Luận án tiến sĩ nghiên cứu nguồn sử liệu về phong trào thi đua yêu nước trong phông lưu trữ phủ thủ tướng 1945 1954

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu nguồn sử liệu về phong trào thi đua yêu nước trong phông lưu trữ phủ thủ tướng 1945 1954, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết,

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

195
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

1. MỤC LỤC

1.1. Bảng các chữ viết tắt

1.2. Danh mục ảnh minh họa

1.3. Danh mục các biểu bảng

1.4. Mục đích và ý nghĩa của đề tài

1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

1.6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.7. Các nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

1.8. Đóng góp của luận án

1.9. Bố cục và nội dung chủ yếu của luận án

1.10. Tổng quan tài liệu lưu trữ về phong trào Thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945 - 1954)

1.10.1. Hoàn cảnh ra đời phong trào Thi đua ái quốc

1.10.2. Tài liệu về phong trào Thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945 - 1954)

1.10.3. Đặc thù của tài liệu lưu trữ về phong trào Thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945 - 1954)

1.10.4. Phê phán tài liệu về phong trào Thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945 - 1954)

1.10.5. Các thể loại sử liệu

1.10.6. Phê phán một số tài liệu cụ thể

1.10.7. Giá trị của sử liệu về phong trào Thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945-1954)

1.11. Tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT - nguồn sử liệu nghiên cứu lịch sử phong trào TĐAQ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954)

1.12. Tài liệu lưu trữ về phong trào Thi đua ái quốc - cơ sở nghiên cứu công tác lãnh đạo, tổ chức phong trào TĐAQ

1.13. Nguồn sử liệu là các tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông lưu trữ PTT (1945-1954) - cơ sở để hoạch định chính sách thi đua khen thưởng hiện tại và trong tương lai

1.14. Danh mục công trình của tác giả

Danh mục tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Nghiên cứu phong trào thi đua yêu nước trong giai đoạn 1945-1954 có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ động lực phát triển xã hội Việt Nam. Phong trào này không chỉ khơi dậy tinh thần yêu nước mà còn tạo ra sức mạnh tập hợp quần chúng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thi đua là một phương thức để phát huy nội lực của nhân dân, giúp họ thể hiện tài năng và sức sáng tạo. Việc phát động phong trào thi đua ái quốc vào năm 1948 đã trở thành một nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy cuộc kháng chiến. Tài liệu lưu trữ từ Phủ Thủ tướng trong giai đoạn này chứa đựng nhiều thông tin quý giá, phản ánh sự chỉ đạo và tổ chức của Đảng và Chính phủ trong việc phát động phong trào. Nghiên cứu này không chỉ giúp các nhà sử học hiểu rõ hơn về nguồn sử liệu mà còn cung cấp những luận cứ quan trọng cho việc hoạch định chính sách thi đua hiện tại và tương lai.

II. Tổng quan tài liệu lưu trữ về phong trào thi đua ái quốc

Tài liệu lưu trữ về phong trào thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945-1954) rất phong phú và đa dạng. Các tài liệu này bao gồm chỉ thị, sắc lệnh, biên bản họp và các báo cáo thành tích thi đua. Những tài liệu này không chỉ phản ánh quá trình tổ chức và phát động phong trào mà còn ghi lại những ý kiến, chỉ đạo của các lãnh đạo, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc phân tích các tài liệu này giúp làm rõ hơn về bối cảnh lịch sử, chính trị và xã hội của Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến. Đặc biệt, những tài liệu có bút tích của Hồ Chí Minh mang giá trị lịch sử to lớn, thể hiện tư tưởng và quan điểm của Người về phong trào thi đua. Nghiên cứu tài liệu lưu trữ này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về phong trào thi đua yêu nước mà còn góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử kháng chiến chống Pháp.

III. Phê phán tài liệu về phong trào thi đua ái quốc

Phê phán tài liệu lưu trữ về phong trào thi đua ái quốc là một nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu lịch sử. Việc này bao gồm việc xác định tính xác thực và độ tin cậy của thông tin trong tài liệu. Các nhà nghiên cứu cần xem xét các yếu tố như thời gian, địa điểm, tác giả và nội dung của tài liệu để đánh giá giá trị của chúng. Nghiên cứu này không chỉ giúp làm rõ nguồn gốc và bối cảnh của các tài liệu mà còn giúp phát hiện những thông tin sai lệch hoặc thiếu chính xác. Qua đó, việc phê phán tài liệu sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu lịch sử, giúp các nhà sử học có cái nhìn sâu sắc hơn về phong trào thi đua yêu nước và lịch sử kháng chiến chống Pháp. Điều này cũng có ý nghĩa trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của các tài liệu lịch sử trong tương lai.

IV. Giá trị của sử liệu về phong trào thi đua ái quốc

Sử liệu về phong trào thi đua ái quốc trong phông lưu trữ Phủ Thủ tướng (1945-1954) có giá trị đặc biệt trong việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Những tài liệu này không chỉ cung cấp thông tin về tổ chức và hoạt động của phong trào mà còn phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong thời kỳ kháng chiến. Việc nghiên cứu các tài liệu này giúp làm rõ hơn về vai trò của phong trào thi đua yêu nước trong việc động viên quần chúng tham gia kháng chiến, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hơn nữa, những tài liệu này còn có thể được sử dụng làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách thi đua hiện tại và trong tương lai, giúp nâng cao hiệu quả công tác thi đua khen thưởng trong xã hội hiện đại.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu nguồn sử liệu về phong trào thi đua yêu nước trong phông lưu trữ phủ thủ tướng 1945 1954

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tài liệu lƣu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954). Trong chƣơng này, chúng tôi trình bày sơ lƣợc lịch sử PTT (1945 - 1954), quá trình hình thành phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954), bối cảnh lịch sử của phong trào TĐAQ, các loại hình tài liệu lƣu trữ về phong trào TĐAQ và phân loại chúng. Cũng trong chƣơng này, chúng tôi giới thiệu tóm tắt tình hình bảo quản, khai thác sử dụng tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông này. Nội dung của chƣơng này nhằm giúp ngƣời đọc thấy đƣợc xuất xứ và nội dung chính cũng nhƣ những đặc thù của những tài liệu lƣu trữ về phong trào TĐAQ trong phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954).

Những vấn đề đƣợc trình bày trong chƣơng này, kể cả những vấn đề đƣợc trình bày khái quát, đều có liên quan và có tác dụng bổ trợ cho những vấn đề mà chúng tôi sẽ trình bày ở những chƣơng sau. Chương 2: Phê phán nguồn tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954). z 20 Đây là chƣơng chứa đựng nội dung cơ bản của luận án. Trong chƣơng này chúng tôi tiến hành phê phán sử liệu (vật mang tin, yếu tố thời gian, địa điểm, tác giả và bản văn).

Bƣớc cuối cùng qui trình phê phán sử liệu là tổng hợp sử liệu. Những vấn đề đƣợc trình bày trong chƣơng này nhằm giúp ngƣời đọc, những ngƣời nghiên cứu có đƣợc những thông tin xác thực và xác định đƣợc độ tin cậy của các thông tin trong tài liệu lƣu trữ về phong trào TĐAQ của phông lƣu trữ PTT (1945-1954). Chương 3: Giá trị của sử liệu về phong trào TĐAQ trong phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954). Trong chƣơng này, dƣới góc độ sử liệu học, chúng tôi hệ thống, phân tích những giá trị của tài liệu về phong trào TĐAQ trong phông lƣu trữ PTT (1945-1954) đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử phong trào TĐAQ nói riêng.

Phần cuối cùng của luận án là kết luận. Dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài, chúng tôi rút ra một số nhận xét tổng quát về giá trị của nguồn sử liệu về phong trào TĐAQ và một số kết luận về việc sử dụng một số thủ pháp phân tích phê phán sử liệu. Phần cuối của kết luận, dựa trên kết quả nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị đối với Nhà nƣớc và các cơ quan hữu quan trong việc tổ chức lƣu trữ, bảo quản và khai thác, sử dụng nguồn sử liệu này có hiệu quả hơn. Với mong muốn làm sáng tỏ thêm những vấn đề đã đƣợc trình bày trong các chƣơng nói trên của luận án, chúng tôi đƣa thêm phần phụ lục gồm ảnh chụp một số sự kiện lịch sử, bản photocoppy một số tài liệu lƣu trữ quý đang đƣợc bảo quản tại các trung tâm lƣu trữ quốc gia.

Những vấn đề mà luận án đặt ra chúng tôi đã cố gắng thực hiện. Tuy nhiên, do một số tài liệu lẽ ra thuộc phông lƣu trữ PTT (1945 - 1954) nhƣng không thu thập và lƣu trữ đƣợc, nhiều nhân chứng lịch sử đã qua đời và do z 21 hạn chế về trình độ của chính tác giả nên chắc chắn luận án không tránh khỏi những hạn chế và thiết sót ở chỗ này hay chỗ khác. Chúng tôi rất mong nhận đƣợc những góp ý của các nhà khoa học và của độc giả. Chúng tôi tin tƣởng rằng những góp ý của ngƣời đọc sẽ giúp chúng tôi nhận ra những hạn chế cần khắc phục và giúp chúng tôi có thêm nguồn lực và nhiệt tình mới trên con đƣờng nghiên cứu sau này.

z 22 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU LƢU TRỮ VỀ PHONG TRÀO THI ĐUA ÁI QUỐC TRONG PHÔNG LƢU TRỮ PHỦ THỦ TƢỚNG (1945 - 1954) Chƣơng này đƣợc viết xuất phát từ những căn cứ sau đây: Muốn nghiên cứu nguồn sử liệu chúng ta phải xem xét, nhận thức chúng trong mối liên hệ chặt chẽ với những điều kiện lịch sử mà chúng đã ra đời. Tài liệu lƣu trữ trong phông lƣu trữ PTT(1945-1954) hình thành là kết quả quá trình hoạt động của Văn phòng Chủ tịch nƣớc, Văn phòng Chủ tịch Chính phủ và Văn phòng Hội đồng Quốc phòng tối cao (HĐQPTC) (1). Muốn hiểu rõ hoàn cảnh hình thành những tài liệu đó, chúng ta phải biết đƣợc: Nguyên nhân nào tạo ra sự xuất hiện của tài liệu ? Tài liệu đó chiếm vị trí thế nào trong diễn trình lịch sử của sự kiện ? Nắm chắc quy luật khách quan hình thành tài liệu sẽ tạo tiền đề cho chúng ta giải thích nội dung của các tài liệu nói trên. Nhƣ vậy, tài liệu xuất hiện một cách có chủ định trong quá trình hoạt động của Văn phòng Chủ tịch nƣớc, Văn phòng PTT, Văn phòng HĐQPTC và phong trào TĐAQ, đồng thời cũng tham gia vào các hoạt động này, sau này chúng trở thành đối tƣợng nghiên cứu lịch sử.

Bởi vậy, nguồn sử liệu nói trên biểu hiện sự thống nhất giữa vai trò tham gia tạo ra hoạt động của Văn phòng Chủ tịch nƣớc, PTT và Văn phòng HĐQPTC, hoạt động của phong trào TĐAQ, đồng thời còn là phƣơng tiện nhận thức lịch sử. Giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện các nhiệm vụ Chủ tịch nƣớc, Thủ tƣớng Chính phủ và Chủ tịch HĐQPTC có các Văn phòng. Các (1) Hội đồng Quốc phòng Tối cao đƣợc thành lập theo Sắc lệnh 206/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 19/8/1948 có nhiệm vụ quyết định những vấn đề quan trọng nhất về quốc phòng. Cụ Hồ Chí Minh-Chủ tịch Chính phủ kiêm Chủ tịch HĐQPTC.

Ngày 27/7/1949 Phạm Văn Đồng đƣợc cử làm Phó Thủ tƣớng và đƣợc bổ sung giữ chức Phó Chủ tịch HĐQPTC. z 23 Văn phòng này hoạt động độc lập theo chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, vì các Văn phòng đều giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng đóng một nơi, có lúc lại nhập với nhau nên tài liệu trong quá trình hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, rất khó tách bạch. Điều này lý giải vì sao tài liệu của khối này lẽ ra phải thành lập 3 phông độc lập nhƣng từ trƣớc đến nay đều chỉ thành lập một phông lấy tên là Phông lƣu trữ PTT.

Vì những căn cứ trên, trong chƣơng này chúng tôi giới thiệu hoàn cảnh ra đời phong trào TĐAQ, tài liệu TĐAQ và những nét đặc thù của chúng. Hoàn cảnh ra đời phong trào TĐAQ Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố trƣớc quốc dân và thế giới khai sinh nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống xâm lƣợc trong lúc vừa giành đƣợc độc lập.

Nƣớc ta trƣớc đó có nền kinh tế vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị thực dân Pháp và phát xít Nhật bóc lột làm cho kiệt quệ. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời nhƣng chƣa đƣợc một nƣớc nào trên thế giới công nhận. Quân Đồng minh đã dồn dập kéo vào Việt Nam với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật. Ở miền Bắc 4 quân đoàn quân Tƣởng Giới Thạch do tƣớng Lƣ Hán chỉ huy kéo vào đóng ở Hà Nội và từ biên giới vĩ tuyến 16 trở ra.

Khi tiến quân vào Việt Nam, quân đội Tƣởng đã kéo theo bọn phản động ngƣời Việt lƣu vong ở Trung Quốc là lực lƣợng Việt Quốc 1, Việt Cách 2 về nƣớc chống phá cách mạng. Ở miền Nam, quân đội Anh lấy danh nghĩa giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào để đồng loã, giúp cho thực dân Pháp xâm lƣợc nƣớc ta một lần nữa. 1 Việt Quốc: tên gọi tắt của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng. 2 Việt Cách: tên gọi tắt của tổ chức Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội.

z 24 Ngày 23/9/1945 quân đội Pháp nổ súng đánh Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lƣợc Việt Nam lần thứ hai. Nƣớc cộng hoà non trẻ còn chƣa có thời gian củng cố và phát triển. Trƣớc tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" và nguy cơ mất còn của độc lập dân tộc, ngày 25/11/1945 Ban Thƣờng vụ Trung ƣơng Đảng đã ra chỉ thị quan trọng: KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC xác định rõ nhiệm vụ chiến lƣợc, nhiệm vụ trƣớc mắt và những chính sách quan trọng. Khẩu hiệu "kháng chiến và kiến quốc" chính là nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc đó.

Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12 năm 1946 quân Pháp liên tiếp khiêu khích công an và tự vệ của ta. Ngày 18/12/1946 chúng ngang nhiên gửi tối hậu thƣ buộc Chính phủ ta phải giải tán lực lƣợng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng. Trƣớc hành động xâm lƣợc của thực dân Pháp, ngày 19/12/1946 quân dân Hà Nội đã nổ phát súng kháng chiến đầu tiên. Các thành phố Đà Nẵng, Huế, Vinh.

lần lƣợt nổ súng tấn công địch. Cuộc chiến đấu của quân dân Hà Nội ở cả nội và ngoại thành rất quyết liệt. Đêm 17/2/1947 trung đoàn Thủ đô đã bí mật tổ chức hành quân vƣợt sông Hồng qua Phúc Yên an toàn sau những tháng chiến đấu dũng cảm. Tháng 10/1947 thực dân Pháp đã huy động lực lƣợng tới hơn 2 vạn quân mở cuộc hành quân lên Việt Bắc.

Chiến lƣợc của địch là "đánh nhanh, thắng nhanh" nhằm mau chóng tiêu diệt lực lƣợng kháng chiến của ta. Bộ chỉ huy quân đội ta đã dự đoán trƣớc là địch có thể mạo hiểm đánh lên Việt Bắc. Nhờ tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân và dân ta nên các mũi tiến công của địch lên Việt Bắc đều bị bẻ gãy, địch buộc phải rút chạy khỏi Việt Bắc. Từ năm 1948 trở đi "vận động chiến" trở thành cách đánh tƣơng đối phổ biến của quân ta.

Nhiều trận phục kích thắng lợi nhƣ: La Ngà (3/1948), chiến dịch Nghĩa Lộ (3/1948), Tầm Vu (4/1948). z 25 Tổng kết tình hình giai đoạn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "Thực dân chƣa bị đánh quỵ. Chúng sẽ tấn công Việt Bắc lần nữa. Chúng sẽ tấn công nơi này rồi đến nơi khác.

Rồi đây, chúng sẽ lập chính phủ bù nhìn. Chúng sẽ dùng mƣu độc ác đem ngƣời Việt đánh ngƣời Việt. Cuộc kháng chiến sẽ gay go hơn nữa"[35, tr. Ngày 12/9/1947 trong thƣ gửi đồng bào khu III, Ngƣời lại viết: "Cũng nhƣ đi đƣờng xa, đi đến nơi thì thƣờng mệt nhọc, sự nghiệp kháng chiến gần đến lúc thành công thì càng nhiều nỗi gian nan"[36, tr.

Để vƣợt qua "nỗi gian nan" nói trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nghĩ đến việc phát huy nội lực làm cho "ai cũng hăng hái"[36, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu phong trào thi đua yêu nước trong phông lưu trữ phủ thủ tướng (1945-1954)" là một công trình nghiên cứu sâu sắc về phong trào thi đua yêu nước trong giai đoạn lịch sử quan trọng của Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về các hoạt động thi đua yêu nước mà còn phân tích các tài liệu lưu trữ từ phủ thủ tướng, giúp người đọc hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và những đóng góp của phong trào này trong việc xây dựng đất nước. Đặc biệt, luận án còn chỉ ra những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho các phong trào thi đua hiện nay, từ đó khuyến khích tinh thần yêu nước và trách nhiệm công dân trong xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác thi đua khen thưởng cấp huyện tại tỉnh Thanh Hóa, nơi nghiên cứu về nguồn nhân lực trong công tác thi đua, hay Nghiên cứu phong trào chiến tranh du kích từ năm 1965 đến năm 1975, cung cấp cái nhìn về các phong trào kháng chiến trong lịch sử Việt Nam. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất trong Cách Mạng Việt Nam (1945-1975), một nghiên cứu quan trọng về sự đoàn kết dân tộc trong bối cảnh kháng chiến. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phong trào yêu nước và kháng chiến trong lịch sử Việt Nam.