Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ƯU ĐÃI XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI XÃ HỘI 1. Khái niệm và ý nghĩa về ưu đãi xã hội 1. Khái niệm ưu đãi xã hội Khái niệm ưu đãi xã hội gắn liền với khái niệm người có công với cách mạng là sự đãi ngộ của Nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với người có công và gia đình họ. Ngay sau khi giành được chính quyền, từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947 về "Ưu đãi người có công", nhưng đến khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh người có công với cách mạng, thì khái niệm người có công với cách mạng mới được nêu đầy đủ.
Có thể hiểu khái niệm người có công theo hai nghĩa sau: Theo nghĩa rộng: Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, hiến dâng cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ là những người có thành tích đóng góp, những cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Ở đây có thể thấy rõ những tiêu chí cơ bản của người có công, đó là phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc. Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước1.
Theo nghĩa hẹp: Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định 1 TS. Đặng Thị Phương Lan và TS. Phạm Hồng Trang (2013), Giáo trình ưu đãi xã hội, NXB Lao động - Xã hội, tr. 9 của pháp luật.
Ở khái niệm này, Người có công bao gồm những người đã hy sinh xương máu hoặc một phần thân thể của mình trong hoạt động giúp đỡ cách mạng, hoặc cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và được các cơ quan tổ chức có thẩm quyền công nhận2. Phạm trù người có công rất rộng, trong phạm vi hẹp đối tượng người có công là những người có công trong các cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ý nghĩa ưu đãi xã hội Về chính trị: Thực hiện tốt chính sách đối với người có công là việc làm có ý nghĩa quan trọng, không chỉ ổn định đời sống của bộ phận dân cư đặc biệt này mà còn góp phần vào sự ổn định chính trị và phát triển xã hội. Mỗi sai lầm trong việc thực hiện chính sách người có công không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của họ mà còn đem lại những hậu quả khó lường.
Về xã hội và nhân văn: Ưu đãi xã hội thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, thể hiện truyền thống đạo lý quý báu của dân tộc ta, truyền thống "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ người trồng cây". Về kinh tế: Việc đảm bảo đời sống vật chất cho người có công trong sinh hoạt hàng ngày, nhất là đối với những người có công lao thành tích đặc biệt, có thương tật, bệnh tật nặng hoặc bù đắp một phần mất mát của họ. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các văn bản pháp quy lần lượt ra đời đưa ra những chính sách ưu đãi đối với người có công, trong đó quy định các loại trợ cấp, mức trợ cấp phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo người có công có cuộc sống ổn định để phát triển kinh tế. Về pháp lý: Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đã ban hành hàng loạt văn bản hướng dẫn thực hiện chế độ chính sách về ưu đãi xã hội đối với người có công đã ra đời (đến nay có trên 100 văn bản, chỉ thị, nghị quyết, quyết định.), đánh dấu sự phát triển về mặt lấp pháp của nước ta, là hành lang pháp lý để thực hiện.
Đặng Thị Phương Lan và TS. Phạm Hồng Trang (2013), Giáo trình ưu đãi xã hội, NXB Lao động - Xã hội, tr. 10 Theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29/6/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI (Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005) và Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005, đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi gồm: - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945; - Liệt sĩ; - Bà mẹ Việt Nam anh hùng; - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; - Anh hùng lao động thời kì kháng chiến; - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; - Bệnh binh; - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; - Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; - Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; - Người có công giúp đỡ cách mạng; - Thân nhân của người có công với cách mạng. Tất cả những đối tượng được coi là người có công bao giờ cũng được Nhà nước và xã hội dành cho những ưu tiên, những đãi ngộ hơn mức bình thường so với các đối tượng khác trong mọi mặt của đời sống xã hội.
Những ưu tiên, đãi ngộ hơn mức bình thường ấy chính là ưu đãi xã hội. Vì vậy, ưu đãi xã hội được hiểu là sự đãi ngộ của nhà nước, của cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với những người có công và gia đình họ3. 3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật an sinh xã hội, 2013, tr. Pháp luật ưu đãi xã hội 1.
Khái niệm pháp luật ưu đãi xã hội Với đặc điểm lịch sử của dân tộc Việt Nam, lịch sử của những cuộc đấu tranh giành và giữ nước trong hơn 4000 năm của ông cha ta, đã có một bộ phận lớn những người đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đó là những Bà mẹ Việt Nam anh hùng, những thương binh, liệt sĩ, người có công giúp đỡ cách mạng,… Họ là những người có công với cách mạng, với đất nước, được Nhà nước và nhân dân ghi nhận, biết ơn sâu sắc. Do vậy, ưu đãi xã hội xét ở một góc độ nào đó chính là những ưu đãi đối với người có công với cách mạng (pháp luật ưu đãi xã hội Việt Nam hiện nay chỉ quy định về đối tượng này). Tuy nhiên, những người có công với đất nước không chỉ bao gồm những người có công với cách mạng, những người đã xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vì độc lập dân tộc. Bên cạnh đó còn một bộ phận những người đã cống hiến, hy sinh hết sức mình để bảo vệ, xây dựng và giữ vững đất nước không phải chỉ trong thời chiến mà cả trong thời bình, họ đã đem lại những thành tích, sự vinh quang cho đất nước, góp phần vào sự phát triển của đất nước cũng như khẳng định vị thế của đất nước trên trường quốc tế… Vì thế, đối tượng người có công được hưởng ưu đãi xã hội không chỉ bó hẹp trong phạm vi những người có công với cách mạng mà còn được hiểu theo nghĩa rộng, đó là những người đã cống hiến sức lực, năng lực, trí tuệ và mạng sống của mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước mà không có bất kỳ sự đòi hỏi, yêu cầu bù đắp nào.
Họ là những người có thành tích xuất sắc bảo vệ cho sự bình an của xã hội, làm rạng danh đất nước, cống hiến, hy sinh vì lợi ích của đất nước, của dân tộc, được sự công nhận của pháp luật mà không có sự phân biệt tôn giáo, dân tộc, tín ngưỡng, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp…, như Nhà giáo nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân, Thầy thuốc ưu tú, Nhà kinh tế, Nhà khoa học có đóng góp xuất sắc… Lịch sử đã chứng minh, dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng. Gần một thập kỷ qua dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đồng lòng quyết tâm thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh 12 "Không có gì quý hơn độc lập tự do"; "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ". Với quyết tâm ấy, dân tộc Việt Nam đã giành được thắng lợi trước kẻ thù xâm lược. Để có được thắng lợi to lớn ấy, hàng triệu đồng bào, chiến sĩ ta đã vượt qua bao gian lao, vất vả, hàng triệu người đã hy sinh, bị thương, hay bệnh tật, không biết bao nhiêu người đã mất đi người thân, những hậu quả to lớn, những dấu ấn tàn khốc của chiến tranh vẫn còn in đậm trong tâm trí bao thế hệ người Việt Nam.
Khi chiến tranh đã đi qua, những đối tượng này và cả người thân của họ đã gặp không ít khó khăn trong cuộc sống. Sức khỏe của họ đã bị suy giảm, tuổi tác cũng gây ra khó khăn không kém, những di chứng của chiến tranh làm cho họ khó có thể phấn đấu, học tập, rèn luyện, làm việc để có thể thích nghi với cuộc sống đang ngày phát triển. Hơn nữa, họ không có điều kiện để chăm lo cho gia đình, con cái, người thân của họ bị thiệt thòi, cuộc sống gia đình bị ảnh hưởng. Họ là những đối tượng cần tới sự trợ giúp của Nhà nước, sự giúp đỡ của xã hội.
Những hy sinh, mất mát, cống hiến, công lao của họ cũng như thân nhân của họ xứng đáng được Nhà nước, xã hội ghi nhận và trợ giúp. Chính vì vậy, "ưu đãi xã hội được hiểu là sự đãi ngộ của Nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với người có công và gia đình họ"4.