Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, bản chất pháp lý của pháp nhân thương mại 1. Khái niệm về pháp nhân và pháp nhân thương mại Trong lịch sử đã có thời kỳ pháp luật chưa hề biết đến khái niệm pháp nhân. Từ thời cổ đại đến thời kỳ phong kiến đã xuất hiện những phường hội.
Đây là những tổ chức hình thành trên cơ sở hợp tác liên kết, không tham gia vào các quan hệ pháp luật. Các tổ chức này không nhân danh mình mà nhân danh các thành viên của phường, của hội, hay nói cách khác là nhân danh các chủ sở hữu của các tài sản được đưa vào sử dụng để thực hiện các hành vi giao dịch. Và như vậy, các tổ chức này không có tư cách pháp nhân độc lập trong việc sử dụng và định đoạt những tài sản khi nó buộc phải trở thành phương tiện để thực hiện các quan hệ dân sự, thương mại, kinh tế. Điều đó cũng có nghĩa là về mặt pháp lý, không có sự phân biệt và tách bạch giữa tài sản được đưa vào tổ chức và phần tài sản còn lại, mà cả hai thuộc sở hữu của cùng một chủ.
Cho đến thời kỳ xã hội tư bản, phương thức sản xuất, đặc biệt là sức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh, đưa đến sự xuất hiện ngày càng nhiều những tổ chức kinh tế xã hội với tư cách là những chủ thể đặc biệt của những quan hệ pháp luật. Vấn đề củng cố địa vị cho các tổ chức kinh tế bằng phương tiện pháp lý để các tổ chức này tham gia vào các quan hệ dân sự, thương mại đặt ra nhu cầu cấp thiết với các loại hình tổ chức khác nhau và cũng là phương tiện cạnh tranh giữa các nhà tư bản với nhau trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Để xác định tư cách pháp lý độc lập cho các tổ chức này và tránh rủi ro trong kinh doanh cũng như giới hạn những hậu quả từ sự đổ vỡ trong các tổ chức và thực tiễn của hoạt động dân sự, thương mại đòi hỏi phải tạo ra một khả năng về sự 7 tách bạch về tài sản giữa phần đưa vào lưu thông và phần còn lại mà chủ sử hữu có nhu cầu sử dụng vào các mục đích khác. Khi thực hiện nguyên tắc tách bạch về tài sản cũng là khi xuất hiện một nhân cách pháp lý mới tách bạch với nhân cách của chủ sở hữu hoặc cộng đồng sở hữu.
Để đặt tên cho nhân cách pháp lý mới đó, khái niệm pháp nhân ra đời. Hay nói một cách khác, lịch sử ra đời của chế định pháp nhân và những ý niệm về pháp nhân được chính thức hình thành trong nền pháp lý tư sản. Và như vậy, đến lúc này, trong cơ chế của nền pháp lý tư sản không chỉ có một loại chủ thể pháp luật duy nhất là cá nhân con người mà xuất hiện một loại chủ thể khác nữa, đó là tổ chức tập thể cộng đồng hay tập đoàn. Từ đó, trong dân luật tư sản xuất hiện hai khái niệm pháp nhân và thể nhân.
Hai khái niệm này được dùng để chỉ tính chủ thể của hai loại trên (tổ chức và cá nhân) khi chúng tham gia vào các quan hệ pháp luật chủ yếu là pháp luật dân sự, kinh tế1. Do vậy, chế định pháp nhân xuất hiện trên thương trường cùng với sản xuất hàng hoá và hình thành thị trường với quá trình trao đổi hàng hoá và sự ra đời của các hội buôn, của các doanh nghiệp tổ chức theo kiểu công ty. Các hội buôn, doanh nghiệp này có trụ sở khác với trú quán hoặc nơi ở của các hội viên, một tài sản khác với tài sản của các hội viên và khối tài sản này được dùng làm đảm bảo cho những cam kết của công ty, doanh nghiệp hay của hội đối với khách hàng mà ngày nay trong thuật ngữ kinh doanh gọi là “đối tác”. Công ty cũng có một người đại diện để hành động phán quyết nhân danh công ty, nếu không có những yếu tố trên, mỗi khi đi giao dịch hoặc theo kiện với công ty, người ta phải kiện từng thành viên, để sai áp tài sản của từng người tại nơi làm việc hoặc nơi ở của từng người.
Như thế thì việc giao dịch với công ty không thực hiện được và không ai muốn giao dịch với công ty nữa, các giao dịch không được thực hiện. 1 Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Pháp nhân – Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 8 Có thể thấy, ý niệm về pháp nhân xuất hiện cùng với nhu cầu của các tổ chức tập đoàn, doanh nghiệp, hội buôn, công ty được tham gia vào các quan hệ pháp luật và được luật pháp bảo vệ lợi ích trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Và mặc dù xuất hiện và tồn tại xuất phát từ nhu cầu khách quan của thực tiễn, song định nghĩa chung về pháp nhân hiện nay cũng chưa có ở bất cứ pháp luật của một nước nào mà chỉ dừng lại ở việc quy định các dấu hiệu của pháp nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, trong đó dấu hiệu cơ bản nhất vẫn là "pháp nhân tồn tại không phụ thuộc vào sự thay đổi các thành viên trong pháp nhân đó".
Pháp nhân được coi là “cá thể riêng biệt”, có tài sản riêng độc lập với tài sản của các thành viên của nó, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và thực hiện những hành vi pháp lý nhân danh mình; có quyền làm nguyên đơn, bị đơn trước tòa án, có trách nhiệm độc lập về tài sản. Quan niệm chung trên thế giới là vậy, còn ở Việt Nam trước đây cũng không có khái niệm về pháp nhân mà thuật ngữ "pháp nhân" thực chất là một chế định pháp lý du nhập. Quan niệm về pháp nhân ở Việt Nam có thể được khái quát thông qua quan điểm pháp lý ở các thời kỳ khác nhau, trong đó có thể chia thành 2 giai đoạn chính, gồm: thời kỳ kinh tế tập trung và thời kỳ kinh tế thị trường. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Chế định pháp nhân là vấn đề pháp lý ít được nhắc đến.
Mặc dù trong nhiều văn bản có quy định một số tổ chức có tư cách pháp nhân nhưng không nêu rõ pháp nhân là gì và có đặc điểm gì. Pháp nhân được đề cập tại Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 của Hội đồng Chính phủ. Thời kỳ này, việc quy định tư cách pháp nhân là phục vụ cho chủ trương, chính sách quản lý và ký kết hợp đồng kinh tế của Nhà nước. Theo đó, Quy chế về pháp nhân cũng không được xây dựng trên nền tảng khoa học mà được ban hành nhằm phục vụ cho ý chí chủ quan của nhà nước.
Cũng chính vì chưa có nền tảng lý luận nên những điều kiện trở thành pháp nhân khá mơ hồ, phiến diện. 9 Cũng cần hiểu rằng, thời kỳ này, các quan hệ dân sự chưa phát triển, nhiều quan hệ kinh tế của nền kinh tế thị trường chưa được đặt ra như: phá sản, giải quyết tranh chấp kinh tế, hợp đồng kinh tế nên chế định pháp nhân chưa được quy định đầy đủ các khía cạnh pháp lý của nó. Vì thế, xét dưới góc độ điều chỉnh pháp luật, thời kỳ này không có sự tồn tại pháp nhân khi tham gia các quan hệ dân sự - kinh tế theo đúng nghĩa của nó. Trong thời kỳ kinh tế thị trường: theo chủ trương đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã bắt đầu có những chuyển biến tích cực theo hướng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế ngày càng phát triển và đa dạng, trong đó xác định pháp nhân là chủ thể quan trọng của hợp đồng kinh tế. Nghị định 17/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989) lần đầu tiên đưa ra khái niệm về pháp nhân. Theo đó, pháp nhân là tổ chức thỏa mãn các điều kiện, như: được thành lập hợp pháp; có tài sản riêng và chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản đó; có quyền quyết định độc lập về hoạt động; tự mình tham gia các quan hệ pháp luật. Ngoài ra, pháp nhân còn được đề cập trong Pháp lệnh Hợp đồng Dân sự ngày 01/7/1991, theo đó một tổ chức được coi là có tư cách pháp nhân phải hội đủ ba điều kiện là: có tài sản riêng, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập, có thể là nguyên đơn, bị đơn trước tòa; được thành lập hợp pháp và được pháp luật công nhận là một tổ chức độc lập.
Như vậy, các pháp lệnh trên đều quy định về hai thuộc tính cơ bản của pháp nhân là sự tham gia quan hệ pháp luật và đặc biệt là pháp nhân có tài sản độc lập và chịu trách nhiệm bằng tài sản. Pháp nhân được coi là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự chứ không chỉ là chủ thể trong hợp đồng kinh tế trước đây. Năm 1995, Bộ Luật Dân sự được ban hành, lần này khái niệm pháp nhân được đưa vào Bộ Luật với những quy định cụ thể. Điều 94 của Bộ Luật Dân sự quy định một tổ chức được công nhận là pháp nhân.
10 Còn theo Bộ Luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 24/11/2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017) quy định: một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: (1) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; (2) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; (3) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (4) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Từ các dấu hiệu pháp lý của pháp nhân cho thấy sự tồn tại của pháp nhân phụ thuộc vào pháp luật. Có nghĩa là, pháp luật quy định tổ chức nào có tư cách pháp nhân. Bản chất pháp lý của pháp nhân gắn với sự độc lập về tài sản, tham gia các quan hệ pháp luật bằng tài sản và chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản.
Pháp nhân có khả năng hành động độc lập trước pháp luật.