Đặt vấn đề Nƣớc ta với diện tích tự nhiên là vùng đồi núi chịu sự ảnh hƣởng của nhiệt đới gió mùa, do điều kiện tự nhiên và địa hình nhƣ vậy đã tạo cho nƣớc ta hệ thực vật rùng phong phú và đa dạng có nhiều loài gỗ và lâm sản ngoài gỗ (LSNG) quý có giá trị cao. Đã rất lâu đời đồng bào các dân tộc ít ngƣời sống trong rừng và gần rùng có tập quán và kinh nghiêm khai thác các nguồn lâm sản ngoài gỗ vô cùng quý giá do thiên nhiên ban tặng để nuôi sống mình và chữa trị các bệnh ở con ngƣời. Trong những năm gần đây dân số ngày càng tăng nhanh nhu cầu của con ngƣời ngày càng lớn trong khi đó diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, phƣơng thức khai thác các sản có sẵn từ rừng không còn đáp ứng đƣợc nhu cầu hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai của con ngƣời. Tính đến năm 2010 nghành lâm nghiệp nƣớc ta quản lý khoảng 13.3 triệu ha rừng trong đó gần 11 triệu ha rừng là rừng tự nhiên, hơn 2.9 triệu ha rừng là rừng trồng trên diện tích đó có rất nhiều ngƣời dân sinh sống trong rừng và gần rừng, chủ yếu là dựa vào rừng nên trình độ phát triển kinh tế xã hội còn khó khăn.
Nhu cầu của nhân dân trong cộng đồng đòi hỏi phải có các sản phẩm từ nông nghiệp để sinh sống và phát triển bền vững và lâu dài. Nền sản xuất nông lâm nghiệp theo truyền thống trƣớc đây chỉ chú ý đến lợi nhuận về kinh tế từ gỗ mà xem nhẹ các sản phẩm phụ khác từ rừng. vì chỉ trú trọng thuần túy mục tiêu chủ yếu thu các sản phẩm gỗ nên diện tích rừng tự nhiên nƣớc ta bị tàn phá thu hẹp một cách nhanh chóng. Đất nƣớc Việt Nam trải dài trải dài trên nhiều vĩ tuyến, với địa hình rất đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam, đến á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ n 2 sinh thái tự nhiên và phong phú về các loài sinh vật.
Những hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại nhƣ rừng cây có lá rộng thƣờng xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi,rừng hỗn giao lá rộng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn , rừng tràm, rừng ngập nƣớc ngọt…. Rừng không chỉ có các sản phẩm là gỗ mà còn có rất nhiều sản phẩm khác ngoài gỗ có giá trị kinh tế lớn. Đối với những ngƣời dân làm nghề rừng thì chính những sản phẩm ngoài gỗ này là nguồn thức ăn và là nguồn tăng thu nhập cho gia đình và cộng đồng. Nguồn lâm sản ngoài gỗ cung cấp cho ngƣời dân củi đun, măng tre, gia vị, thực phẩm, dƣợc liệu… Những sản phẩm làm lƣơng thực, thực phẩm và gia vị là các loài cây cho các sản phẩm là tinh bột dƣới dạng củ, quả, hạt, thân dùng để ăn hoặc chăn nuôi thuộc nhóm cây cho lƣơng thực nhƣ : Củ mài, củ Mỡ, củ Dong Riềng….
măng của các loài thuộc họ phụ tre nứa nhƣ : Luồng, Mai, Vầu đắng, Lồ ô, các loại rau nhƣ : rau Sắng, rau Bao, rau Tàu bay. Các loài cây cho lá, củ, quả, làm gia vị nhƣ: quả Hồi, Sa nhân, lá Sim, lá Ổi, quả Quế, Sấu, Dọc, Bứa. Các loại cây cho nhựa dầu, nhựa sáp, nhựa dính, Cao su nhƣ Thông nhựa, Thông mã vĩ, Thông Ca-Ri-Be ,Thông ba lá, bồ đề, Trám trắng, Xoan ta…. Các loài cây cho tinh dầu theo thống kê trong hệ thực vật nƣớc ta có khoảng 657 loài cây có chứa tinh dầu.Chúng thuộc 257 chi và 114 họ thực vật bậc cao có mạch nhƣ họ Cam, họ Gừng, họ Bạc hà… Các loại cây cho tanin ở rừng Việt Nam có nhiều, tuy nhiên trong rừng tự nhiên gỗ hỗn giao , nhiều loài cay cho tanin thƣờng phân bố giải giác nên không thể khai thác tập trung trên quy mô lớn.
Rừng ngập mặn ven biển cũng có không ít những cây cho tanin nhƣ: Đƣớc, Vẹt, Trang, Sồi, Dẻ, Chè,Phi lao…. Các loài cây khác phục vụ cho phát triển tiểu thủ công nghiệp, các nghành nghề phụ nhƣ mây tre đan, lá cọ làm nón… n 3 Các loại LSNG ngoài việc phục vụ cho đời sống sinh hoạt của ngƣời dân nó còn co tác dụng làm giàu rừng, tăng độ che phủ và đa dạng sinh học cho rừng. Nhờ có nguồn LSNG thay thế mà đã làm giảm nạn chặt phá rừng, khai thác gỗ bừa bãi để phục vụ cho các mục đích khác nhau của con ngƣời. Trong giai đoạn hiện nay khi diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, dân số tại các vùng miền núi ngày càng tăng nhanh đời sống của ngƣời dân còn nhiều khó khăn thì nguồn LSNG ngày càng trở nên quan trọng hơn.
Bên cạnh đó, để đẩy mạnh và phát triển hàng hóa nghành lâm nghiệp , tăng nhanh độ che phủ và phát triển rừng bền vững thì việc phát triển nguồn LSNG có thể coi là hƣớng đi có thể đáp ứng đƣợc những yêu cầu trên. Qua đánh giá đƣợc hiện trạng nguồn LSNG và tình hình quản lý bảo vệ và khai thác LSNG theo hƣớng bền vững cũng nhƣ xác định vị trí của nguồn LSNG đối với đời sống của các hộ gia đình và cộng đồng ngƣời dân miền núi cùng với khả năng tiêu thụ nguồn LSNG trên thị trƣờng, mà từ đó đƣa ra đƣợc các giải pháp phát triển LSNG theo hƣớng bền vững là vô cùng cần thiết. Với những lý do trên và đƣợc sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trƣờng, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp cùng với sự giúp đỡ tạo điều kiện của ban lãnh đạo khu bảo tồn thiên nhiên Pu Canh huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình, tôi tiến hành thực hiện khóa luận “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển lâm sản ngoài gỗ tại khu bảo tồn thiên nhiên Pu Canh huyện Đà Bắc, Tỉnh Hòa Bình” để đƣa ra những giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ một cách có hiệu quả, lâu dài. Mục tiêu nghiên cứu - Đề tài nhằm thực hiện góp phần tìm hiểu mối quan hệ giữa con ngƣời với phát triển bền vững LSNG là cây thuốc và cây thực phẩm, con ngƣời với con ngƣời trong sử dụng LSNG.
n 4 - Đồng thời bƣớc đầu làm sáng tỏ tác động của LSNG thuộc nhóm thuốc và thực phẩm đến phát triển kinh tế cộng đồng tại địa phƣơng. - Tìm hiểu và đƣa ra những giải pháp nhằm nâng cao sự nhận thức của ngƣời dân về phát triển bền vững một số LSNG là cây thuốc và thực phẩm với phát triển kinh tế hộ gia đình tại 2 xã Đồng Chum và Tân Pheo huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình. - Đánh giá đƣợc thực trạng về khai thác, bảo tồn và phát triển một số loài LSNG mà thuốc và thực phẩm tại khu vực nghiên cứu. Các nhân tố ảnh hƣởng tới việc bảo vệ và phát triển nguồn LSNG này từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển các loại lâm sản này.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập Giúp cho sinh viên củng cố kiến thức đã học, bƣớc đầu làm quen với nghiên cứu khoa học. Có sự nhận thức sâu hơn về LSNG cũng nhƣ tryền thống sử dụng nguồn tài nguyên này của một số dân tộc miền núi. Cũng từ đó ngƣời đọc sẽ có đƣợc một cách nhìn đúng đắn hơn về LSNG là cây thuốc và cây thực phẩm cùng những vấn đề liên quan đến nguồn tài nguyên này.
Đề tài là kết quả của việc thực hành sau một quá trình học lý thuyết nên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với ngƣời thực hiện. Nó khẳng định sự chín muồi hay chƣa chín muồi của tác giả thông qua nghiên cứu và kỹ năng làm việc thực tế thông qua cách viết đề tài. Và đề tài cũng là tài liệu tham khảo nghiên cứu và phát triển bền vững nguồn LSNG đề từ đó đề xuất cho giải pháp phát triển bền vững nguồn LSNG thuộc nhóm cây thuốc và cây thực phẩm tại các địa phƣơng. Ý nghĩa trong thực tiến sản xuất.
Là cơ hội củng cố những kiến thức đã học từ nhà trƣờng đồng thời giúp cho bản than vận dụng tốt nhất những kiến thức đã học và tìm hiểu áp dụng vào thực tiến phục vụ cho công việc sau khi ra trƣờng. Thấy đƣợc những mặt yếu, hạn chế trong công tác phát triển bền vững nguồn LSNG là cây thuốc và cây thực phẩm tại địa bàn 2 xã. Kết quả nghiên cứu của đề tài có đƣợc thông qua phỏng vấn thu thập thông tin từ ngƣời dân qua quá trình điều tra tại địa bàn nên nó là cơ sở khách quan nhất cho việc đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững LSNG thuộc nhóm cây thuốc và cây thực phẩm tại địa phƣơng. n 6 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Ở Việt Nam hiện nay LSNG là một trong những vấn đề đang đƣợc nhiều nhà khoa học và các tổ chức quan tâm. Có rất nhiều công trình nghiên cứu và đã đƣợc giải quyết tốt và nhu cầu sử dụng LSNG của ngƣời dân miền núi cũng nhƣ của các nghành sản xuất, chế biết tài nguyên này. Tuy nhiên trong những năm gần đây nghiên cứu về LSNG còn phân bố rải rác hoặc chỉ nghiên cứu về một hay một số cây quan trọng hoặc có sự tổ chức nghiên cứu những địa phƣơng không nhận đƣợc thông tin kết quả. Chính vì thế ở những vùng chƣa nghiên cứu thì việc sử dụng LSNG của ngƣời dân vấn còn mang tính chất tự phát chƣa đem lại kết quả cao.
Trong khi đó đặc tính nhân văn của mỗi vùng khác nhau nên sẽ rất khó khăn để đƣa đƣợc kết quả nghiên cứu từ vùng này để áp dụng sang vùng khác. Do đó mà hiện nay còn nhiều địa phƣơng ở miền núi chƣa hiểu biết thực sự về LSNG. Thực hiện đề tại tại khu bảo tôn thiên nhiên Pu Canh cũng dựa trên những cơ sở khoa học đó. Song do tính cấp thiết của đề tài và giới hạn về thời gian đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu và đề xuất một số các giải pháp chủ yếu cho phát triển bảo tồn một số cây LSNG là cây thực phẩm và cây thuốc mà ngƣời dân thƣờng sử dụng trong khu bảo tồn thiên nhiên Pu Canh.
Một số khái niệm về LSNG Trƣớc đây trong vị trí nguồn LSNG không đƣợc mang lại lợi nhuận kinh tế lớn nên tài nguyên ngoài gỗ đƣợc coi là lâm sản phụ. Thực ra thì nó là nguồn lợi lớn khi tổng giá trị hàng hóa còn cao hơn gỗ.