Tổng quan nghiên cứu

Việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội có tầm quan trọng sống còn đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển với quy mô dân số lớn như Việt Nam. Hằng năm, thị trường lao động nước ta tiếp nhận hơn 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động và khoảng 500.000 học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường, tạo ra sức ép rất lớn lên hệ thống an sinh và thị trường việc làm. Trong khi đó, năng lực hấp thu của khu vực doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 500.000 lao động mỗi năm, dẫn đến tình trạng mất cân đối cung cầu kéo dài.

Khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế đứng trước những thời cơ lớn nhưng cũng đối mặt với thách thức to lớn về tái cấu trúc lao động. Khu vực kinh tế phi chính thức chiếm tới 67,4% tổng số lao động có việc làm trong năm 2008, trong khi khung pháp lý lao động hiện hành bộc lộ nhiều điểm nghẽn, quy định tản mát và chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế về việc làm bền vững.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích toàn diện thực trạng các quy định pháp luật lao động và thực tiễn thi hành về giải quyết việc làm, từ đó kiến nghị phương hướng hoàn thiện thể chế pháp lý đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian toàn quốc với trọng tâm là các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các khu công nghiệp và vùng nông thôn chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2010.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho việc xây dựng Luật Việc làm chuyên biệt, chuẩn hóa hệ thống tiêu chuẩn an sinh, góp phần hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị từ mức 4,6% năm 2009 xuống dưới 4% và nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trên phạm vi toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng kết hợp đa tầng giữa các học thuyết kinh tế chính trị, luật học lao động và tiêu chuẩn quốc tế:

Thứ nhất, Lý thuyết thị trường lao động hiện đại (Labor Market Theory): Phân tích mối quan hệ tương tác giữa cung và cầu lao động, khẳng định tạo việc làm là quá trình kết hợp hài hòa giữa sức lao động và tư liệu sản xuất dưới sự điều tiết của thể chế pháp lý và chính sách vĩ mô.

Thứ hai, Khung tiêu chuẩn "Việc làm bền vững" (Decent Work) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Tiếp cận việc làm qua bốn trụ cột cốt lõi gồm việc làm có năng suất tạo thu nhập thỏa đáng, bình đẳng về cơ hội việc làm, an toàn tại nơi làm việc và bảo đảm nhân phẩm cùng quyền tham gia của người lao động.

Thứ ba, Học thuyết quyền con người trong luật học: Xác định quyền làm việc là quyền hiến định cơ bản được ghi nhận tại Điều 23 Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền và Điều 53 Hiến pháp sửa đổi năm 2001 của Việt Nam, đặt nền móng cho việc chuyển dịch từ cơ chế phân bổ bao cấp sang bảo đảm quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp của công dân.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng: Khái niệm việc làm (Điều 13 Bộ luật Lao động xác định là mọi hoạt động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm); Giải quyết việc làm (quá trình tạo lập môi trường và điều kiện để người có khả năng lao động tìm kiếm được việc làm); Thất nghiệp và thiếu việc làm (trạng thái người trong độ tuổi, có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm phù hợp); và Lao động đặc thù (lao động nữ, người tàn tật, lao động mất đất nông nghiệp).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật (Bộ luật Lao động năm 1994, các luật sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007, 2009, Luật Dạy nghề, Luật Bảo hiểm xã hội), các báo cáo điều tra định kỳ của Tổng cục Thống kê (GSO) và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (MOLISA).

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Đề tài khai thác dữ liệu từ cuộc điều tra lao động - việc làm quy mô quốc gia với 300.000 mẫu khảo sát trên địa bàn 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo khu vực địa lý (nông thôn, thành thị) và ngành kinh tế (nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ) được áp dụng nhằm phản ánh chính xác cơ cấu lao động toàn xã hội.

Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích luật học so sánh đối chiếu giữa pháp luật Việt Nam với các công ước quốc tế của ILO, cùng phương pháp thống kê mô tả và tổng hợp định lượng. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm bóc tách bản chất của các quan hệ pháp luật trong sự vận động thực tiễn của nền kinh tế mở, đảm bảo các kết luận rút ra có giá trị khoa học và tính ứng dụng lập pháp cao. Timeline nghiên cứu tập trung đánh giá tiến trình thực thi pháp luật lao động trong suốt 15 năm kể từ khi Bộ luật Lao động 1994 có hiệu lực đến giai đoạn hậu gia nhập WTO (1995 - 2010).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng pháp luật và thị trường lao động Việt Nam giai đoạn hội nhập mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Một là, cơ cấu việc làm dịch chuyển tích cực nhưng tốc độ còn chậm so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Giai đoạn 1997 - 2007, tỷ trọng lao động ngành dịch vụ tăng 6,6% (đạt gần 29% tổng việc làm năm 2007), ngành công nghiệp - xây dựng tăng 6,5% (từ 13% lên 19%). Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng chi phối với 54% tổng số lao động nữ và 51% lao động nam làm việc trong khu vực này.

Hai là, khu vực kinh tế phi chính thức chiếm tỷ lệ áp đảo và bộc lộ nhiều rủi ro an sinh. Năm 2008, lao động phi chính thức chiếm tới 67,4% tổng số lao động có việc làm trên cả nước. Đáng chú ý, 95,7% lao động trong khu vực này không có hợp đồng lao động, thời gian làm việc trung bình lên đến 49 giờ/tuần (cao hơn 3 giờ so với khu vực chính thức), trong khi thu nhập bình quân chỉ đạt 1,08 triệu đồng/tháng, thấp hơn 40% so với mức 1,8 triệu đồng/tháng của khu vực chính thức.

Ba là, nghịch lý mất cân đối cung - cầu và tỷ lệ thất nghiệp thanh niên ở mức báo động. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp chung toàn quốc năm 2009 ở mức 2,9% và năm 2010 là 2,88%, nhưng tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15 đến 29 tuổi lên tới 49,4% (trong đó nữ giới chiếm 54,2%). Có tới 81% số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động chưa qua đào tạo nghề. Trong khi đó, các sàn giao dịch việc làm ghi nhận trên 100.000 vị trí tuyển dụng còn trống (với 80% là nhu cầu lao động phổ thông ngành dệt may, da giày, chế biến thủy hải sản), nhưng hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu của doanh nghiệp.

Bốn là, áp lực việc làm gia tăng mạnh mẽ tại khu vực thu hồi đất nông nghiệp và các làng nghề do tác động của suy thoái kinh tế. Quý 1 năm 2009, tại 46 tỉnh, thành phố đã có hơn 30.000 lao động mất việc (Bắc Ninh: 6.150 người, Thái Bình: 6.427 người, Hà Nam: 4.583 người). Tại các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chỉ có 27,23% lao động bị thu hồi đất tốt nghiệp trung học phổ thông và vỏn vẹn 14% qua đào tạo nghề, khiến nhiều nơi có hàng ngàn người mất việc nhưng chỉ 10 đến 20 người đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển dụng của doanh nghiệp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ những hạn chế cốt lõi trong hệ thống pháp luật lao động. Khung pháp lý về việc làm chỉ được quy định ngắn gọn tại Chương II Bộ luật Lao động với 7 điều mang tính nguyên tắc chung, các quy định chi tiết nằm rải rác ở nhiều văn bản dưới luật dẫn đến hiệu lực thi hành thấp. Cơ chế quản lý thị trường lao động còn lạc hậu, kinh phí điều tra thống kê hạn hẹp (chỉ khoảng 3 tỷ đồng/năm) khiến thông tin cung cầu thiếu cập nhật và thiếu tính kết nối liên vùng.

Bên cạnh đó, quy định về sổ lao động tại Điều 183 Bộ luật Lao động bộc lộ tính hình thức khi người lao động và doanh nghiệp thường sử dụng sơ yếu lý lịch để thay thế nhằm giảm thủ tục, gây lãng phí nguồn lực quản lý. Chế độ báo cáo biến động lao động theo Thông tư 20/2003/TT-BLĐTBXH và Nghị định 126/2007/NĐ-CP chưa có chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các doanh nghiệp kê khai nhu cầu tuyển dụng ảo hoặc không báo cáo lao động xuất khẩu về nước trước thời hạn.

Để minh họa rõ nét các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột kép so sánh mức thu nhập và thời gian làm việc giữa hai khu vực chính thức và phi chính thức (1,08 triệu so với 1,8 triệu đồng/tháng; 49 giờ so với 46 giờ/tuần), kết hợp với bảng phân tầng tỷ lệ thất nghiệp theo độ tuổi (nhóm 15 - 29 tuổi chiếm 49,4% so với nhóm trên 50 tuổi chiếm 23,4%) nhằm giúp các cơ quan lập pháp nhận diện nhanh chóng các điểm nghẽn chính sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện pháp luật lao động và phát triển thị trường việc làm lành mạnh trong thời kỳ hội nhập, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, khẩn trương xây dựng và ban hành Luật Việc làm độc lập. Quốc hội và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Việc làm trong lộ trình giai đoạn 2012 - 2013, luật hóa đầy đủ các chế định về phát triển thị trường lao động, tiêu chuẩn việc làm bền vững, tổ chức dịch vụ việc làm, an ninh việc làm và bảo hiểm thất nghiệp, mở rộng diện bao phủ pháp lý đến 100% người lao động khu vực phi chính thức và nông thôn.

Thứ hai, nâng cấp mạng lưới trung tâm dịch vụ việc làm và hiện đại hóa hệ thống thông tin thị trường lao động. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần đầu tư đồng bộ hạ tầng số hóa kết nối dữ liệu việc làm quốc gia trong giai đoạn 2011 - 2015, nâng tỷ lệ cung ứng lao động thành công qua các sàn giao dịch từ mức 20% hiện nay lên tối thiểu 50% nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đồng thời chấm dứt tình trạng tạo cung cầu ảo trên thị trường.

Thứ ba, cải cách chính sách đào tạo nghề gắn với hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho lao động mất đất nông nghiệp. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Tổng cục Dạy nghề triển khai chương trình đào tạo nghề theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp cho 100% lao động thuộc diện thu hồi đất canh tác, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật tại các vùng chuyển đổi từ mức 14% lên trên 50% vào năm 2015; quy định bắt buộc chủ đầu tư khu công nghiệp trích tối thiểu 10% kinh phí giải phóng mặt bằng cho quỹ tái đào tạo nghề tại địa phương.

Thứ tư, siết chặt quản lý hoạt động xuất khẩu lao động và thực thi chính sách hỗ trợ nhóm lao động yếu thế. Cục Quản lý lao động ngoài nước và Ngân hàng Chính sách Xã hội cần tối ưu hóa nguồn vốn cho vay từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, quản lý chặt chẽ giấy phép của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động theo Nghị định 126/2007/NĐ-CP, đặt mục tiêu đưa hơn 80.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài mỗi năm với tỷ lệ lao động có tay nghề và ngoại ngữ đạt trên 70%, đồng thời kéo giảm tỷ lệ lao động bỏ trốn hoặc vi phạm hợp đồng xuống dưới 2% vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và các kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm 1: Các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp (Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Viện Khoa học Lao động và Xã hội). Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị phục vụ công tác thẩm tra, soạn thảo dự thảo Luật Việc làm và sửa đổi Bộ luật Lao động, giúp chuẩn hóa các chỉ tiêu thống kê thị trường lao động.

Nhóm 2: Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Luật học (Luật Kinh tế, Luật Lao động, Khoa học Quản lý An sinh xã hội). Đề tài cung cấp hệ thống lý luận chuyên sâu, lược sử lập pháp từ năm 1945 đến nay và khung phân tích dữ liệu thực chứng cho các nghiên cứu tiếp theo về thị trường lao động thời kỳ mở cửa.

Nhóm 3: Doanh nghiệp, người sử dụng lao động và các tổ chức dịch vụ việc làm. Công trình hỗ trợ các nhà quản lý nắm vững quy định pháp lý về hợp đồng lao động, nghĩa vụ đóng bảo hiểm thất nghiệp, trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo Điều 17 và Điều 31 Bộ luật Lao động, từ đó tối ưu hóa công tác tuyển dụng và quản trị nhân sự.

Nhóm 4: Các tổ chức chính trị - xã hội và đại diện người lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Phụ nữ, Hội Người khuyết tật). Tài liệu cung cấp cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho lao động nữ, lao động tàn tật và lao động di cư tự do từ nông thôn ra thành thị.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm việc làm theo Điều 13 Bộ luật Lao động có bước tiến bộ nào so với thời kỳ bao cấp? Quy định xác định việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm đã chuyển dịch căn bản nhận thức xã hội. Thay vì chỉ thừa nhận lao động trong biên chế nhà nước và hợp tác xã như trước năm 1986, luật mới đặt người lao động vào vị trí trung tâm, khuyến khích tự tạo việc làm ở mọi thành phần kinh tế theo nguyên tắc công dân được làm những gì pháp luật không cấm.

Tại sao tỷ lệ thất nghiệp chung tại Việt Nam ở mức thấp nhưng thị trường lao động vẫn chịu áp lực gay gắt? Tỷ lệ thất nghiệp toàn quốc duy trì ở mức 2,88% đến 2,9% do phần lớn dân cư sống tại nông thôn chấp nhận làm việc trong khu vực phi chính thức với mức lương thấp để mưu sinh. Tuy nhiên, áp lực tập trung ở nhóm thanh niên 15 đến 29 tuổi với tỷ lệ thất nghiệp lên tới 49,4%, cùng sự thiếu hụt nghiêm trọng lao động có kỹ năng nghề (81% người thất nghiệp chưa qua đào tạo).

Khu vực kinh tế phi chính thức đang đối mặt với những lỗ hổng pháp lý nào? Lao động phi chính thức chiếm 67,4% tổng số lao động có việc làm nhưng 95,7% không có hợp đồng lao động. Pháp luật lao động thời điểm này chủ yếu tập trung điều chỉnh các đối tượng có quan hệ lao động chính thức, khiến nhóm lao động tự do, giúp việc gia đình và lao động làng nghề bị bỏ trống về an toàn lao động, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp.

Vì sao quy định về lập sổ lao động theo Điều 183 Bộ luật Lao động lại kém hiệu quả trong thực tế? Quy định lập sổ lao động bị biến tướng thành hình thức do thiếu cơ chế giám sát và chế tài đồng bộ. Người lao động và doanh nghiệp có xu hướng sử dụng sơ yếu lý lịch có xác nhận của địa phương để đơn giản hóa thủ tục và tránh phiền hà với đơn vị cũ, khiến sổ lao động không phát huy được vai trò quản lý biến động nhân sự.

Giải pháp căn cơ để giải quyết việc làm cho lao động vùng thu hồi đất nông nghiệp là gì? Giải pháp then chốt là gắn bồi thường đất đai với đào tạo nghề bắt buộc theo nhu cầu thực tế của các nhà máy trên địa bàn. Hiện chỉ có 14% lao động mất đất qua đào tạo nghề, do đó cần trích kinh phí dự án để tổ chức dạy nghề chuyên sâu, giúp người dân chuyển đổi nghề nghiệp bền vững thay vì chỉ nhận tiền đền bù một lần.

Kết luận

• Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và 6 nguyên tắc pháp lý nền tảng điều chỉnh lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

• Nghiên cứu phác họa bức tranh toàn cảnh về thực trạng lao động sau khi gia nhập WTO, chỉ rõ các điểm nghẽn về năng suất, sự thống trị của khu vực phi chính thức (67,4%) và tỷ lệ thất nghiệp cao ở lao động trẻ (49,4%).

• Công trình làm sáng tỏ những bất cập, mâu thuẫn trong các quy định của Bộ luật Lao động 1994 và hệ thống văn bản dưới luật về trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức giới thiệu việc làm và quản lý lao động nước ngoài.

• Đề tài khẳng định tính cấp thiết mang tính lịch sử của việc ban hành một đạo luật chuyên biệt là Luật Việc làm nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, hiện đại hóa thị trường lao động.

• Hệ thống kiến nghị mang tính đột phá về xây dựng luật, nâng cấp sàn giao dịch việc làm, đổi mới đào tạo nghề cho nông dân mất đất và kiểm soát xuất khẩu lao động cung cấp luận cứ khoa học sắc bén cho các nhà hoạch định chính sách.

Các bước tiếp theo đòi hỏi cơ quan lập pháp cần nhanh chóng đưa dự án Luật Việc làm vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội giai đoạn 2011 - 2015, đồng thời xây dựng quy chuẩn kỹ thuật cho hệ thống cơ sở dữ liệu thị trường lao động quốc gia.

Hãy tham khảo và trích dẫn ngay công trình nghiên cứu toàn diện này để làm giàu thêm nguồn tư liệu học thuật và hoàn thiện các đề xuất chính sách việc làm trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.