CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CƠ CẤU TỔ CHÚC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP 1.1 Khái niệm về Hội Đồng Nhân Dân Theo Từ điển tiếng Việt: “HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương!!! từ cấp xã tới cấp tỉnh, thuộc nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. HĐND được thành lập từ cuối năm 1945 theo Sắc lệnh số 63 ngày 22/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp sau đó, các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1992, 2003, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015, HĐND được tổ chức ở tất các các cấp Chính quyền địa phương gồm cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Các văn bản pháp luật nói trên đều ghi nhận HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tẾ-xã hội củng cố quốc phòng-an ninh không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tỉnh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước. HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của CQNN, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân Ở địa phương. Điều 80 Hiến pháp năm 1959 ghi nhận HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Điều 114 Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định: “HĐND các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương” đồng thời làm rõ “do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và chính quyền cấp trên”.
Nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của HĐND ta có thể đưa ra khái niệm HĐND như sau: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân của địa phương bầu ra gồm các đại biểu HĐND cấp xã đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; quyết định các vấn đề của địa phương theo luật định; có nhiệm vụ, quyền hạn giám sát thi hành Hiến pháp, Luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND là thiết chế quyền lực của nhân dân địa phương hay nói cách khác, trong chế độ dân chủ, quyền lực của nhân dân địa phương được tập trung trong một cơ quan đại diện cho họ trong việc giải quyết tất cả các vấn đề quan trọng của đời sống xã hội ở địa phương, đó chính là HĐND. Điều 113 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chi, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”. Quy định trên cho thấy vai trò, vị trí, tính chất của HĐND nó vừa là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương vừa là đại biểu của nhân dân địa phương đại diện cho ý chí nhân dân.
Vị trí, tính chất, chức năng của Hội Đồng Nhân Dân Nói đến vị trí là nói đến chỗ đứng của Hội đồng nhân dân trong hệ thống chính trị, trong bộ máy nhà nước, tính chất làm ta xác định rõ và không thể nhầm lẫn Hội đồng nhân dân với cơ quan nào khác, chức năng là những tính chất của các mặt hội đồng nhân dân đảm nhiệm. Như vậy, có thể thấy rõ, ba yếu tố này có liên hệ mật thiết không thể tách rời. Vị trí, tính chất, chức năng của Hội đồng nhân dân được quy định tại Điều 113 Hiến pháp 2013 và cụ thể hóa tại Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uy ban nhân dân được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua (26/11/2003) cùng các văn bản luật, pháp lệnh khác. Vị trí của Hội đồng nhân dân : Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân ở địa phương bầu ra (Điều 113, Hiến pháp 2013), miễn nhiệm và bãi nhiệm theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương con đường hình thành này là một yếu tố quan trọng tạo nên vị trí của Hội đồng nhân dân. Cơ sở pháp lý: (Điều 113 Hiến pháp 2013 quy định ) “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”. Vị trí của Hội đồng nhân dân cũng được ghi nhận trong Điều 1 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân. Nh ưy ậy, v jtrí HĐND có th ếxHt theo hai góc độ: HĐND - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương HĐND - cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân địa phương.
HĐND như chiếc cầu nối giữa nhân dân và Nhà nước, tạo điều kiện cho nhân dân làm chủ, mối quan hệ hai chiều được thúc đẩy khi dung hòa giữa yếu tố quyền lực Nhà nước và yếu tố ý chí của nhân dân. Tính chất của HĐND Vị trí của HĐND đã tạo nên những tính chất đặc thù riêng của nó. Việc Hiến pháp 2013 tiếp tục nhấn mạnh và khẳng định hai tính chất của HĐND mang nhiều ý nghĩa quan trọng, hai tính chất ấy là tính quyền lực và tính đại điện. * Tính quyền lực Nhà nước của HĐND - Hội đồng nhân dân cùng với Quốc hội hợp thành cơ quan quyền lực nhà nước, thay mặt cho nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước và là gốc của chính quyền nhân dân.
Các cơ quan nhà nước khác đều do Quốc hội và hội đồng nhân dân thành lập. - Hội đồng nhân dân thay mặt nhân dân địa phương sử dụng quyền lực nhà nước trong phạm vi địa phương mình. - Hội đồng nhân dân không chỉ chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương mà còn phải chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên. Hội đồng nhân dân một mặt phải chăm lo xây dựng địa phương về mọi mặt, đảm bảo phát triển kinh tế và văn hóa nhằm nâng cao đời sống của nhân dân địa phương, mặt khác phải hoàn thành thành nhiệm vụ của cấp trên giao cho * Tính đại diện của HĐND - Hội đồng nhân dân trong nhà nước ta là những tổ chức chính quyền gần gũi nhân dân nhất, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng và yêu cầu của nhân dân, nắm vững những đặc điểm của địa phương, do đó mà nắm và quyết định mọi công việc sát hợp với nguyện vọng của nhân dân địa phương.
- Hội đồng nhân dân còn là tổ chức có tính chất quần chúng, bao gồm các đại biểu của mọi tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, những công dân, nông dân trí thức ưu tú cùng nhau bàn bạc và giải quyết mọi công việc quan trọng của địa phương. - HĐND chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân địa phương. Các đại biểu không còn được nhân dân tín nhiệm sẽ bị bãi nhiệm. Trong tính chất và hoạt động của mình, HĐND phải thể hiện đầy đủ hai tính chất đó.
Chỉ khi nào HĐND kết hợp nhuần nhuyễn hai tính chất nói trên trong tổ chức và hoạt động của mình thì HĐND mới thực sự là cơ quan Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Xuất phát từ những quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2003 thì Hội đồng nhân dân có 3 chức năng chủ yếu sau đây: Một là, quyết định những vấn để quan trọng ở địa phương, như quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tỉnh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước; Hai la, dam bảo thực hiện các quy định và quyết định của các cơ quan nhà nước cấp trên và trung ương Ở địa phương; Ba là, thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương. Nhiệm vụ quyền hạn của Hội Đồng Nhân Dân. Để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương, Hội đồng nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương.
Hội đồng nhân dân được Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 giao cho nhiệm vụ và quyền hạn nhằm thực hiện công cuộc xây dựng địa phương về mọi mặt và góp phần vào sự nghiệp cách mạng chung của cả nước, thực hiện thắng lợi của công cuộc đổi mới. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân đựoơc quy định tai Điều 1, Điều 3, Điều 7, Điều 9, Điều 10 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003. Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh không ngừng cải thiện đời sống vat chat tinh than của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước. Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Tòa án dân nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chưc xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân địa phương.
Hội đồng nhân dân tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.