phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn dự kiến được trình bày trong 2 chương: Chƣơng 1: Sử dụng văn kiện Đảng theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông - Lý luận và thực tiễn. Chƣơng 2: Các biện pháp sử dụng văn kiện Đảng theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 lớp 12 - trung học phổ thông (Chương trình chuẩn). Thực nghiệm sư phạm. z CHƢƠNG 1 SỬ DỤNG VĂN KIỆN ĐẢNG THEO HƢỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Quan niệm về văn kiện Đảng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Văn kiện Đảng là nguồn tài liệu có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử và dạy học lịch sử. Tuy nhiên, việc sử dụng văn kiện Đảng trong lĩnh vực nghiên cứu nói chung và dạy học lịch sử nói riêng đều là quá trình nhận thức lịch sử, nên các loại tài liệu văn kiện Đảng đều có vị trí giống nhau. Vì vậy, cần tìm hiểu đặc điểm chung về văn kiện Đảng để có thể vận dụng hiệu quả trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Trước hết, chúng ta cần hiểu khái niệm văn kiện Đảng: 1.
Khái niệm văn kiện Đảng Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và bước lên vũ đài chính trị, gánh vác sứ mệnh lãnh đạo nhân dân Việt Nam, đấu tranh cho độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Nội dung từng chặng đường lịch sử dân tộc là sự thể hiện sinh động những chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng. Trên 80 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng đã để lại khối lượng văn kiện đồ sộ, phong phú, phản ánh cuộc đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh, kiên cường, sáng tạo của đồng bào và các chiến sĩ yêu nước cách mạng, các chiến sĩ cộng sản, kết tinh nhiều giá trị lý luận, tư tưởng, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của Đảng và nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lịch sử ta là cả một pho bằng vàng”.
Một trong những chất liệu quan trọng nhất tạo nên pho sử vàng chính là văn kiện Đảng. Vậy, có thể nói văn kiện Đảng là một loại tài liệu lịch sử quan trọng, liên quan trực tiếp đến sự ra đời, diễn biến, tính chất, ý nghĩa của các sự kiện lịch sử về Đảng và liên quan về Đảng. Đỗ Hồng Thái: văn kiện Đảng là những văn bản về đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng được ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, có ý nghĩa không chỉ đối với việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong thời kì đó, mà còn z là sự tổng kết kinh nghiệm đấu tranh đã qua, vạch ra phương hướng cho những thời kì cách mạng sau này. Đúng vậy, tài liệu thành văn này có tính chính xác cao về mặt khoa học, khôi phục lại từng bức tranh quá khứ như đã từng diễn ra trong lịch sử.
Bởi, Văn kiện Đảng được hiểu là những văn kiện của Đảng có ý nghĩa quan trọng về xã hội, chính trị, nó liên quan trực tiếp đến sự ra đời, diễn biến, tính chất, ý nghĩa của các sự kiện lịch sử về Đảng. Như vậy, văn kiện Đảng được coi như những tài liệu gốc, ví như các bản chỉ thị, điều ước, tuyên ngôn, hiệp ước, khế ước… đó là những tư liệu chuẩn xác, giúp khôi phục lại từng phần bức tranh trong quá khứ. Các loại văn kiện Đảng Với những ý nghĩa đúng đắn, khoa học và thiết thực trong vận dụng tài liệu văn kiện Đảng vào dạy học lịch sử, cho nên khi sử dụng văn kiện Đảng, chúng ta không thể không phân loại, lựa chọn các loại văn kiện Đảng, tìm hiểu tác dụng của nó đối với việc dạy học lịch sử dân tộc. Theo Hội đồng biên soạn nội dung và xuất bản văn kiện Đảng toàn tập, thì phạm vi văn kiện Đảng bao gồm: “Các văn kiện do cấp Trung ương ban hành kể từ thời kì hoạt động của các tổ chức tiền thân Đảng trở đi.
Đó là các văn kiện của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, Tân Việt cách mạng Đảng, Đông Dương cộng sản Đảng (Đảng Cộng sản Đông Dương), An Nam cộng sản Đảng (Đảng Cộng sản An Nam), Đông Dương Cộng sản liên đoàn… Văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc và Hội nghị cán bộ Trung ương, Hội nghị đại biểu giữa các nhiệm kì, văn kiện của ban Thường vụ Trung ương, Bộ chính trị, Thường vụ Bộ Chính trị, Thường vụ Bộ chính trị - Ban Bí thư, Trung ương cục miền Nam, một số văn kiện của xứ ủy”.tr7] Ngoài ra, văn kiện Đảng còn bao gồm: Một số tác phẩm quan trọng và tiêu biểu của chủ tịch Hồ Chí Minh và các Tổng Bí thư về đường lối chủ trương của Đảng trong các thời kì cách mạng… một số các tài liệu khác có quan hệ chặt chẽ với hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam như: Tài liệu của quốc tế Cộng sản, thông báo về hội đàm đối ngoại của Đảng, lời chào mừng và các tham luận tại các Đại hội Đảng… [14.tr 8] Trên cơ sở đó, chúng ta có thể phân loại tài liệu văn kiện Đảng dùng trong dạy học lịch sử thành các loại như sau: z Thứ nhất: Các văn kiện phân tích, đánh giá, nhận định khái quát tình hình. Loại tài liệu này giúp học sinh nhìn nhận bao quát tổng thể bối cảnh lịch sử, nguyên nhân các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Thứ hai: Tài liệu văn kiện Đảng là các cương lĩnh, tuyên ngôn, điều lệ, chỉ thị và nghị quyết Đảng … đây là loại tài liệu thường gặp trong dạy học lịch sử. Với tài liệu này, học sinh hiểu rõ mối liên hệ mật thiết giữa chủ trương đường lối của Đảng với những sự kện, hiện tượng lịch sử diễn ra trong quá trình cách mạng.
Thứ ba: Các văn kiện trình bày các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử. Đây là loại tài liệu có ý nghĩa cung cấp sử liệu, giúp cho việc nhận thức tri thức lịch sử của học sinh có chỗ dựa tin cậy. Thứ tư: Các văn kiện so sánh, giải thích, tổng kết khái quát những hoạt động cách mạng, đánh giá ý nghĩa, rút ra những bài học kinh nghiệm. Loại tài liệu này giúp học sinh phát triển năng lực tư duy tích cực, tự giác, đồng thời rèn luyện cho các em kỹ năng vận dụng thực hành trong nghiên cứu và học tập môn lịch sử.
Khối lượng các loại tài liệu như trên rất nhiều. Trong giới hạn phạm vi đề tài cũng như yêu cầu của việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, chúng tôi không thể trích được hết mà chỉ chọn những đoạn cơ bản, tiêu biểu để phục vụ cho việc dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954. Quan niệm về phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học 1. Khái niệm tính tích cực – Tích cực nhận thức Theo từ điển Tiếng Việt, tích cực là: “chủ động, hướng hoạt động nhằm tạo ra những thay đổi, phát triển”, “hăng hái năng nổ với công việc”.
tr120] Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động, đặc biệt trong những hoạt động của chủ thể. Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học. Tính tích cực trong hoạt động học tập về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Vì thế, theo Khar-la-mốp, tính tích cực nhận thức là “trạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững tri thức”.
tr 42 ] Tính tích cực nhận thức là ý thức, thái độ hoạt động tích cực của mỗi người trong quá trình nhận thức nhằm đạt hiệu quả cao những mục đích đã đề ra. Do đó, z tính tích cực là cơ sở thuận lợi để phát triển các năng lực nhận thức khác trong hoạt động nhận thức của mỗi người. Đúng như Nguyễn Ngọc Bảo cho rằng: “Tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể, thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những vấn đề hoạt động nhận thức. Nó vừa là mục đích hoạt động vừa là phương tiện vừa là điều kiện để đạt được mục đích vừa là kết quả hoạt động”.
tr 8] Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích lũy được. Tuy nhiên, trong học tập, học sinh cũng phải “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân. HS sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động học tập và nỗ lực của chính mình. Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập.
Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập.
Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo. Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập, sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập. Những biểu hiện của tính tích cực Theo các nhà giáo dục, tính tích cực học tập của học sinh có những biểu hiện sau đây: Học sinh có chú ý học tập, hăng hái tham gia mọi hoạt động học tập, hoàn thành những nhiệm vụ được giao; Học sinh tích cực quan sát, tiến hành thí nghiệm để hình thành biểu tượng; Đứng trước các nhiệm vụ nhận thức, HS tri giác tài liệu học tập và nảy sinh hành động tư duy để lĩnh hội cái đã hiểu; cuối cùng là hành động rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng được những kiến thức vào thực tiễn; HS có quyết tâm và hứng thú học tập.