Pháp Tu Tịnh Độ Qua Niềm Tin và Thực Hành Của Tín Đồ Phật Giáo Ở Hà Nội

Tài liệu nghiên cứu Pháp tu tịnh độ qua niềm tin và thực hành của tín đồ phật giáo ở một số ngôi chùa trên địa bàn hà, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Tôn giáo học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

191
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về pháp tu Tịnh Độ

1.2. Nghiên cứu về nguồn gốc tư tưởng, lịch sử hình thành, phát triển pháp tu Tịnh Độ

1.3. Nghiên cứu quá trình du nhập, phát triển pháp tu Tịnh Độ ở Hà Nội

1.4. Nghiên cứu về đạo tràng Niệm Phật

1.5. Nhóm công trình nghiên cứu niềm tin và thực hành pháp tu Tịnh Độ

1.6. Niềm tin, thực hành của tín đồ theo pháp tu Tịnh Độ trong lịch sử

1.7. Niềm tin, thực hành của tín đồ theo pháp tu Tịnh Độ ở Hà Nội hiện nay

1.8. Nhóm nghiên cứu đặc điểm, vai trò và xu hướng của pháp tu Tịnh Độ ở Hà Nội hiện nay

1.9. Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra

1.10. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu. Những vấn đề đặt ra với luận án

2. CHƯƠNG 2: PHÁP TU TỊNH ĐỘ VÀ ĐẠO TRÀNG NIỆM PHẬT TRONG LỊCH SỬ

2.1. Quá trình hình thành và du nhập pháp tu Tịnh Độ vào Hà Nội

2.2. Khái quát lịch sử hình thành pháp tu Tịnh Độ

2.3. Quá trình du nhập pháp tu Tịnh Độ vào Hà Nội

2.4. Niềm tin và thực hành pháp tu Tịnh Độ trong lịch sử. Niềm tin của tín đồ theo pháp tu Tịnh Độ trong lịch sử

2.5. Thực hành của tín đồ theo pháp tu Tịnh Độ trong lịch sử

2.6. Đạo tràng niệm Phật trong lịch sử. Đạo tràng niệm Phật trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc

2.7. Đạo tràng niệm Phật trong lịch sử Phật giáo Việt Nam

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NIỀM TIN VÀ THỰC HÀNH PHÁP TU TỊNH ĐỘ CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO TRONG CÁC NGÔI CHÙA Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

3.1. Khái quát địa bàn nghiên cứu và kết quả mẫu điều tra, khảo sát

3.2. Khái quát địa bàn nghiên cứu

3.3. Đặc điểm mẫu khảo sát. Pháp tu Tịnh Độ qua niềm tin của tín đồ Phật giáo trong một số ngôi chùa ở Hà Nội hiện nay

3.4. Niềm tin Phật A Di Đà và 48 hạnh nguyện

3.5. Niềm tin cõi Tịnh Độ - Thế giới Tây phương Cực lạc

3.6. Pháp tu Tịnh Độ qua thực hành của tín đồ Phật giáo trong một số ngôi chùa ở Hà Nội hiện nay

3.7. Thực hành thuần túy tôn giáo

3.8. Thực hành hướng đích xã hội

3.9. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ XU HƯỚNG CỦA PHÁP TU TỊNH ĐỘ Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

4.1. Đặc điểm của pháp tu Tịnh Độ ở Hà Nội hiện nay

4.2. Đặc điểm tín đồ theo pháp tu Tịnh Độ ở Hà Nội hiện nay. Đặc điểm pháp tu Tịnh Độ qua niềm tin và thực hành của tín đồ Phật giáo

4.3. Đặc điểm pháp tu Tịnh Độ qua đạo tràng niệm Phật

4.4. Vai trò pháp tu Tịnh Độ đối với tín đồ ở Hà Nội hiện nay

4.5. Vai trò an định tinh thần cho tín đồ Phật giáo

4.6. Vai trò đáp ứng nhu cầu của tín đồ về thế giới tốt đẹp khi qua đời

4.7. Vai trò cố kết cộng đồng và nâng cao sức khỏe cho tín đồ

4.8. Xu hướng của pháp tu Tịnh Độ ở Hà Nội hiện nay

4.9. Xu hướng phát triển của pháp tu Tịnh Độ ở Hà Nội hiện nay

4.10. Xu hướng phân ly của pháp tu Tịnh Độ ở Hà Nội hiện nay. Xu hướng Thiền - Tịnh song tu ở Hà Nội hiện nay

4.11. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Pháp Tu Tịnh Độ và Niềm Tin Tín Đồ Phật Giáo Tại Hà Nội

Pháp tu Tịnh Độ là một trong những phương pháp tu hành phổ biến trong Phật giáo, đặc biệt là tại Hà Nội. Tín đồ Phật giáo tại đây thường tìm kiếm sự an lạc và thanh thản thông qua việc niệm Phật A Di Đà. Niềm tin vào cõi Tịnh Độ không chỉ là một khía cạnh tôn giáo mà còn là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân. Nghiên cứu này sẽ làm rõ những đặc điểm và vai trò của pháp tu này trong bối cảnh hiện đại.

1.1. Khái Quát Về Pháp Tu Tịnh Độ Trong Phật Giáo

Pháp tu Tịnh Độ đã có mặt từ lâu trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nó được xem như một phương pháp giúp tín đồ đạt được sự giác ngộ và giải thoát. Tại Hà Nội, pháp tu này đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong các ngôi chùa lớn.

1.2. Niềm Tin Của Tín Đồ Phật Giáo Tại Hà Nội

Niềm tin vào Phật A Di Đà và cõi Tịnh Độ là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của tín đồ Phật giáo. Nhiều tín đồ cho rằng việc niệm Phật sẽ giúp họ có được cuộc sống an lạc và được sinh về cõi Tịnh Độ sau khi qua đời.

II. Những Thách Thức Đối Với Pháp Tu Tịnh Độ Tại Hà Nội Hiện Nay

Mặc dù pháp tu Tịnh Độ đang phát triển, nhưng cũng gặp phải nhiều thách thức trong bối cảnh hiện đại. Sự thay đổi nhanh chóng của xã hội, cùng với áp lực từ cuộc sống đô thị hóa, đã ảnh hưởng đến niềm tin và thực hành của tín đồ. Nghiên cứu này sẽ chỉ ra những vấn đề mà tín đồ phải đối mặt.

2.1. Áp Lực Từ Cuộc Sống Hiện Đại

Cuộc sống đô thị hóa tại Hà Nội đã tạo ra nhiều áp lực cho tín đồ Phật giáo. Nhiều người cảm thấy khó khăn trong việc duy trì thói quen niệm Phật do công việc và cuộc sống bận rộn.

2.2. Sự Thay Đổi Trong Niềm Tin Tôn Giáo

Sự thay đổi trong niềm tin tôn giáo cũng là một thách thức lớn. Nhiều tín đồ trẻ tuổi có xu hướng tìm kiếm những hình thức tôn giáo mới, dẫn đến sự giảm sút trong số lượng người tham gia các hoạt động niệm Phật.

III. Phương Pháp Thực Hành Pháp Tu Tịnh Độ Hiệu Quả Tại Hà Nội

Để duy trì và phát triển pháp tu Tịnh Độ, nhiều ngôi chùa tại Hà Nội đã áp dụng các phương pháp thực hành hiệu quả. Những phương pháp này không chỉ giúp tín đồ nâng cao niềm tin mà còn tạo ra một cộng đồng gắn kết. Nghiên cứu sẽ trình bày các phương pháp này.

3.1. Tổ Chức Các Khóa Tu Niệm Phật

Nhiều ngôi chùa đã tổ chức các khóa tu niệm Phật định kỳ, giúp tín đồ có cơ hội tham gia và thực hành cùng nhau. Điều này không chỉ tăng cường niềm tin mà còn tạo ra sự gắn kết trong cộng đồng.

3.2. Ứng Dụng Công Nghệ Trong Thực Hành Tôn Giáo

Việc sử dụng công nghệ, như livestream các buổi lễ niệm Phật, đã giúp nhiều tín đồ tham gia từ xa. Điều này đặc biệt hữu ích trong bối cảnh dịch bệnh và giúp duy trì sự kết nối giữa các tín đồ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Pháp Tu Tịnh Độ Tại Hà Nội

Pháp tu Tịnh Độ không chỉ là một hình thức tôn giáo mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong đời sống hàng ngày của tín đồ. Nghiên cứu sẽ chỉ ra những lợi ích mà pháp tu này mang lại cho cộng đồng.

4.1. Tác Động Tích Cực Đến Tinh Thần Tín Đồ

Việc thực hành pháp tu Tịnh Độ giúp tín đồ cảm thấy bình an và hạnh phúc hơn trong cuộc sống. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng niệm Phật có tác động tích cực đến sức khỏe tâm thần.

4.2. Gắn Kết Cộng Đồng Tín Đồ

Pháp tu Tịnh Độ cũng tạo ra một cộng đồng gắn kết, nơi mà các tín đồ có thể hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hành và duy trì niềm tin. Điều này giúp tăng cường mối quan hệ xã hội và tạo ra một môi trường tích cực.

V. Kết Luận Về Pháp Tu Tịnh Độ và Tương Lai Tín Đồ Phật Giáo Tại Hà Nội

Pháp tu Tịnh Độ có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của tín đồ Phật giáo tại Hà Nội. Dù gặp nhiều thách thức, nhưng với những phương pháp thực hành hiệu quả, pháp tu này vẫn có thể phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Nghiên cứu sẽ đưa ra những dự đoán về xu hướng phát triển của pháp tu này.

5.1. Xu Hướng Phát Triển Pháp Tu Tịnh Độ

Dự đoán rằng pháp tu Tịnh Độ sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh xã hội hiện đại. Nhiều tín đồ sẽ tìm kiếm sự an lạc và bình yên thông qua việc thực hành niệm Phật.

5.2. Vai Trò Của Các Ngôi Chùa Trong Việc Duy Trì Pháp Tu

Các ngôi chùa sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển pháp tu Tịnh Độ. Họ sẽ cần áp dụng các phương pháp mới để thu hút tín đồ và tạo ra một môi trường thực hành tích cực.

09/07/2025
Pháp tu tịnh độ qua niềm tin và thực hành của tín đồ phật giáo ở một số ngôi chùa trên địa bàn hà nội hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nhóm công trình nghiên cứu về pháp tu Tịnh Độ 1. Nghiên cứu về nguồn gốc tư tưởng, lịch sử hình thành, phát triển pháp tu Tịnh Độ Nghiên cứu về nguồn gốc tư tưởng Tịnh Độ: Tiêu biểu là Anjana Mothar Chandra khi nghiên cứu lịch sử tư tưởng tôn giáo ở Ấn Độ đã có một nhận xét quan trọng về tư tưởng của các tôn giáo ở Ấn Độ cổ đại tin vào Nghiệp (sa. Karma) và luân hồi (sa.

Samsāra) [113, tr. Ông cho rằng, đạo Phật đã kế thừa những khái niệm Nghiệp và Luân hồi, biểu hiện trong tư tưởng và giáo lý của mình. Trên phương diện kinh điển Phật giáo, nguồn gốc tư tưởng Tịnh Độ biểu hiện rõ ràng trong 03 bộ kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A Di Đà (Tịnh Độ tam kinh). Ba bộ kinh này không chỉ trực tiếp đề cập đến nguồn gốc tư tưởng mà còn là hệ thống giáo lý và phương pháp tu tập Tịnh Độ.

Ngoài ra, tư tưởng Tịnh Độ còn thấy xuất hiện trong nhiều bộ kinh Phật giáo Đại thừa. Quan trọng hơn, sự xuất hiện của bộ Vãng sinh Tịnh Độ luận do Đại sư Thế Thân (316-396) trước tác đã cho thấy nguồn gốc tư tưởng Tịnh Độ và sự phát triển của nó đã rõ ràng ở thời kỳ ông sống [130]. Tuy nhiên, một nghiên cứu cho rằng, tư tưởng Tịnh Độ lại có nguồn gốc từ bộ Na Tiên tỳ kheo kinh (P: Nāgasena). Bộ kinh này thuộc hệ thống kinh điển Phật giáo Nguyên thủy, nhưng tư tưởng tin Phật, tưởng nhớ đến Phật khi lâm chung sẽ được Phật tiếp dẫn đến thế giới tốt đẹp được Junjiro Takakusu đánh giá là vô cùng mới mẻ, bởi tư tưởng này không có trong các bộ kinh khác thuộc thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy [165, tr.

Sau này, phần lớn các nhà nghiên cứu ở Việt Nam như Cao Hữu Đính [26], Mai Thọ Truyền [94], Thích Tiến Đạt [21], Thích Tâm Hải [37], Nguyên Thanh Hoa [43], Nguyên Hòa [44], Nguyễn Văn Quý [68], Nguyễn Tiến Sơn [70],. đồng quan điểm cho rằng, tư tưởng và PTTĐ do Phật Thích Ca thuyết giảng cho môn đồ, hoặc ít nhất là xuất hiện ở thời kỳ Phật giáo tiền Đại thừa. Trên phương diện lịch sử, các bộ kinh A Di Đà, Vô Lượng Thọ và Quán Vô Lượng Thọ và bộ Vãng sinh Tịnh Độ luận của Đại sư Thế Thân xuất hiện phù hợp với thời kỳ tiền Phật giáo Đại thừa. Nguyễn Tuệ Chân cho rằng, đó là thời kỳ quá độ của Phật giáo Nguyên thủy.

Nói cách khác, đây là thời kỳ manh nha của Phật giáo Đại thừa [13, tr. Nghĩa là, thời kỳ tiền Phật giáo Đại thừa được tính từ 13 khoảng năm 150 trước Công nguyên đến năm 100 sau Công nguyên. Vì thế, nhiều học giả khi nghiên cứu về PTTĐ đều chung nhận định, tư tưởng Tịnh Độ biểu hiện khá rõ qua việc ai đó tin tưởng Phật sẽ Phật “được cứu độ” khi lâm chung, và đây là tư tưởng mới và khác lạ so với tư tưởng Phật giáo trước đó. Hay như Nguyễn Duy Hinh đánh giá là sự thể hiện rõ ràng tư tưởng cứu thế [42, tr.

Còn Nguyễn Quảng Cư nhận định, tư tưởng Tịnh Độ là một bộ phận quan trọng cấu thành phong trào Phật giáo Đại thừa, mở ra hướng phát triển mới trong hệ thống tư tưởng của Phật giáo [16, tr. Nhìn chung, không có tranh luận đáng kể nào về nguồn gốc tư tưởng PTTĐ Nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của pháp tu Tịnh Độ. Chủ yếu trong các công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo và lịch sử TĐT ở Trung Quốc. Trong cuốn Lược sử Phật giáo (Hạnh Viên dịch từ tiếng Anh), Edward Conze cho rằng, vào thế kỷ 2 sau Công nguyên, ở Trung Quốc, tư tưởng Tịnh Độ đã phổ biến qua việc thờ phụng Phật A Di Đà của người dân [116].

Cuốn Lịch sử Phật giáo của Nguyễn Tuệ Chân cho biết, Tông Hiểu (1151 - 1214) là người đầu tiên suy tôn Đại sư Huệ Viễn (334-416) là Sơ tổ của TĐT. Đại sư Chí Bàn căn cứ vào sự suy tôn của Tông Hiểu để biên soạn bộ Phật tổ thống ký nhằm đề xuất hệ thống truyền thừa các vị tổ của TĐT ở Trung Quốc [13]. Công trình Lịch sử Phật giáo Trung Quốc của Pháp sư Thánh Nghiêm (Thích Tâm Hải dịch từ tiếng Trung) đã giới thiệu khá đầy đủ lịch sử Phật giáo Trung Quốc từ thời Hán đến thời Dân quốc. Trong đó, PTTĐ đã được tác giả đề cập trong sự ảnh hưởng qua lại của tư tưởng, phương pháp tu tập Tịnh Độ với các thiền phái.

Như vậy, qua một số công trình nghiên cứu lịch sử Phật giáo Trung Quốc tiêu biểu nêu trên đã cho thấy phần nào sự hình thành và phát triển của PTTĐ, nhất là phương diện truyền thừa. Gần đây, khá nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo, trong đó có một phần nghiên cứu về lịch sử PTTĐ. Quan điểm chung của các công trình này đều cho rằng, PTTĐ hình thành, phát triển và đã trở thành một trong những “tông” Phật giáo quan trọng ở Trung Quốc. Tiêu biểu là hai công trình Lịch sử Tịnh Độ tông Trung Quốc của Lý Hiếu Bổn (Quảng Hiếu dịch từ tiếng Trung) và Lịch sử giáo lý Tịnh Độ Trung Quốc của Vọng Nguyệt Tín Hanh (Thích Nữ Giới Niệm dịch từ tiếng Nhật).

Lý Hiếu Bổn cho rằng, thời điểm Đại sư Chi Lâu Ca Sấm và Đại sư Trúc Phật Sóc dịch kinh Bát chu tam muội năm 179 sau Công nguyên được xem là 14 thời điểm giáo lý Tịnh Độ được truyền vào Trung Quốc [131, tr. Vọng Nguyệt Tín Hanh cũng đồng quan điểm này và cho rằng, khi bộ kinh Bát chu tam muội được dịch ở Trung Quốc đã khiến cho tín đồ Phật giáo xuất gia và tại gia khởi lòng tin kính Phật A Di Đà [135, tr. Như vậy, hai học giả đã đồng quan điểm về thời điểm PTTĐ được truyền bá vào Trung Quốc dựa vào lịch sử phiên dịch kinh điển Tịnh Độ. Do đó, theo lịch sử phiên dịch kinh điển Phật giáo, phải đến thế kỷ thứ 6 thì kinh điển Tịnh Độ mới xuất hiện trọn vẹn, nghĩa là giáo lý, phương pháp tu tập đã đầy đủ.

Trên phương diện tín đồ Phật giáo chuyên tu Tịnh Độ, cả Lý Hiếu Bổn và Vọng Nguyệt Tín Hanh cùng xác định, Khuyết Công Tắc thời Tây Tấn (266-316) là tín đồ Phật giáo tại gia đầu tiên theo PTTĐ. Sau ông, có nhiều người tin theo, khiến cho pháp tu này ngày càng phát triển. Nhất là khi kinh A Di Đà được dịch thì mọi tín đồ và người dân sùng kính và đây là bộ kinh được sử dụng phổ biến nhất. Edward Conze trong công trình Lược sử Phật giáo (Nguyễn Minh Tiến dịch từ tiếng Anh) nhận định, từ thế kỷ 6 đến thế kỷ thứ 8, Phật giáo ở Trung Quốc hưng thịnh, ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân ở quốc gia này [1116, tr.

Ngoài việc xác định hệ thống truyền thừa, lịch sử phiên dịch kinh điển thì nghiên cứu về giáo lý, phương pháp tu tập, hệ thống tổ đình của TĐT được nhiều học giả quan tâm và khá đồng quan điểm. Tiêu biểu là công trình Khảo cứu về Tịnh Độ tông của Mai Thọ Truyền [94], Tịnh độ hoặc vấn của Thích Thiền Tâm [73], Tịnh Độ tông và biểu hiện của nó trong Phật giáo Việt Nam hiện nay của Nguyễn Văn Quý [68], Pháp tu Tịnh Độ và tượng Phật A Di Đà trong các ngôi chùa Việt ở vùng đồng bằng Bắc bộ của Đinh Viết Lực [57], Pháp tu Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Tiến Sơn [70],. đã cho thấy giáo lý, phương pháp tu tập, hệ thống truyền thừa, hệ thống tổ đình của TĐT Trung Quốc đã rõ ràng. Nghiên cứu về TĐT Nhật Bản, hiện nay có ba công trình tiêu biểu là Các tông phái của đạo Phật của Junjiro Takakusu (Tuệ Sỹ dịch từ tiếng Anh); Tịnh Độ tông Nhật Bản của Kakehashi Jitsuen (Thích Như Điển dịch từ tiếng Nhật) và Lịch sử Phật giáo Nhật Bản của Giác Dũng [18].

Junjiro Takakusu và Giác Dũng căn cứ truyền thuyết về Thái tử Thánh Đức triều đại nữ hoàng Suiko (593-628) có lòng tin Phật A Di Đà nên hai ông cho rằng, vào thế kỷ thứ 6, PTTĐ đã hiện diện ở Nhật 15 Bản [127]. Tuy nhiên, theo Kakehashi Jitsuen cho rằng, Đại sư Hành Cơ mới là người truyền bá PTTĐ sâu rộng đến với người dân Nhật Bản vào thời đại Nara (710 - 793). Nhưng khi khảo cứu kỹ lưỡng các tư liệu lịch sử, họ cho rằng Đại sư Giám Chân mới là người đưa pháp tu này từ Trung Quốc sang Nhật Bản vào năm 745 và truyền cho đệ tử người Nhật Bản là Vinh Duệ (Eiei) [128, tr. Bên cạnh đó, Kakehashi Jitsuen nhận định, vị tổ thứ ba của Thiên Thai tông Nhật Bản là Viên Nhân (Enin) đã giới thiệu về phương pháp Niệm Phật đứng và ngồi, đồng thời mô tả TGTPCL bằng nhạc điệu [128, tr.

Tóm lại, về lịch sử PTTĐ ở Nhật Bản đến nay vẫn tồn tại hai quan điểm về thời điểm du nhập. Quan điểm của Junjiro Takakusu về Thái tử Thánh Đức tin Phật A Di Đà có lẽ bắt nguồn từ bộ Nhật Bản thư kỷ ghi chép về buổi đầu tôn giáo Nhật Bản. Theo Sueki Fumihik, Nhật Bản thư kỷ là sản phẩm tưởng tượng hơn là sự thực lịch sử. Do đó, khi nói đến PTTĐ ở Nhật Bản, xu hướng chủ yếu là nghiên cứu các nhân vật lịch sử của pháp tu này như Đại sư Nguyên Tín, Đại sư Pháp Nhiên và đặc biệt là Đại sư Thân Loan (1173-1262) và những trước tác của họ.

Xu hướng này tìm hiểu về tư tưởng, phương pháp thực hành hơn là lịch sử PTTĐ. Vì qua nghiên cứu các nhân vật và trước tác của họ để thấy được những điểm chung và riêng trong niềm tin, thực hành của TĐT Nhật Bản. Nhìn chung, cho đến nay, các công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo nói chung, lịch sử PTTĐ nói riêng đã cho thấy khá rõ nguồn gốc tư tưởng, lịch sử hình thành và phát triển mạnh mẽ của PTTĐ ở Trung Quốc, Nhật Bản. Song điểm quan trọng nhất khi nói về PTTĐ ở Trung Quốc và Nhật Bản là quá trình hình thành “tông” với ít nhất ba yếu tố: giáo lý, cơ sở thờ tự và hệ thống truyền thừa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ