài ưu tiên bảo tồn và hệ thống giải pháp phát triển bền vững.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện chính của khóa luận về mức độ đa dạng của cây thuốc và cây thực phẩm tại Khu bảo tồn; khẳng định vai trò thiết yếu của LSNG đối với đời sống người dân bản địa; đưa ra các kiến nghị đối với cơ quan quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương trong công tác giao đất giao rừng, hỗ trợ vốn và chuyển giao kỹ thuật gây trồng.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Thực trạng khai thác và sử dụng nhóm cây thực phẩm:
    • Điều tra ghi nhận 54 loài cây LSNG được người dân địa phương sử dụng làm thực phẩm và gia vị.
    • Về mục đích sử dụng: Có 35 loài chỉ dùng phục vụ sinh hoạt nội bộ gia đình (rau má, xương xông, dâu da đất, sến mật, cà ổi...); 19 loài được khai thác để bán hoặc vừa bán vừa sử dụng. Trong nhóm thương mại, có 11 loài đem lại thu nhập cao (luồng, giang, măng đắng, bò khai, mộc nhĩ, nấm, thảo quả, sa nhân, trám trắng, trám đen, rau ngót ngọt) và 8 loài cho thu nhập thấp (rau sắng, rau rớn, tai chua, củ dong riềng, rau rệu, củ nâu trắng, rau bao, sắn dây).
    • Tình hình gây trồng: Người dân đã chủ động gây trồng 20 loài cây thực phẩm tại vườn nhà hoặc đất nương rẫy, trong đó có 8 loài được trồng nhiều (lá lốt, luồng, ngải cứu dệu, măng mai, củ dong riềng, rau mùi tàu, giẻ gai, rau xương cá) và 12 loài trồng ít (rau má, tai chua, sắn dây, chôm chôm rừng...).
    • Tình hình khai thác tự nhiên: Có 34 loài thường xuyên được khai thác từ rừng tự nhiên, gồm 23 loài khai thác với số lượng nhiều và 11 loài khai thác với số lượng ít.
STT Loài cây thực phẩm gây trồng nhiều Loài cây thực phẩm khai thác tự nhiên nhiều Loài thực phẩm cho thu nhập cao khi bán
1 Luồng Măng đắng Luồng
2 Măng mai Giang Giang
3 Củ dong riềng Sa nhân Măng đắng
4 Lá lốt Thảo quả Bò khai
5 Ngải cứu dệu Rau sắng Thảo quả
6 Rau mùi tàu Rau rớn Sa nhân
7 Giẻ gai Dâu da đất / Dâu da xoan Trám trắng
8 Rau xương cá Củ mài / Củ nâu Mộc nhĩ
  1. Thực trạng khai thác và sử dụng nhóm cây thuốc:
    • Ghi nhận 27 loài cây thuốc thường được người dân thu hái và sử dụng để chữa bệnh hoặc bán thương phẩm.
    • Phương thức khai thác: Đa dạng theo bộ phận sử dụng. Các loài lấy thân và lá (khôi tía, chè vằng, ngải cứu, gối hạc, cao cẳng, dạ cẩm...) thường thu hái quanh năm; các loài lấy hoa, quả, củ hoặc rễ (cốt toái bổ, bổ béo đen, bảy lá một hoa, thủy xương bồ, bách bộ nam, kim tuyến đá vôi...) thu hái theo mùa từ tháng 3 đến tháng 12.
    • Tác động khai thác: Một số loài quý hiếm bị khai thác bằng phương pháp triệt để như đào toàn bộ rễ củ (Bảy lá một hoa, Bách bộ nam, Cốt toái bổ, Bổ béo đen) hoặc nhổ cả cây (Cỏ xước, Kim tuyến đá vôi), làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tái sinh tự nhiên.
    • Chế biến và bảo quản: Kỹ thuật sơ chế của người dân còn rất thô sơ, chủ yếu là phơi khô trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời hoặc sấy trên gác bếp trước khi sử dụng hoặc bán cho thương lái.
    • Giá trị thương mại: Các loài cây thuốc cho thu nhập cao khi bán gồm có: Cốt toái bổ, Bổ béo đen, Bảy lá một hoa, Thủy xương bồ, Bách bộ nam, Hương nhu, Giảo cổ lam và Kim tuyến đá vôi.
STT Tên loài cây thuốc Bộ phận thu hái Mùa vụ thu hái Mục đích sử dụng Mức độ thu nhập
1 Cỏ xước Nhổ cả cây Quanh năm Tự sử dụng Thấp
2 Khôi tía Lá Quanh năm Tự sử dụng -
3 Cốt toái bổ Đào rễ Tháng 4 - 8 Bán và sử dụng Cao
4 Bổ béo đen Đào gốc Tháng 10 - 12 Bán và sử dụng Cao
5 Bảy lá một hoa Rễ Tháng 3 - 8 Bán và sử dụng Cao
6 Thủy xương bồ Củ Tháng 9 - 11 Bán Cao
7 Bách bộ nam Củ Quanh năm Bán và sử dụng Cao
8 Hương nhu Lá Quanh năm Bán và sử dụng Cao
9 Giảo cổ lam Thân, lá Tháng 3 - 8 Bán Cao
10 Kim tuyến đá vôi Thân Tháng 8 - 12 Bán Cao
  1. Nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên LSNG tại địa phương:
    • Tình trạng thiếu đất sản xuất lương thực trầm trọng (lương thực tự túc chỉ đạt 25% nhu cầu) buộc người dân phải phát rừng làm nương rẫy, xâm lấn sinh cảnh sống của các loài thực vật.
    • Phương thức khai thác mang tính tận diệt (chặt hạ cả cây, đào bới toàn bộ gốc rễ) đối với các loài cây thuốc và thực phẩm có giá trị thương phẩm cao.
    • Công tác quản lý, bảo vệ rừng còn gặp khó khăn do địa hình núi cao hiểm trở, lực lượng kiểm lâm mỏng và chưa có cơ chế kiểm soát việc thu hái LSNG tự do.
    • Người dân thiếu vốn đầu tư, thiếu kỹ thuật nhân giống và gây trồng LSNG dưới tán rừng.

Giải pháp đề xuất của tác giả

  • Quy hoạch và bảo vệ: Ban quản lý Khu BTTN Phu Canh cần phối hợp với chính quyền 4 xã phân định rõ ranh giới các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt; xây dựng quy chế quản lý thu hái LSNG có sự tham gia của cộng đồng thôn bản.
  • Phát triển mô hình gây trồng: Lựa chọn các loài cây có giá trị kinh tế và nguy cơ suy giảm cao (bò khai, rau sắng, măng bát độ, luồng, giảo cổ lam, ba kích, bảy lá một hoa, kim tuyến đá vôi) để đưa vào các mô hình trồng thử nghiệm dưới tán rừng tự nhiên và vườn đồi hộ gia đình.
  • Chính sách và kỹ thuật: Đẩy mạnh giao đất giao rừng gắn liền với quyền lợi khai thác LSNG hợp pháp; mở các lớp tập huấn kỹ thuật thu hái bền vững (không khai thác cạn kiệt, giữ lại cây mẹ tái sinh) và hướng dẫn kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch.
  • Phát triển thị trường: Hỗ trợ kết nối tiêu thụ nông lâm sản, hạn chế tình trạng tư thương ép giá, nâng cao tỷ trọng thu nhập từ LSNG cho người dân địa phương.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã hệ thống hóa và cung cấp bộ dữ liệu thực địa cập nhật về danh mục, mùa vụ, sản lượng và tập quán khai thác của 54 loài cây thực phẩm và 27 loài cây thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh. Công trình phản ánh trung thực mối liên hệ mật thiết giữa bài toán thiếu hụt lương thực tại chỗ với áp lực khai thác rừng tự nhiên, tạo cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quản lý của Ban quản lý Khu bảo tồn và định hướng phát triển sinh kế nông lâm kết hợp tại huyện Đà Bắc.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Giới hạn thời gian và quy mô: Thời gian thực hiện đề tài ngắn (từ tháng 3/2015 đến tháng 5/2015), chưa thể theo dõi đầy đủ biến động sinh trưởng và sản lượng khai thác của tất cả các loài LSNG trong toàn bộ 12 tháng của năm.
  • Phạm vi không gian khảo sát: Khảo sát xã hội học và điều tra thực địa chuyên sâu mới chỉ tập trung tại 2 xã (Tân Pheo, Đồng Chum) với 3 xóm đại diện (Than, Chàm, Nhạp), chưa bao quát toàn diện cả 4 xã thuộc phạm vi quản lý của Khu bảo tồn (chưa khảo sát sâu xã Đoàn Kết và Đồng Ruộng).
  • Giới hạn nhóm công dụng: Đề tài chỉ tập trung sâu vào 2 nhóm công dụng là cây thực phẩm và cây thuốc, chưa nghiên cứu chi tiết các nhóm LSNG khác có tiềm năng lớn tại khu vực như cây cho tinh dầu, nhựa, tanin và cây cho sợi.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi điều tra trên toàn bộ diện tích 4 xã thuộc Khu BTTN Phu Canh nhằm hoàn thiện bộ danh lục đầy đủ về tài nguyên LSNG của toàn vùng.
  • Nghiên cứu sâu về đặc tính sinh học, khả năng tái sinh tự nhiên và thử nghiệm các kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng, kỹ thuật gây trồng bán tự nhiên dưới tán rừng đối với các loài dược liệu quý hiếm có nguy cơ đe dọa cao như Bảy lá một hoa (Paris polyphylla), Lan kim tuyến (Anoectochilus sp.), Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum).
  • Đánh giá trữ lượng và xác định ngưỡng khai thác bền vững hàng năm cho từng nhóm loài LSNG thương mại, làm căn cứ cấp hạn ngạch khai thác cho cộng đồng địa phương.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông lâm kết hợp, Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Thực vật học và Dược liệu học.
    • Cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý thuộc Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, Hạt Kiểm lâm huyện Đà Bắc và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình.
    • Cán bộ phụ trách nông - lâm nghiệp tại các xã vùng đệm vùng núi phía Bắc.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phương pháp kết hợp giữa công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) với kỹ thuật điều tra theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn (ÔTC 100 m²) trong đánh giá tài nguyên LSNG.
    • Bảng dữ liệu chi tiết về 54 loài cây thực phẩm và 27 loài cây thuốc (mùa vụ, bộ phận sử dụng, hình thức chế biến, mức độ xuất hiện và giá trị thương phẩm).
    • Khung phân tích thực trạng sinh kế và mối liên hệ giữa bài toán thiếu đất trồng trọt với sự phụ thuộc vào tài nguyên lâm sản phi gỗ.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài đã sử dụng cỡ mẫu điều tra xã hội học và thiết lập số lượng tuyến, ô tiêu chuẩn thực địa như thế nào?

Đề tài đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 90 hộ gia đình (30 hộ/xóm tại 3 xóm: xóm Than, xóm Chàm thuộc xã Tân Pheo và xóm Nhạp thuộc xã Đồng Chum). Trên thực địa, tác giả thiết lập 04 tuyến điều tra (2 tuyến qua tiểu khu 40, 41 tại Tân Pheo và 2 tuyến qua tiểu khu 69, 70 tại Đồng Chum) cùng 12 ô tiêu chuẩn (ÔTC) kích thước 10 m x 10 m (100 m²) để đo đếm thành phần loài và tần số xuất hiện.

2. Thực trạng sản xuất nông nghiệp và mức độ tự đáp ứng lương thực của người dân quanh Khu bảo tồn Phu Canh ra sao?

Toàn bộ 4 xã trong khu bảo tồn chỉ có 277,24 ha đất trồng lúa với năng suất bình quân 31 tạ/ha, tổng sản lượng lúa đạt 650,5 tấn/năm. Mức bình quân lương thực chỉ đạt 60,4 kg/người/năm, mới đáp ứng được 25% nhu cầu lương thực tại chỗ của người dân, dẫn đến tình trạng thiếu đói triền miên và gia tăng áp lực phá rừng làm nương rẫy.

3. Đề tài đã thống kê được bao nhiêu loài thực vật thuộc nhóm thực phẩm và nhóm thuốc được người dân khai thác, sử dụng?

Kết quả điều tra ghi nhận 54 loài cây LSNG được dùng làm thực phẩm/gia vị (trong đó 20 loài đã được gây trồng và 34 loài khai thác từ rừng tự nhiên) và 27 loài cây LSNG được sử dụng làm thuốc chữa bệnh.

4. Những loài cây thuốc nào đem lại thu nhập cao cho người dân nhưng đang bị đe dọa bởi phương thức khai thác triệt để?

Các loài cây thuốc đem lại thu nhập cao khi bán gồm: Cốt toái bổ, Bổ béo đen, Bảy lá một hoa, Thủy xương bồ, Bách bộ nam, Hương nhu, Giảo cổ lam và Kim tuyến đá vôi. Trong đó, các loài như Bảy lá một hoa, Cốt toái bổ, Bổ béo đen và Kim tuyến đá vôi đang bị đe dọa nghiêm trọng do người dân khai thác tận diệt bằng cách đào toàn bộ rễ củ hoặc nhổ cả cây.

5. Cơ cấu dân tộc tại 4 xã thuộc phạm vi Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh được phân bố như thế nào?

Dân cư tại 4 xã vùng nghiên cứu gồm 4 dân tộc chính: Dân tộc Tày chiếm đa số với 9.565 người (85,34%), dân tộc Dao có 1.062 người (9,47%), dân tộc Mường có 467 người (4,16%) và dân tộc Kinh có 93 người (0,83%).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Văn Bộ đã phản ánh toàn diện thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên lâm sản ngoài gỗ (nhóm cây thuốc và thực phẩm) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật vai trò sống còn của LSNG đối với việc bù đắp thiếu hụt lương thực và tạo nguồn thu nhập phụ cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương. Hệ thống giải pháp được đề xuất kết hợp hài hòa giữa công tác bảo tồn nghiêm ngặt của Khu bảo tồn với việc hỗ trợ kỹ thuật gây trồng nông lâm kết hợp, tạo tiền đề vững chắc cho việc quản lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng.