CHƯƠNG 1 MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE UU DAI XÃ HỘI DOI VỚI NAN NHÂN NHIEM CHAT ĐỘC DA CAM/DIOXIN VÀ PHAP LUAT UU DAI XÃ HOI DOI VOI NAN NHÂN NHIEM CHAT ĐỘC DA CAM/DIOXIN 1. Khái niệm va ý nghĩa của ưu đãi xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin 1. Khái niệm ưu đãi xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin * Khái niệm nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin Chat da cam bao gồm axit 2,4-dichloro-phennoxyacetic, axit 2,4,5- trichlorophenoxyacetic và có dấu vết của 2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin (TCDD). Đây là loại thuốc diệt cỏ và hóa chat làm rung lá, một trong những “thuốc diệt cỏ” sử dụng chiến thuật.
Dé nhận biết và phân biệt các loại chất diệt cỏ, quân đội Mỹ đã dùng sơn với các màu sắc khác nhau thành những vạch màu trên các phương tiện chứa các chất độc này. Các thùng phi chứa hỗn hop 2,4,5-T và 2,4-D được sơn vạch màu da cam nên có tên gọi là chất da cam [19, tr. Quá trình nghiên cứu cho thấy dioxin có trong chất da cam và một số chất diệt cỏ. Chất độc da cam ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Các chất diệt cỏ được dùng đã làm rừng bị trụi lá, nguồn nước bị ô nhiễm làm đa số động vật chết vì thiếu thức ăn, không có nơi trú an, uống nước bị ô nhiễm và động vật song sót phải di chuyên tới những nơi khác. Chất diệt cỏ làm mat cân bằng sinh thái môi trường. Bên cạnh đó, chất da cam còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Chất da cam là hóa chất nguy hiểm nhất mà con người từng biết đến, là “vũ khí hiểm độc”, “vũ khí hủy diệt” và “có thé gây tác hại đến bảy đời” [19, tr.
Chất da cam đã hủy diệt thiên nhiên, cây cỏ, hủy diệt sức khỏe con người, gây nhiều bệnh tật nặng nề, gây nên những biến đôi gen di truyền qua mẹ hoặc bó, gây tai biến sinh san, quái thai, di dạng, dị tật cho những đứa con sinh ra hoặc gây các bệnh ung thư. Kết quả nghiên cứu của thé giới và Việt Nam cho thấy chất da cam có khả năng gây tổn 10 thương đa dang và phức tạp trên tất cả các bộ máy sinh lí của cơ thé, gây ung thư da, gan, tuyến giáp, đái tháo đường; làm tổn thương hệ hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, nội tiết, thần kinh; gây đột biến gen và nhiễm sắc thé, từ đó gây lên các dị tật bam sinh, các tai biến sinh sản. Theo Alvin Lee Young, những người tiếp xúc với chất diệt cỏ phát sinh 10 căn bệnh, bao gồm: 1/ Chloracne hoặc bệnh mụn trứng cá phù hợp; 2/ Bệnh Hodgkin; 3/ Bệnh đa u tủy; 4/ Bệnh Non — Hodgkin và ung thư hạch; 5/Bệnh thần kinh ngoại vi cấp tính và bán cấp tính; 6/ Porphyria cutanea tarda (phải xảy ra trong vòng 01 năm sau khi tiếp xúc với chất da cam; 7/ Ung thư tuyến tiền liệt; 8/ Ung thư đường hô hấp; 9/ Sarcoma mô mềm (trừ sacroma xương, chondro- sarcoma, Kaposi’s sarcoma, or mesothelioma); 10/ Bệnh tiêu đường loại 2 (được gọi là bệnh tiểu đường khởi phat từ người lớn) [48, tr. Nghiên cứu cho thấy có sự liên hệ chặt chẽ giữa chất da cam với các bệnh tiêu đường, bạch cầu, bệnh Hodgkin, Ulympho không Hodgkin; ung thư tuyến tiền liệt, bệnh đường hô hấp, bệnh tim, bệnh Parkinson và di tat bam sinh cùng các bệnh khác [49, tr.
Nghiên cứu còn cho thấy những người sinh sống trong vùng bị rải chất da cam sinh con đị tật cao gấp 3 - 4 lần những người sống ở các vùng khác. Người nhiễm chất độc màu da cam thường mắc các chứng bệnh như ung thư, tiểu đường, con cháu bị quái thai, dị tật, úng não, bại liệt hoặc các chứng bệnh tâm thần gọi là “Hội chứng Việt Nam”, nguyên do cũng từ nhiễm chat da cam [19, tr. Việc công nhận đối tượng bị nhiễm chất độc da cam dựa vào hai tiêu chí: Nguyên nhân làm phat sinh bệnh tật; 1i/Hau quả gây ra các bệnh tật thuộc danh mục được chính phủ công nhận. Kết quả nghiên cứu về chất da cam cho thấy chất da cam ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sức khỏe con người.
Những người bị ảnh hưởng bởi chất đa cam được xác định là người bị phơi nhiễm chất da cam. Theo Nicole Fisher thì: Người bi nhiễm chat da cam là những người bi nhiễm chat độc do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, bị suy giảm khả năng lao động, vô sinh, sinh con di dạng, di tật và đến thế hệ con, cháu, chắt của họ vẫn phải chịu hậu quả của sự phơi nhiễm đó, bị bệnh, suy giảm khả năng lao động, di dang, di tật. 11 Theo pháp luật Mỹ thì những ai đặt chân lên đất Việt Nam trong thời kì chiến tranh mà mắc bệnh thuộc danh mục được Viện Y học Mỹ công bố đều được hưởng trợ cấp ton thương do chat da cam [19, tr. Theo Nguyễn Thế Lực thì: Người nhiễm chất độc da cam là những người bị phơi nhiễm với chất độc hóa học do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam.
Bị suy giảm khả năng lao động, vô sinh, sinh con di dạng, di tật và thế hệ con, cháu, chắt. của họ chịu hậu quả sinh học của sự phơi nhiễm đó, bị bệnh, suy giảm khả năng lao động, di dang, di tật. Những người bị phơi nhiễm với chất độc da cam là những người tiếp xúc trực tiếp và bị chất độc này xâm nhập vào cơ thể hoặc có thể bị phơi nhiễm do phun rải trực tiếp trong thời kì chiến tranh hoặc ở vùng có tồn lưu chất da cam cao trong môi trường do bị lan tỏa, ô nhiễm tại các điểm tập kết, lưu trữ chất độc hóa học này. Nạn nhân nhiễm chất độc da cam bị phơi nhiễm trực tiếp và gián tiếp.
Trong đó phơi nhiễm trực tiếp là những người có tiếp xúc trực tiếp với chất da cam gồm những người bị phun rải, những người sống, hoạt động trong những điểm nóng (nơi tồn lưu chất độc da cam cao). Còn phơi nhiễm gián tiếp là trường hợp con, cháu hoặc chắt của nạn nhân nhiễm chất độc da cam, họ chính là nạn nhân do di truyền gen khiếm khuyết mà cụ, ông/bả dé lại hoặc qua bú sữa mẹ là người bị nhiễm chất độc da cam. Tuy nhiên thực tế không phải người bị phơi nhiễm chất da cam nào cũng đều mắc bệnh và cũng không phải tất cả cháu, chắt của nạn nhân nhiễm chất độc da cam đều mắc bệnh — đó là điều mà các nhà khoa học chưa thé giải thích được. Nhà khoa học người Mỹ J.
Stellman — người đứng đầu về nhóm nghiên cứu về chất diệt cỏ/dioxin tại Đại học Tổng hợp Columbia — cho rằng ở Việt Nam có khoảng 4,8 triệu người bị phơi nhiễm, trong đó có 1,3 triệu người là nạn nhân cua chất độc da cam. Con số này chưa thật sự đầy đủ, bởi số lượng thu thập được tính theo số dân sinh sống tại khu vực bị phun rải. Thực tế số dân sống ngoài khu dân cư, sống trong rừng núi hoặc sống trong các vùng do chính quyền cách mạng kiểm soát chưa được tính đến. Hoặc như có những thùng phy chứa chất da cam sau khi đã 12 hút hết được đem bán cho dân hoặc cho không, người dân đã sử dụng thùng nay dé chứa nước, cất trữ lúa, ngô, khoai, sẵn, đỗ, lac.
và họ đã tự đầu độc mình mà không biết [19, tr. Các nghiên cứu cho thay chất da cam có thé di truyền qua nhiều thế hệ, ở Việt Nam di chứng đó đã truyền sang thế hệ thứ ba và thậm chí sang thé hệ thứ tư [25, tr. Từ những phân tích trên có thé đưa ra khái niệm nạn nhân nhiễm chat độc da cam như sau: Nạn nhân nhiễm chất độc da cam là những người sinh sống trong vùng bị nhiễm độc do chất da cam còn tôn lưu; những người đã từng tham gia kháng chiến ở những vùng bị phun rải chất độc da cam dẫn đến bị dị dang, di tật bẩm sinh hoặc mắc các chứng bệnh thuộc danh mục do nhà nước quy định; những người sinh sống tại vùng bị phun rải dẫn đến suy giảm hoặc mat khả năng lao động, vô sinh hoặc sinh con di dang dị tật. * Uy đãi xã hội đối với nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin Hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, trải qua nhiều triều đại, chế độ chính trị xã hội khác nhau, nhưng những người có công với đất nước dân tộc Việt Nam đều được suy tôn công trạng và được hưởng chính sách ưu đãi trong mọi mặt của đời sống xã hội, cả về vật chất và tinh than từ phía nhà nước và cộng đồng xã hội.
Ở nước ta, ngay từ thời phong kiến chính sách ưu đãi xã hội đã xuất hiện dưới hình thức ban thưởng, thăng chức cho các đối tượng là vua, quan, tướng sĩ, quân nhân; đến khi nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng Hoà ra đời, Chủ tịch nước Việt Nam ký Sắc lệnh số 20/SL và hàng loạt các văn bản sau đó quy định cụ thể về đối tượng và chế độ ưu đãi thì chính sách ưu đãi xã hội đã có nhiều thay đổi. “Từng thời kỳ, các chính sách chế độ đối với người có công tuy có khác nhau nhưng suy cho cùng đều bày tỏ sự ghi công, ghi ơn của dân tộc đối với những người xả thân vì nước, đều thực hiện những chế độ đãi ngộ nhất định đối với họ ở mức độ này hay mức độ khác” [39, tr. Song, tuy thuộc vào bản chất nhà nước, điều kiện và hoàn cảnh của từng thời kỳ mà quan niệm về người có công với đất nước không chỉ bị bó hẹp trong phạm vi những người có công trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tô Quoc. Khi dat nước có chiên tranh, ngoại xâm, họ là những người đóng góp 13 trong đánh giặc, giữ gin non sông: trong thời bình họ là những người có công hiến đáng ké trong sự nghiệp xây dựng va bảo vệ đất nước, xả thân bảo vệ cuộc sống bình yên, đem lại thành tích và vinh quang cho quốc gia, dân tộc.
Bởi vậy, người có công phải được hiểu theo nghĩa rộng là những người, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, giới tính, tuổi tác., đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng trí tuệ, cuộc đời mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và độc lập của dân tộc hoặc đem lại thành tích vẻ vang cho đất nước, dân tộc trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước [24, tr.