Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vấn đề lao động và bảo vệ quyền lợi của các nhóm yếu thế trong quan hệ lao động luôn giữ vị trí trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặc biệt trong tiến trình hội nhập quốc tế và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định chủ trương: “Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân”. Trong bối cảnh đó, lao động chưa thành niên là đối tượng đặc thù, thuộc nhóm lao động yếu thế do chưa hoàn thiện về thể chất, tâm lý và nhận thức pháp lý, dẫn đến nguy cơ cao bị lạm dụng, bóc lột sức lao động hoặc làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm. Nhằm làm rõ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nhóm đối tượng này, khóa luận tốt nghiệp ngành Sư phạm Giáo dục Công dân với đề tài “Pháp luật về lao động chưa thành niên” đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, hệ thống hóa các quy định pháp luật của Việt Nam và quốc tế (tiêu biểu là Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO) liên quan đến lao động chưa thành niên; đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam để đề xuất các kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế bảo vệ quyền lợi của người lao động chưa thành niên.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về lao động và lao động chưa thành niên, bao gồm khái niệm, đặc điểm tâm sinh lý, tư cách chủ thể pháp luật và vai trò của lao động chưa thành niên đối với bản thân, người sử dụng lao động và xã hội.
  2. Tìm hiểu, phân tích và so sánh cơ sở pháp lý về lao động chưa thành niên tại Việt Nam (trọng tâm là Bộ luật Lao động năm 2019) với các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO; đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật qua các nguồn dữ liệu chính thống từ ILO và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
  3. Đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao điều kiện lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động chưa thành niên, trọng tâm là các điều khoản trong Bộ luật Lao động năm 2019 và các công ước, khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
  • Phạm vi nội dung: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam (Luật Trẻ em 2016, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Lao động 2019, Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH) và các công ước quốc tế có chọn lọc điều chỉnh đối tượng lao động chưa thành niên.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo cứu từ thời điểm ban hành Bộ luật Lao động năm 2012 cho đến nay (năm 2023).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất của lao động đối với sự phát triển của con người và xã hội; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động; cùng hệ thống các văn bản pháp lý quốc gia và quốc tế:

  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Bộ luật Lao động các năm 1994, 2012, 2019; Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Trẻ em năm 2016; Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động chưa thành niên.
  • Chuẩn mực quốc tế: Công ước số 138 (về tuổi lao động tối thiểu, 1973); Khuyến nghị số 146 (về tuổi tối thiểu được nhận vào làm việc); Công ước số 29, 87, 98, 100, 131, 135, 154, 158, 189 của ILO; Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (UN CRC); Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công bằng của Hoa Kỳ (FLSA).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, khái quát hóa các công trình nghiên cứu, giáo trình tâm lý học lao động, tâm lý học giáo dục và tài liệu pháp lý chuyên khảo để xây dựng khung lý luận về đối tượng lao động chưa thành niên.
  • Phương pháp thống kê số liệu: Tập hợp, xử lý các dữ liệu thứ cấp chính thống từ Báo cáo Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2018 (do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với ILO và Tổng cục Thống kê thực hiện) và các báo cáo chuyên đề của ILO, UNICEF.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đối chiếu, so sánh các quy định pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế, phân tích các điểm tương đồng, tiến bộ và các khoảng trống pháp lý, từ đó tổng hợp đánh giá thực trạng và xây dựng hệ thống giải pháp.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp từ văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thống kê chính thức của cơ quan nhà nước, ấn phẩm nghiên cứu của các tổ chức quốc tế (ILO, UNICEF) và hệ thống sách chuyên khảo, luận văn thạc sĩ trong nước và quốc tế.


Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN

Chương 1 tập trung làm rõ hệ thống khái niệm, các đặc điểm cốt lõi và vai trò của lao động chưa thành niên dưới góc độ luật học, tâm lý học lứa tuổi và xã hội học:

  1. Khái niệm và phân định độ tuổi:

    • Khái niệm lao động: Hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần phục vụ nhu cầu đời sống và thúc đẩy sự phát triển xã hội.
    • Lao động chưa thành niên: Theo Điều 143 Bộ luật Lao động 2019, người lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi.
    • Phân biệt với khái niệm "Trẻ em": Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (1989) định nghĩa trẻ em là người dưới 18 tuổi; tuy nhiên theo Điều 1 Luật Trẻ em 2016 của Việt Nam, trẻ em là người dưới 16 tuổi. Do đó, tồn tại khoảng lệch từ 16 đến dưới 18 tuổi: mọi trẻ em tham gia lao động đều là lao động chưa thành niên, nhưng không phải mọi người lao động chưa thành niên đều là trẻ em.
    • Lao động trẻ em (Child Labour): Theo ILO, đây là công việc tước đoạt tuổi thơ, tiềm năng, nhân cách, gây nguy hiểm hoặc cản trở việc học tập của trẻ, trái với quy định pháp luật.
  2. Đặc điểm của lao động chưa thành niên:

    • Đặc điểm chung của lao động: Tính đối tượng, tính chủ thể, tính xã hội, tính mục đích và tính gián tiếp thông qua công cụ lao động.
    • Tư cách chủ thể trong quan hệ lao động: Cần hội đủ năng lực pháp luật lao động (khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ theo luật định, gắn với độ tuổi từ đủ 15 tuổi trở lên theo BLLĐ 2012/2019) và năng lực hành vi lao động (thực tế hành động xác lập quan hệ lao động dựa trên thể lực và trí lực).
    • Đặc điểm tâm sinh lý theo 3 nhóm lứa tuổi:
      • Dưới 13 tuổi (nhi đồng 6-12 tuổi): Hệ cơ xương đang phát triển mạnh nhưng còn yếu, dễ tổn thương; tư duy trực quan, trí nhớ chưa cao, cảm xúc non nớt; chỉ phù hợp với các hoạt động nghệ thuật, thể dục thể thao.
      • Từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi (thiếu niên 12-15 tuổi): Thời kỳ dậy thì, xương phát triển không đồng đều dẫn đến thao tác đôi khi vụng về; tâm sinh lý có xung đột ("ngã ba đường", muốn khẳng định bản thân như người lớn); phù hợp với các công việc nhẹ, thủ công mỹ nghệ, nghề truyền thống không hóa chất độc hại, lập trình phần mềm.
      • Từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi (tuổi đầu thanh niên 15-18 tuổi): Thể chất bước vào giai đoạn hài hòa, tư duy logic phát triển mạnh, ý thức công dân hình thành; có thể tham gia các công việc đa dạng hơn (viết văn, viết báo, dịch vụ, bán hàng, gia sư, thu ngân...).
  3. Nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên:

    • Điều 144 BLLĐ 2019 và Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH quy định: Chỉ bố trí công việc phù hợp sức khỏe để bảo đảm thể lực, trí lực, nhân cách; phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ; lập sổ theo dõi riêng ghi rõ thông tin và kết quả khám sức khỏe; tổ chức khám sức khỏe định kỳ ít nhất 06 tháng/lần; tạo điều kiện học tập văn hóa, học nghề; bố trí thời giờ làm việc không trùng thời gian học tập.
  4. Số liệu thực trạng và vai trò của lao động chưa thành niên:

    • Số liệu điều tra quốc gia năm 2018: Cả nước có 1.031.944 trẻ em (5 - 17 tuổi) tham gia lao động, chiếm 5,4% tổng số trẻ em trong độ tuổi này và chiếm 58,8% số trẻ em có hoạt động kinh tế. Tỷ lệ phân bố: 59% nam, 41% nữ; 51,3% thuộc nhóm 15 - 17 tuổi; trên 84% phân bố ở nông thôn (tỷ lệ lao động trẻ em tại nông thôn là 6,6%, cao gấp 2,5 lần khu vực thành thị với 2,6%).
    • Nguyên nhân tham gia lao động: 33,3% phụ giúp sản xuất kinh doanh của hộ gia đình; 17,9% tạo thu nhập cho gia đình; 6,2% tạo thu nhập cho bản thân; trên 1/3 không xác định nguyên nhân.
    • Vai trò: Tạo thu nhập hợp pháp cho bản thân và gia đình nghèo; giúp rèn luyện kỹ năng, định hướng nghề nghiệp; giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực thời vụ cho người sử dụng lao động; bảo tồn và truyền nghề tại các làng nghề truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một; đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Chương 2 phân tích chuyên sâu các khía cạnh pháp lý thực định, so sánh quy định của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế của ILO, chỉ ra các khoảng trống và đề xuất giải pháp:

  1. Quy định về lĩnh vực, ngành nghề làm việc:

    • Quy định của ILO: Công ước 138 quy định tuổi lao động tối thiểu là 15 tuổi (cho phép các nước đang phát triển ấn định 14 tuổi, hiện có hơn 50 quốc gia áp dụng mức 14 tuổi). Công ước cho phép trẻ em 13 - 14 tuổi (hoặc 12 - 13 tuổi tùy mức tuổi tối thiểu) làm các "công việc nhẹ" không gây hại cho sức khỏe và việc học tập.
    • Quy định của Việt Nam (BLLĐ 2019, Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH):
      • Dưới 13 tuổi: Chỉ được làm nghệ thuật, thể dục thể thao không gây tổn hại thể lực, trí lực, nhân cách và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc UBND cấp tỉnh.
      • Từ đủ 13 đến chưa đủ 15 tuổi: Chỉ làm công việc nhẹ theo Phụ lục II (nghệ thuật, thể thao, lập trình phần mềm, nghề truyền thống không dùng hóa chất, làm nón lá, gói kẹo/nem thủ công, làm cỏ rau sạch, chăn thả gia súc nông trại...).
      • Từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi: Được làm hầu hết công việc trừ danh mục cấm tại Điều 147 BLLĐ 2019 và Phụ lục III Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH.
    • 6 điều kiện môi trường làm việc gây tổn hại bị cấm:
      1. Môi trường có yếu tố nguy hiểm, có hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (điện từ trường, rung, ồn, bụi amiăng, silic, than, bức xạ, tia X...).
      2. Tiếp xúc trực tiếp với vi sinh vật gây bệnh.
      3. Làm việc trên 04 giờ/ngày trong không gian gò bó, chật hẹp, phải quỳ gối, nằm, cúi khom.
      4. Làm việc trên giá cao hoặc dây treo cao hơn 2m so với mặt sàn; địa hình đồi núi có độ dốc trên 30 độ.
      5. Làm việc trong hố sâu hơn 5m.
      6. Làm việc trong nhà tù hoặc bệnh viện tâm thần.
    • Danh mục cấm công việc và địa điểm đối với người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi: Cấm mang vác nặng quá thể trạng; sản xuất kinh doanh rượu, bia, cồn, thuốc lá, chất gây nghiện; sản xuất, vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ; phá dỡ công trình; đúc, hàn kim loại; lặn biển, đánh bắt hải sản xa bờ; cấm làm việc dưới lòng đất, hang động, đường hầm, công trường xây dựng, cơ sở giết mổ, quán bar, vũ trường, karaoke, sòng bạc, cơ sở xoa bóp, điểm trò chơi điện tử.
  2. Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi:

    • Chuẩn mực quốc tế: Công ước 138 (Khoản 3 Điều 7) trao quyền cho cơ quan chức năng quốc gia quy định số giờ làm việc. Đạo luật FLSA của Hoa Kỳ quy định trẻ 14-15 tuổi chỉ làm tối đa 3 giờ/ngày học và 18 giờ/tuần học; cấm làm ban đêm.
    • Quy định của Việt Nam (Điều 146 BLLĐ 2019):
      • Người chưa đủ 15 tuổi: Tối đa 04 giờ/ngày và không quá 20 giờ/tuần; cấm làm thêm giờ, cấm làm việc vào ban đêm.
      • Người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi: Tối đa 08 giờ/ngày và không quá 40 giờ/tuần; chỉ được làm thêm giờ hoặc làm ban đêm trong một số nghề, công việc theo danh mục (như biểu diễn nghệ thuật, vận động viên thể thao).
    • Bất cập: Trong khi lao động thành niên có quy định chi tiết về thời gian nghỉ giữa ca (30 phút ban ngày, 45 phút ban đêm theo Điều 109 BLLĐ 2019), Bộ luật Lao động hiện hành chưa có điều khoản riêng quy định cụ thể định mức thời giờ nghỉ ngơi giữa giờ và nghỉ chuyển ca cho lao động chưa thành niên.
  3. Quy định về giao kết hợp đồng lao động và tiền lương:

    • Giao kết hợp đồng lao động: Thực hiện bằng văn bản theo Điều 13, 15 BLLĐ 2019. Với người chưa đủ 15 tuổi, người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó; phải có giấy khám sức khỏe đạt yêu cầu và sự đồng ý của cha mẹ/người giám hộ.
    • Tiền lương:
      • Quy định của ILO: Khuyến nghị số 146 nhấn mạnh nguyên tắc thù lao công bằng (fair remuneration) và trả lương bình đẳng cho công việc có giá trị như nhau (the principle of equal pay); Công ước số 100 và 131 quy định mức lương tối thiểu không phân biệt đối xử.
      • Quy định của Việt Nam: Áp dụng Chương VI BLLĐ 2019, tiền lương không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng; trả lương bình đẳng theo giá trị công việc; tiền lương trả bằng Đồng Việt Nam (VND); có phiếu/bảng kê trả lương chi tiết từng lần thanh toán.
  4. Đánh giá thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật:

    • Khóa luận đánh giá cao bước tiến của BLLĐ 2019 và Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH trong việc tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế của ILO. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn đọng: thiếu quy định chi tiết về thời giờ nghỉ ngơi đặc thù cho lao động chưa thành niên; việc kiểm soát danh mục công việc cấm tại khu vực phi chính thức và nông thôn còn lỏng lẻo; công tác thanh tra, xử lý vi phạm sử dụng lao động chưa thành niên còn hạn chế về lực lượng và chế tài răn đe.
    • Tác giả đề xuất nhóm kiến nghị hoàn thiện: bổ sung quy định cụ thể về thời gian nghỉ ngơi trong ca làm việc cho lao động vị thành niên; rà soát, cập nhật linh hoạt danh mục ngành nghề phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số; tăng cường năng lực bộ máy thanh tra lao động và đẩy mạnh truyền thông pháp luật trong trường học và cộng đồng dân cư.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và hệ thống hóa khung quy định pháp luật hiện hành áp dụng cho từng nhóm đối tượng lao động theo bảng so sánh dưới đây:

Tiêu chí Nhóm dưới 13 tuổi Nhóm từ đủ 13 đến chưa đủ 15 tuổi Nhóm từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi Lao động thành niên (từ đủ 18 tuổi)
Thời giờ làm việc tối đa Không quá 04 giờ/ngày và 20 giờ/tuần Không quá 04 giờ/ngày và 20 giờ/tuần Không quá 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần Không quá 08 giờ/ngày và 48 giờ/tuần
Làm thêm giờ / Ban đêm Nghiêm cấm tuyệt đối Nghiêm cấm tuyệt đối Chỉ được phép trong danh mục hạn chế (nghệ thuật, thể thao) Được phép theo thỏa thuận và giới hạn luật định
Lĩnh vực công việc cho phép Chỉ các công việc nghệ thuật, thể dục thể thao phù hợp Công việc nhẹ theo Phụ lục II Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH Mở rộng nhiều ngành nghề (bán hàng, viết báo, gia sư...), trừ danh mục cấm Mọi ngành nghề pháp luật không cấm
Yêu cầu giao kết hợp đồng Bằng văn bản, có sự đồng ý của cơ quan LĐ cấp tỉnh và đại diện hợp pháp Bằng văn bản, có sự tham gia của người đại diện hợp pháp Tự giao kết hoặc có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp Tự chịu trách nhiệm giao kết hợp đồng lao động
Khám sức khỏe định kỳ Bắt buộc định kỳ ít nhất 06 tháng/lần Bắt buộc định kỳ ít nhất 06 tháng/lần Theo quy định chung về an toàn vệ sinh lao động Tối thiểu 01 năm/lần hoặc theo tính chất công việc

Khóa luận đóng góp những phát hiện và giá trị học thuật cụ thể:

  • Làm rõ cơ sở khoa học về sự tương thích giữa mức độ trưởng thành tâm sinh lý lứa tuổi với giới hạn công việc và thời giờ làm việc trong luật thực định.
  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng lao động trẻ em tại Việt Nam qua việc xử lý số liệu điều tra quốc gia năm 2018, chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa nông thôn (6,6%) và thành thị (2,6%).
  • Nhận diện các khoảng trống pháp lý của BLLĐ 2019 so với các tiêu chuẩn của ILO, đặc biệt là thiếu vắng quy chuẩn cụ thể về thời giờ nghỉ ngơi giữa giờ làm việc cho lao động chưa thành niên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn do phạm vi nghiên cứu của đề tài tốt nghiệp bậc đại học:

  • Hạn chế về nguồn dữ liệu: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên các nguồn dữ liệu thống kê thứ cấp (Báo cáo điều tra năm 2018 của ILO/Bộ LĐTBXH) và phân tích văn bản quy phạm pháp luật thuần túy; chưa tiến hành khảo sát thực địa độc lập hoặc điều tra chọn mẫu trực tiếp tại các doanh nghiệp, làng nghề sử dụng lao động chưa thành niên.
  • Hạn chế về phạm vi không gian áp dụng: Đề tài chưa đi sâu phân tích cơ chế phối hợp liên ngành (giữa thanh tra lao động, nhà trường, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội) trong việc giám sát việc thực thi pháp luật tại khu vực kinh tế phi chính thức.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng khảo sát thực tiễn việc ký kết và thực hiện hợp đồng lao động đối với nhóm tuổi từ 15 đến dưới 18 tuổi tại các chuỗi cung ứng bán lẻ và dịch vụ ẩm thực tại các đô thị lớn.
  • Nghiên cứu cơ chế chế tài và hoàn thiện quy trình thanh tra, giám sát chuyên ngành về sử dụng lao động chưa thành niên tại các làng nghề truyền thống và khu vực nông nghiệp nông thôn.

Giá trị tham khảo

Đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho:

  • Sinh viên và giảng viên ngành Sư phạm Giáo dục Công dân, ngành Luật học và Công tác Xã hội: Cung cấp tài liệu giảng dạy và học tập chuyên sâu cho các học phần Pháp luật đại cương, Pháp luật Lao động, Tâm lý học lứa tuổi và Giáo dục quyền trẻ em.
  • Người sử dụng lao động và cán bộ nhân sự: Cung cấp danh mục tra cứu nhanh về các tiêu chuẩn tuyển dụng, điều kiện môi trường làm việc bị cấm, quy định khám sức khỏe và giới hạn thời giờ làm việc khi sử dụng lao động dưới 18 tuổi nhằm tránh rủi ro pháp lý.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức bảo vệ quyền trẻ em: Đóng vai trò là nguồn tài liệu tham khảo trong việc xây dựng chính sách, tài liệu truyền thông pháp luật học đường và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ lao động trẻ em.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt độ tuổi của "trẻ em" và "lao động chưa thành niên" theo hệ thống pháp lý như thế nào? Theo văn bản khóa luận, theo Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam, trẻ em là người dưới 16 tuổi (trong khi Công ước LHQ về Quyền trẻ em 1989 quy định là dưới 18 tuổi). Còn theo Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Do đó, có khoảng lệch độ tuổi từ đủ 16 đến chưa đủ 18 tuổi: người lao động trong độ tuổi này là lao động chưa thành niên nhưng không phải là trẻ em theo luật pháp Việt Nam.

2. Theo số liệu Điều tra quốc gia năm 2018 được trích dẫn trong khóa luận, thực trạng lao động trẻ em tại Việt Nam có những con số nổi bật nào? Báo cáo năm 2018 ghi nhận có 1.031.944 trẻ em (5 - 17 tuổi) tham gia lao động, chiếm 5,4% tổng số trẻ em cùng lứa tuổi và chiếm 58,8% số trẻ tham gia hoạt động kinh tế. Tỷ lệ phân bố gồm 59% nam và 41% nữ; nhóm 15 - 17 tuổi chiếm 51,3%. Đáng chú ý, trên 84% lao động trẻ em tập trung ở nông thôn với tỷ lệ 6,6%, cao gấp 2,5 lần khu vực thành thị (2,6%). Về lý do, 33,3% làm việc để phụ giúp gia đình và 17,9% làm việc để tạo thu nhập cho gia đình.

3. Pháp luật Việt Nam quy định giới hạn thời giờ làm việc đối với từng nhóm tuổi lao động chưa thành niên như thế nào? Căn cứ Điều 146 BLLĐ 2019:

  • Người chưa đủ 15 tuổi: Làm việc tối đa không quá 04 giờ/ngày và 20 giờ/tuần; nghiêm cấm làm thêm giờ và làm việc vào ban đêm.
  • Người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi: Làm việc tối đa không quá 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần; chỉ được làm thêm giờ hoặc làm việc ban đêm trong các lĩnh vực đặc thù được cho phép (như biểu diễn nghệ thuật, vận động viên thể thao).

4. Những môi trường làm việc nào bị pháp luật nghiêm cấm tuyển dụng lao động chưa thành niên? Pháp luật quy định 6 nhóm môi trường cấm tuyệt đối gồm: (1) Môi trường có yếu tố vật lý, hóa học nguy hại vượt chuẩn kỹ thuật vệ sinh lao động; (2) Tiếp xúc vi sinh vật gây bệnh; (3) Làm việc trên 04 giờ/ngày trong không gian gò bó, phải quỳ, nằm, khom; (4) Làm việc trên giá cao, dây treo cao hơn 2m hoặc dốc trên 30 độ; (5) Làm việc trong hố sâu trên 5m; (6) Làm việc trong nhà tù hoặc bệnh viện tâm thần.

5. Bất cập lớn nhất về quy định thời giờ nghỉ ngơi cho lao động chưa thành niên được chỉ ra trong khóa luận là gì? Khóa luận chỉ ra rằng Bộ luật Lao động năm 2019 đã có quy định chi tiết về thời gian nghỉ giữa giờ cho lao động thành niên (nghỉ ít nhất 30 phút ban ngày, 45 phút ban đêm nếu làm ca từ 6 giờ trở lên theo Điều 109), nhưng lại chưa có quy định riêng biệt, cụ thể về định mức thời gian nghỉ ngơi giữa giờ và chế độ nghỉ chuyển ca phù hợp với thể trạng đặc thù của lao động chưa thành niên.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Duy Tân đã hoàn thành việc hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và phân tích sâu sắc thực trạng pháp luật về lao động chưa thành niên tại Việt Nam trên cơ sở đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế của ILO. Đề tài làm rõ tính tất yếu của việc bảo vệ nhóm lao động yếu thế này thông qua việc phân tích đặc điểm tâm sinh lý và phân định các giới hạn pháp lý nghiêm ngặt về ngành nghề, thời giờ làm việc và an toàn vệ sinh lao động. Các đánh giá thực trạng và hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính khoa học, thiết thực, góp phần cung cấp tư liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy giáo dục công dân và hoàn thiện chính sách pháp luật lao động tại Việt Nam.