Chương 1: Tổng quan tài liệu lƣu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954). Trong chƣơng này, chúng tôi trình bày sơ lƣợc lịch sử PTT (1945 - 1954), quá trình hình thành phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954), bối cảnh lịch sử của phong trào TĐAQ, các loại hình tài liệu lƣu trữ về phong trào TĐAQ và phân loại chúng. Cũng trong chƣơng này, chúng tôi giới thiệu tóm tắt tình hình bảo quản, khai thác sử dụng tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông này. Nội dung của chƣơng này nhằm giúp ngƣời đọc thấy đƣợc xuất xứ và nội dung chính cũng nhƣ những đặc thù của những tài liệu lƣu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954).
Những vấn đề đƣợc trình bày trong chƣơng này, kể cả những vấn đề đƣợc trình bày khái quát, đều có liên quan và có tác dụng bổ trợ cho những vấn đề mà chúng tôi sẽ trình bày ở những chƣơng sau. Chương 2: Phê phán nguồn tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954). z 20 Đây là chƣơng chứa đựng nội dung cơ bản của luận án. Trong chƣơng này chúng tôi tiến hành phê phán sử liệu (vật mang tin, yếu tố thời gian, địa điểm, tác giả và bản văn).
Bƣớc cuối cùng qui trình phê phán sử liệu là tổng hợp sử liệu. Những vấn đề đƣợc trình bày trong chƣơng này nhằm giúp ngƣời đọc, những ngƣời nghiên cứu có đƣợc những thông tin xác thực và xác định đƣợc độ tin cậy của các thông tin trong tài liệu lƣu trữ về phong trào TĐAQ của phông lƣu trữ PTT (1945-1954). Chương 3: Giá trị của sử liệu về phong trào TĐAQ trong phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954). Trong chƣơng này, dƣới góc độ sử liệu học, chúng tôi hệ thống, phân tích những giá trị của tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông lƣu trữ PTT (1945-1954) đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử phong trào TĐAQ nói riêng.
Phần cuối cùng của luận án là kết luận. Dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài, chúng tôi rút ra một số nhận xét tổng quát về giá trị của nguồn sử liệu về phong trào TĐAQ và một số kết luận về việc sử dụng một số thủ pháp phân tích phê phán sử liệu. Phần cuối của kết luận, dựa trên kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị đối với Nhà nƣớc và các cơ quan hữu quan trong việc tổ chức lƣu trữ, bảo quản và khai thác, sử dụng nguồn sử liệu này có hiệu quả hơn. Với mong muốn làm sáng tỏ thêm những vấn đề đã đƣợc trình bày trong các chƣơng nói trên của luận án, chúng tôi đƣa thêm phần phụ lục gồm ảnh chụp một số sự kiện lịch sử, bản photocoppy một số tài liệu lƣu trữ quý đang đƣợc bảo quản tại các trung tâm lƣu trữ quốc gia.
Những vấn đề mà luận án đặt ra chúng tôi đã cố gắng thực hiện. Tuy nhiên, do một số tài liệu lẽ ra thuộc phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954) nhƣng không thu thập và lƣu trữ đƣợc, nhiều nhân chứng lịch sử đã qua đời và do z 21 hạn chế về trình độ của chính tác giả nên chắc chắn luận án không tránh khỏi những hạn chế và thiết sót ở chỗ này hay chỗ khác. Chúng tôi rất mong nhận đƣợc những góp ý của các nhà khoa học và của độc giả. Chúng tôi tin tƣởng rằng những góp ý của ngƣời đọc sẽ giúp chúng tôi nhận ra những hạn chế cần khắc phục và giúp chúng tôi có thêm nguồn lực và nhiệt tình mới trên con đƣờng nghiên cứu sau này.
z 22 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU LƢU TRỮ VỀ PHONG TRÀO THI ĐUA ÁI QUỐC TRONG PHÔNG LƢU TRỮ PHỦ THỦ TƢỚNG (1945 - 1954) Chƣơng này đƣợc viết xuất phát từ những căn cứ sau đây: Muốn nghiên cứu nguồn sử liệu chúng ta phải xem xét, nhận thức chúng trong mối liên hệ chặt chẽ với những điều kiện lịch sử mà chúng đã ra đời. Tài liệu lƣu trữ trong phông lƣu trữ PTT(1945-1954) hình thành là kết quả quá trình hoạt động của Văn phòng Chủ tịch nƣớc, Văn phòng Chủ tịch Chính phủ và Văn phòng Hội đồng Quốc phòng tối cao (HĐQPTC) (1). Muốn hiểu rõ hoàn cảnh hình thành những tài liệu đó, chúng ta phải biết đƣợc: Nguyên nhân nào tạo ra sự xuất hiện của tài liệu ? Tài liệu đó chiếm vị trí thế nào trong diễn trình lịch sử của sự kiện ? Nắm chắc quy luật khách quan hình thành tài liệu sẽ tạo tiền đề cho chúng ta giải thích nội dung của các tài liệu nói trên. Nhƣ vậy, tài liệu xuất hiện một cách có chủ định trong quá trình hoạt động của Văn phòng Chủ tịch nƣớc, Văn phòng PTT, Văn phòng HĐQPTC và phong trào TĐAQ, đồng thời cũng tham gia vào các hoạt động này, sau này chúng trở thành đối tƣợng nghiên cứu lịch sử.
Bởi vậy, nguồn sử liệu nói trên biểu hiện sự thống nhất giữa vai trò tham gia tạo ra hoạt động của Văn phòng Chủ tịch nƣớc, PTT và Văn phòng HĐQPTC, hoạt động của phong trào TĐAQ, đồng thời còn là phƣơng tiện nhận thức lịch sử. Giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện các nhiệm vụ Chủ tịch nƣớc, Thủ tƣớng Chính phủ và Chủ tịch HĐQPTC có các Văn phòng. Các (1) Hội đồng Quốc phòng Tối cao đƣợc thành lập theo Sắc lệnh 206/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 19/8/1948 có nhiệm vụ quyết định những vấn đề quan trọng nhất về quốc phòng. Cụ Hồ Chí Minh-Chủ tịch Chính phủ kiêm Chủ tịch HĐQPTC.
Ngày 27/7/1949 Phạm Văn Đồng đƣợc cử làm Phó Thủ tƣớng và đƣợc bổ sung giữ chức Phó Chủ tịch HĐQPTC. z 23 Văn phòng này hoạt động độc lập theo chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, vì các Văn phòng đều giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng đóng một nơi, có lúc lại nhập với nhau nên tài liệu trong quá trình hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, rất khó tách bạch. Điều này lý giải vì sao tài liệu của khối này lẽ ra phải thành lập 3 phông độc lập nhƣng từ trƣớc đến nay đều chỉ thành lập một phông lấy tên là Phông lƣu trữ PTT.
Vì những căn cứ trên, trong chƣơng này chúng tôi giới thiệu hoàn cảnh ra đời phong trào TĐAQ, tài liệu TĐAQ và những nét đặc thù của chúng. Hoàn cảnh ra đời phong trào TĐAQ Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố trƣớc quốc dân và thế giới khai sinh nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống xâm lƣợc trong lúc vừa giành đƣợc độc lập.
Nƣớc ta trƣớc đó có nền kinh tế vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị thực dân Pháp và phát xít Nhật bóc lột làm cho kiệt quệ. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời nhƣng chƣa đƣợc một nƣớc nào trên thế giới công nhận. Quân Đồng minh đã dồn dập kéo vào Việt Nam với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật. Ở miền Bắc 4 quân đoàn quân Tƣởng Giới Thạch do tƣớng Lƣ Hán chỉ huy kéo vào đóng ở Hà Nội và từ biên giới vĩ tuyến 16 trở ra.
Khi tiến quân vào Việt Nam, quân đội Tƣởng đã kéo theo bọn phản động ngƣời Việt lƣu vong ở Trung Quốc là lực lƣợng Việt Quốc 1, Việt Cách 2 về nƣớc chống phá cách mạng. Ở miền Nam, quân đội Anh lấy danh nghĩa giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào để đồng loã, giúp cho thực dân Pháp xâm lƣợc nƣớc ta một lần nữa. 1 Việt Quốc: tên gọi tắt của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng. 2 Việt Cách: tên gọi tắt của tổ chức Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội.
z 24 Ngày 23/9/1945 quân đội Pháp nổ súng đánh Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lƣợc Việt Nam lần thứ hai. Nƣớc cộng hoà non trẻ còn chƣa có thời gian củng cố và phát triển. Trƣớc tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" và nguy cơ mất còn của độc lập dân tộc, ngày 25/11/1945 Ban Thƣờng vụ Trung ƣơng Đảng đã ra chỉ thị quan trọng: KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC xác định rõ nhiệm vụ chiến lƣợc, nhiệm vụ trƣớc mắt và những chính sách quan trọng. Khẩu hiệu "kháng chiến và kiến quốc" chính là nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc đó.
Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12 năm 1946 quân Pháp liên tiếp khiêu khích công an và tự vệ của ta. Ngày 18/12/1946 chúng ngang nhiên gửi tối hậu thƣ buộc Chính phủ ta phải giải tán lực lƣợng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng. Trƣớc hành động xâm lƣợc của thực dân Pháp, ngày 19/12/1946 quân dân Hà Nội đã nổ phát súng kháng chiến đầu tiên. Các thành phố Đà Nẵng, Huế, Vinh.
lần lƣợt nổ súng tấn công địch. Cuộc chiến đấu của quân dân Hà Nội ở cả nội và ngoại thành rất quyết liệt. Đêm 17/2/1947 trung đoàn Thủ đô đã bí mật tổ chức hành quân vƣợt sông Hồng qua Phúc Yên an toàn sau những tháng chiến đấu dũng cảm. Tháng 10/1947 thực dân Pháp đã huy động lực lƣợng tới hơn 2 vạn quân mở cuộc hành quân lên Việt Bắc.
Chiến lƣợc của địch là "đánh nhanh, thắng nhanh" nhằm mau chóng tiêu diệt lực lƣợng kháng chiến của ta. Bộ chỉ huy quân đội ta đã dự đoán trƣớc là địch có thể mạo hiểm đánh lên Việt Bắc. Nhờ tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân và dân ta nên các mũi tiến công của địch lên Việt Bắc đều bị bẻ gãy, địch buộc phải rút chạy khỏi Việt Bắc. Từ năm 1948 trở đi "vận động chiến" trở thành cách đánh tƣơng đối phổ biến của quân ta.
Nhiều trận phục kích thắng lợi nhƣ: La Ngà (3/1948), chiến dịch Nghĩa Lộ (3/1948), Tầm Vu (4/1948). z 25 Tổng kết tình hình giai đoạn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "Thực dân chƣa bị đánh quỵ. Chúng sẽ tấn công Việt Bắc lần nữa. Chúng sẽ tấn công nơi này rồi đến nơi khác.
Rồi đây, chúng sẽ lập chính phủ bù nhìn. Chúng sẽ dùng mƣu độc ác đem ngƣời Việt đánh ngƣời Việt. Cuộc kháng chiến sẽ gay go hơn nữa"[35, tr. Ngày 12/9/1947 trong thƣ gửi đồng bào khu III, Ngƣời lại viết: "Cũng nhƣ đi đƣờng xa, đi đến nơi thì thƣờng mệt nhọc, sự nghiệp kháng chiến gần đến lúc thành công thì càng nhiều nỗi gian nan"[36, tr.
Để vƣợt qua "nỗi gian nan" nói trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nghĩ đến việc phát huy nội lực làm cho "ai cũng hăng hái"[36, tr.