phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương. Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về tiền lương và pháp luật về tiền lương. Chƣơng 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp và tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tiền lương áp dụng trong doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Đầu tư & Thương mại TNG 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ luật học Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƢƠNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƢƠNG 1.1 Khái niệm tiền lƣơng Tiền lương không chỉ là một phạm trù kinh tế mà còn là yếu tố hàng đầu của các chính sách xã hội liên quan đến trực tiếp cuộc sống của người lao động.
Thuật ngữ tiền lương đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tiền lương. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã có quan điểm về tiền lương như sau: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động viết hay bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm” (Điều 1- Công ước số 45 năm 1949) [7]. Với định nghĩa này, ILO đã đưa ra các dấu hiệu nhận biết tiền lương, bao gồm: (i) Tiền lương là sự trả công lao động; (ii) Hình thức biểu hiện của tiền lương là tiền mặt; (iii) Tiền lương được ấn định bằng sự thỏa thuận của các bên hoặc bằng pháp luật quốc gia; (iv) Lý do mà người sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động.
Có thể thấy, đây là định nghĩa khá toàn diện về tiền lương. Pháp luật của nhiều quốc gia đã vận dụng định nghĩa này một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện tại của quốc gia mình [7]. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ luật học Bên cạnh đó tiền lương còn được tiếp cận dưới góc độ về kinh tế, xã hội và phương diện về pháp lý. - Dưới góc độ kinh tế: Với sự thừa nhận sức lao động là hàng hóa, có thể hiểu tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động trả cho người lao động.
Như vậy, tiền lương về thực chất là tiền trả cho việc thuê mướn sức lao động, là một trong các yếu tố đầu vào của sản xuất, cấu thành nên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tiền lương vừa là chi phí trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa là lợi ích kinh tế, thu nhập của người lao động. - Dưới góc độ xã hội: Tiền lương là mục đích, là động cơ chủ yếu để người lao động tham gia quan hệ lao động, bên cạnh đó tiền lương là một vấn đề nhạy cảm của quan hệ lao động và sự thống nhất, ổn định bền vững của quan hệ lao động, đảm bảo được cuộc sống ổn định, ấm no của người lao động. - Dưới góc độ pháp lý: Tiền lương là số tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận theo hợp đồng lao động trên cơ sở năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.
Tiền lương của người lao động được nghiên cứu trên 2 góc độ là tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế: Tiền lương danh nghĩa: Là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động căn cứ trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, như vậy, tiền lương danh nghĩa có ích cho việc so sánh tiền lương của người lao động khác nhau tại một thời điểm cho trước. Số tiền này ít hay nhiều phụ thuộc trực 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ luật học tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả công việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc trong quá trình lao động. Tiền lương thực tế: Được hiểu là các loại hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa. Nếu giá cả tăng lên, thì tiền lương thực tế giảm đi và đời sống của người hưởng lương sẽ bị ảnh hưởng.
Từ đó, đặt ra yêu cầu điều chỉnh tăng lương danh nghĩa để đảm cho sức mua của nó, tức là đảm bảo giá trị của tiền lương thực tế. Kinh tế học vi mô cổ điển coi sản xuất là sự kết hợp giữa hai yếu tố là lao động và vốn. Vốn thuộc quyền sở hữu của một bộ phận dân cư trong xã hội, còn một bộ phân dân cư do không có vốn mà chỉ có sức lao động, phải đi làm thuê cho người có vốn và đổi lại họ nhận được một khoản tiền gọi là tiền lương. Bản thân tiền lương có liên quan đến vấn đề lý luận lợi ích, lý luận về sự phân phối và thu nhập của Nhà nước, của doanh nghiệp và người lao động.
Tiền lương hàm chứa nhiều mối quan hệ biện chứng, đó là các mối quan hệ giữa sản xuất và nâng cao đời sống, giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa thu nhập của các tầng lớp dân cư. Trong khu vực sản xuất kinh doanh, tiền lương là giá cả sức lao động, là yếu tố đầu vào của sản xuất, tham gia vào hình thành chi phí sản xuất và phân phối theo kết quả đầu ra của sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập, tiền lương là một trong những chỉ số quan trọng để xem xét một nền kinh tế được coi là kinh tế thị trường hay chưa. Bản chất của tiền lƣơng Trong mỗi giai đoạn khác nhau, thì cách tiếp nhận về bản chất tiền lương khác nhau.
Tuy nhiên, có hai cách nhận thức cơ bản nhất về bản chất tiền lương. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hầu hết các doanh nghiệp đều thuộc sở 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ luật học hữu nhà nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước đặt ra. Lúc bấy giờ, sức lao động chưa được coi là hàng hóa, mà tiền lương được coi là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho công nhân viên căn cứ vào số lượng và chất lượng mà họ cống hiến, do đó, người sử dụng lao động không thương lượng, thỏa thuận với người lao động về tiền lương, tiền công, mà đơn phương ấn định mức lương của người lao động trên cơ sở thang lương, bảng lương của Nhà nước. Khi đó, người lao động chỉ biết chấp nhận các điều kiện lao động do người sử dụng lao động đơn phương đưa ra để đưa vào làm việc với mức lương được quy định sẵn trong thang lương, bảng lương của người sử dụng lao động.
Kể từ khi nước ta xóa bỏ cỏ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các nhà hoạch định chính sách tiền lương đã thay đổi nhận thức về lý luận trong xây dựng chính sách tiền lương. Nhà nước đã công nhận sự tồn tại khách quan của phạm trù hàng hóa sức lao động, tiền lương không chỉ thuộc phạm trù phân phối, mà còn là phạm trù trao đổi, phạm trù giá trị. Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động. Cũng như các thị trường khác, thị trường sức lao động hoạt động theo quy luật cung cầu.
Do đó, người lao động có quyền thương lượng, thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc làm và điều kiện lao động khác phù hợp với khả năng chuyên môn, năng lực của mình. Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận và được ghi trong hợp đồng lao động. Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động theo năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc. Nhà nước chỉ quy định mức lương tối thiểu và yêu cầu người sử dụng lao động trả lương cho người lao động không được thấp hơn 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sĩ luật học mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.
Mức lương tối thiểu ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác. Trên cơ sở mức lương tối thiểu và mức lương cụ thể đã thỏa thuận với người lao động, người sử dụng lao động có quyền lựa chọn một trong các hình thức sau để trả lương cho người lao động, cụ thể là: Trả lương theo thời gian (giờ, ngày, tháng, tuần) hoặc trả lương theo thỏa thuận khoán sản phẩm. Những người sử dụng lao động phải duy trì hình thức trả lương đã được các bên thỏa thuận hoặc lựa chọn trong một thời gian nhất định và phải thông báo cho người lao động. Tiền lương có vai trò to lớn trong xã hội, luôn gắn liền với người lao động.
Chính vì vậy, tiền lương mà các doanh nghiệp trả cho người lao động theo cơ chế thị trường phải đáp ứng các điều kiện: Tiền lương phải thực sự là thước đo cho mỗi hoạt động của mỗi cơ sở kinh tế, từng người lao động và là đòn bẩy kinh tế, tiền lương không phù hợp, phản ánh sai lệch sức lao động, nó sẽ cản trở tính năng động, sáng tạo của người lao động và kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp của nền kinh tế [9].