mở đầu, kết luận, kiến nghị, những điểm mới của luận án, còn có các chƣơng sau: - Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu: 31 trang - Chƣơng 2. Đối tƣợng, địa điểm, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu: 10 trang. Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 84 trang.
3 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới 1. Tình hình điều tra, thống kê Các công trình nghiên cứu từ mỗi quốc gia cho thấy c y thuốc đƣợc sử dụng rộng rãi và c giá trị hoa học cũng nhƣ giá trị thực tiễn rất lớn. Vì vậy, quốc gia nào cũng c chƣơng trình điều tra, tái điều tra nguồn tài nguyên c y thuốc trong ế hoạch ảo tồn, phát triển đa dạng sinh học của đất nƣớc mình.
Những ế hoạch này thƣờng tập trung vào tác dụng điều trị nào đ của c y thuốc nhƣ tác dụng chữa sốt rét, tim mạch, viêm gan, rắn cắn. Ấn Độ đƣợc coi là nôi của nền y học cổ truyền với nhiều tài liệu về cây thuốc đã đƣợc ghi chép lại. Trong số đ , cuốn “Rig - Veda” đƣợc viết vào khoảng 4500 năm trƣớc công nguyên đƣợc xem là cuốn sách cổ nhất về sử dụng cây thuốc trong lịch sử loài ngƣời, giúp cho hệ thống y học cổ truyền Ấn Độ phát triển mạnh mẽ. Vào khoảng 100 năm sau công nguyên, một học giả Ấn Độ đã mô tả chi tiết 341 loại dƣợc thảo có nguồn gốc từ khoáng chất và động vật [1].
Ở thế kỷ thứ 6 trƣớc công nguyên, Sushruta đã viết “Sushruta Amhita”, trong đ mô tả 700 cây thuốc, nhiều cây thuốc vẫn đƣợc sử dụng làm thuốc hay vị thuốc trong y học hiện đại. Gần đ y, y học cổ truyền Ấn Độ Ayurveda phát triển vƣợt bậc đã nghiên cứu, đánh giá và sử dụng hiệu quả khoảng 2.000 cây cỏ làm thuốc [2]. Nhiều tài liệu kinh nghiệm của ngƣời Trung Quốc trong sử dụng cây cỏ chữa bệnh vẫn đƣợc lƣu truyền đến ngày nay. Cuốn dƣợc điển “Pen T’Sao” do Shen Nung biên soạn năm 2500 trƣớc công nguyên đã đề cập đến 365 vị thuốc và cây thuốc để phòng và chữa bệnh [3].
Cuốn “Thủ hậu cấp thư” viết thời nhà Hán (năm 168 TCN) thống ê c hơn 52 đơn thuốc trị bệnh từ cây cỏ. Cuốn “Bản thảo cương mục” viết giữa thế kỷ XVI của Lý Thời Tr n đã thống ê đƣợc 1.200 vị dƣợc liệu làm thuốc [4]. Cộng đồng dân tộc thiểu số Trung Quốc cũng iết sử dụng khoảng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc, trong đ , T y Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1. Năm 1985, cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” thống kê hầu hết các loài cây cỏ có tác dụng chữa bệnh ở Trung Quốc [6].
Gần đ y Li công ố hơn 1.000 loài cây thuốc đƣợc sắp xếp theo bảng chữ cái Latinh [7]. 4 Năm 1950, các nhà hoa học Liên Xô cũ đã nghiên cứu về c y thuốc trên quy mô rộng lớn. Kovalena (1972) công ố trên toàn quốc việc sử dụng c y thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa hông g y hại cho sức hỏe của con ngƣời thông qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” giúp ngƣời đọc tìm đƣợc loại c y thuốc để chữa đúng ệnh với liều lƣợng đƣợc định sẵn. Các nhà thực vật ngƣời Pháp đƣợc coi là những ngƣời đầu tiên của ch u Âu nghiên cứu về thực vật Ðông Dƣơng.
Ðầu thế ỷ XX, Perry đã công ố 1.000 loài cây và dƣợc liệu tại Ðông Nam Á (1985) để tổng hợp thành cuốn “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia” trong chƣơng trình nghiên cứu về thực vật nơi đ y [8]. Tại Kenya có 448 loài cây thuốc đƣợc ngƣời dân Mt. Nyiru Tur ana d ng để điều trị những bệnh khác nhau [9]. Ở Kosovo, ngƣời dân ở Alps Albania sử dụng 89 loài thuộc 39 họ để điều trị các bệnh hác nhau, trong đ loài đƣợc sử dụng nhiều nhất thuộc các họ: Hoa hồng (Rosaceae), Cúc (Asteraceae), Bạc hà (Lamiaceae) [10].
Nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của ngƣời dân tộc Douala, Cameroon đã xác định đƣợc 94 loài cây thuộc 84 chi và 46 họ [11]. Cuốn sách đầu tiên viết về thảo dƣợc của Châu Mỹ là cuốn “Badianus” do tác giả Martin de la Cruz viết năm 1552 liệt kê 251 loài thảo dƣợc của Mexico d ng để điều trị bệnh, đồng thời chỉ ra ngƣời Aztec c các ác sĩ giàu inh nghiệm với nhiều truyền thuyết y học của ngƣời da đỏ [12]. Do vài trò quan trọng đối với đời sống con ngƣời, hiện nay tài nguyên cây thuốc luôn là đối tƣợng đƣợc điều tra, nghiên cứu ở hầu hết các quốc gia. Thổ dân Yaegl tại Châu Úc dùng 32 loại thuốc thuộc 21 loài để điều trị bệnh [13].
Kết quả điều tra, nghiên cứu đ còn đƣợc thể hiện rõ ở nhiều công trình đƣợc công bố rộng rãi [14][15]16][7][17]. Các công trình này đã áp dụng vào thực tế, đem lại nhiều lợi ích to lớn cho nhân loại. Ƣớc tính có khoảng 25% các loại thuốc đƣợc sử dụng hiện nay trên thế giới có nguồn gốc từ thực vật hoặc từ thực vật tổng hợp nên những loại thuốc mới có hiệu lực chữa bệnh cao, 121 hợp chất có hoạt tính đƣợc chiết xuất từ cây cỏ đang đƣợc sử dụng. WHO liệt kê 252 loại thuốc thiết yếu thì có tới 11% có nguồn gốc từ thực vật [19].
Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế Từ xa xƣa, thảo dƣợc đã đƣợc sử dụng hiệu quả để điều trị những căn ệnh mà y học hiện đại còn đang ối rối nhƣ: nhai thảo mộc để giảm đau hoặc đắp lá cây làm lành vết thƣơng, thậm chí cứu chữa ngƣời sắp chết. Các sản phẩm chế biến từ cây dƣợc liệu thƣờng đƣợc sử dụng cho bệnh nhân mắc một số bệnh mãn tính, bao gồm ung thƣ vú 12%, các bệnh về phổi 21%, virut gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời (HIV) 22%, bệnh hen suyễn 24% và rối loạn thấp khớp 26% [17][20][21]. Ở các nƣớc công nghiệp phát triển, giá trị thƣơng mại của c y thuốc hông ngừng tăng lên. Chỉ tính riêng giá trị của 12 loại dƣợc liệu có nhu cầu sử dụng cao ở Mỹ là Bạch quả, Sâm Triều Tiên, Tỏi.năm 1998 đã là 552 triệu USD [22].
Ngoài phƣơng thức sử dụng cây thuốc theo y học cổ truyền, ngày nay ngƣời ta đi s u nghiên cứu cơ chế, hợp chất hoá học nào trong cây cỏ có tác dụng chữa khỏi bệnh, từ đ chiết xuất, chế tạo ra hàng trăm loại thuốc hiện đại, có giá trị chữa bệnh cao [23]. Trung Quốc, đoạn từ 1979 - 1990 đã c 41 chế phẩm thuốc mới từ c y thuốc đƣa ra thị trƣờng.000 loài c y thuốc thƣờng xuyên đƣợc sử dụng tại quốc gia này, chiếm 80% số thuốc án trên thị trƣờng trong nƣớc với tổng giá trị (1992) là 11 tỉ nh n d n tệ [24]. Hồng Kông là nơi c thị trƣờng thuốc c y cỏ lớn nhất thế giới, hàng năm nhập lƣợng dƣợc liệu trị giá 190 triệu USD (trong đ 70% đƣợc sử dụng tại địa phƣơng, 30% đƣợc tái xuất) và chỉ c 80 triệu USD thuốc t y đƣợc nhập c ng thời gian. Tiền sử dụng thuốc c y cỏ của ngƣời d n Hồng Kông là 25 USD/năm [24].
Nhật Bản, c đến 41,7% d n sử dụng thuốc cổ truyền trong chữa ệnh với tổng chi tiêu cho y học cổ truyền là 150 triệu USD (1983) [24]. Ấn Độ, c 400 loài trong số 7.500 loài c y thuốc thƣờng xuyên đƣợc sử dụng với lƣợng lớn ở các xƣởng sản xuất thuốc nhỏ [24]. Doanh số án thuốc c y cỏ ở các nƣớc Tây Âu năm 1989 là 2,2 tỉ USD so với tổng doanh số uôn án dƣợc phẩm là 65 tỉ USD. Tổng giá trị về thuốc c nguồn gốc thực vật trên thị trƣờng Âu - Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là hơn 43 tỷ USD.
Nhật Bản năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dƣợc liệu, tƣơng đƣơng 50 triệu USD và đạt 1,1 tỷ USD năm 2006 [24]. 6 Mỹ đạt 17 tỷ USD (2004), Hàn Quốc 250 triệu USD (2007), ch u Âu đạt 4,55 tỷ Euro (2004).; ngành công nghiệp chế iến dƣợc liệu chiếm 62 tỷ USD và c tiềm năng phát triển rất tốt. Những thống ê của Ng n hàng Thế giới cho thấy, các sản phẩm dƣợc từ thực vật và nguyên liệu thô trong những năm gần đ y tăng từ 5-10% [25]. Dự đoán, nếu phát triển tối đa thuốc c y cỏ từ các nƣớc nhiệt đới c thể làm ra hoảng 900 tỷ USD mỗi năm cho nền inh tế các nƣớc thế giới thứ a.
Giá trị thƣơng mại của c y thuốc trên thế giới (1987-1991) Giá trị t ƣơ mại (1000USD) Năm 1987 1988 1989 1990 1991 Trung bình Nhập khẩu 960,39 1.080,12 853,87 Xuất khẩu 733,38 829,64 795,79 901,87 694,25 590,99 (Nguồn COMTRADE data base) Việc phát hiện ra hợp chất chữa trị bệnh ung thƣ hiệu nghiệm trong cây Thông đỏ v ng Thái Bình Dƣơng là một thành công trong nghiên cứu cây thuốc. Trong vòng hai mƣơi năm qua, ngành công nghiệp chế biến thuốc chữa ung thƣ từ loài c y này đã mang lại lợi nhuận là khoảng 500 triệu USD/năm, những thuốc này đang đƣợc sử dụng rộng rãi ở châu Âu và châu Á [26]. Đầu tƣ nghiên cứu các thực vật làm thuốc không chỉ giải quyết vấn đề về giá trị sử dụng của chúng mà từ đ mang về nguồn lợi nhuận khổng lồ. Nhƣ việc phát hiện ra thuốc Vincrisrine Vinblastine dùng chữa bệnh Hodkin và bệnh bạch cầu ở trẻ em từ một loài dừa cạn ở Madagaxca (ch u Phi) đã mang lại cho Viện bào chế Eli Lilly and Co của Mỹ 160 triệu đô la hàng năm [27].
Năm 2002, tại Trung Quốc đã thống ê đƣợc khoảng 1.141 loại thuốc thực vật truyền thống có hoạt tính chữa bệnh, trong đ c một số hoạt chất mới nhƣ artemisinin (chống sốt rét), indirubin (chống ung thƣ). Năm 2003, loại thuốc đầu tiên từ y học cổ truyền Trung Quốc đƣa vào thử nghiệm điều trị ở Mỹ hiệu quả có tên là Kanglaite từ - iijen (Coix lachryma - jobi) có thể điều trị các tế ào ung thƣ phổi [28]. Năm 2014, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy hoa im ng n c tính năng chống chọi trực tiếp với các vi khuẩn gây nên bệnh cúm Tây Ban Nha và cúm gia cầm và điều chế thành công loại thuốc chữa bệnh này. 7 Tại Philippin, lá của cây Psychotria rubra (Lour.) Poir đƣợc phụ nữ dùng chữa kinh nguyệt hông đều, chữa ho, trị giun, giúp tiêu hoá tốt.[29 ] Dân tộc Sheko ở Tây Nam Ethiopia thì sử dụng chủ yếu các cây thân thảo để chữa các bệnh về da, dạ dày.
Trong tổng số 71 loài đƣợc công nhận thì lá là bộ phận chủ yếu đƣợc dùng [29].