Mở đầu Nêu lý do chọn đề tài đồng thời đề ra mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và khảo sát, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của đề tài. Tong quan - Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài trong va ngoài nước. - Tổng quan về dé tai nghiên cứu. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày các cơ sở lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu đê tài bao gôm các lý thuyết nền, khái niệm.
Nêu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài cụ thể là: Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, phương pháp xử lý số liệu, phương pháp phân tích số liệu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày các kết quả có được từ nghiên cứu gồm: - Phân tích một số chỉ tiêu quan trọng trên BCTC. - Thực trạng minh bạch TTTC các công ty ngành Du Lich tại Việt Nam. - Tác động của các nhân tố trong quan tri tới sự minh bạch TTTC.
- Giải pháp và kiến nghị. Kết luận và kiến nghị Tổng hợp đánh giá lại nội dung nghiên cứu, nêu ra nhận xét từ kết quả nghiên cứu, những hạn chế gặp phải trong quá trình nghiên cứu và những lưu ý khi sử dụng nghiên cứu. Từ đó đưa ra những kết luận, kiến nghị đối với các cơ quan có thâm quyền, các công ty kiểm toán, và các công ty đại chúng niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Việt Nam. CHƯƠNG 2 TÔNG QUAN 2.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu của Barako (2007) đã cung cấp một cuộc kiểm tra dọc về các thông lệ tự nguyện công bồ thông tin trong báo cáo hàng năm của các công ty niêm yết ở Kenya từ năm 1992 đến 2001. Nghiên cứu đã điều tra mức độ ảnh hưởng của các thuộc tính quản trị công ty, cau trúc sở hữu và đặc điểm của công ty, nhiều loại thông tin. Kết qua của họ chỉ ra rằng việc tiết lộ tất cả các loại thông tin đều bị ảnh hưởng bởi các thuộc tính quản tri công ty, cơ cau sở hữu và đặc điềm của công ty.
Nghiên cứu của Sukthomya (2011) đã cố gắng trả lời câu hỏi làm thé nào dé giải thích việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên một thị trường của Thái Lan. Nó đã điều tra mức độ công bó thông tin tự nguyện của 100 công ty được liệt kê trong Chỉ số SET100 của Sở Giao dịch Chứng khoán Thái Lan, và ảnh hưởng của các đặc điểm công ty, các thuộc tính tài chính và các yếu tố liên quan đến quản trị công ty đối với các hoạt động tự nguyện. Kết quả cho thấy quy mô công ty có liên quan đến sự gia tăng mức độ công bồ thông tin tự nguyện, trong khi ở các công ty mà chủ tịch và CEO là cùng một người, họ tiết lộ thông tin tự nguyện ít hơn đáng kể trong báo cáo hàng năm. Khả năng sinh lời, tỷ lệ đòn bẩy, cơ cấu sở hữu, tỷ lệ giám đốc không điều hành và loại kiểm toán viên được cho là không có quyền giải thích.
Nghiên cứu của Jouini Fathi (2013) về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính (TTTC) được công khai của các DNNY tại Pháp, xem xét mối quan hệ giữa chất lượng của các TTTC được công khai và cơ chế quản trị đối với 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng gồm: (¡) Đặc điểm của DN (Đòn bây, lợi nhuận, tình trạng niêm yết và ngành); (ii) Đặc điểm của hội đồng quản tri (iii) Chất lượng kiểm toán; (iv) Cơ cau sở 5 hữu đối với các DN Pháp được niêm yết trong thời gian 5 năm từ năm 2004 đến năm 2008. Kết quả cho thấy, những tác động tích cực của một số biến số đến chất lượng TTTC được công bố. Tuy nhiên, tỷ lệ nắm giữ của các cô đông tổ chức có tác động ngược chiêu. Sweiti và Attayah (2013) nghiên cứu xem xét những nhân tô ảnh hưởng đến việc CBTT tự nguyện trong BCTN của các công ty niêm yết trên PEX.
Mẫu được chọn là 48 công ty cho năm 2011 và 35 công ty cho năm 2007. Biến phụ thuộc là mức độ CBTT tự nguyện được đo lường bằng chỉ số CBTT với danh sách 79 mục thông tin được thiết lập. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ CBTTT tự nguyện của các công ty này còn thấp, mặc dù có cải thiện từ 2007 so với 201 1. Các phân tích cũng cho thấy những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tiết lộ tự nguyện; tỷ lệ HĐQT không điều hành, quy mô HĐQT, ủy ban kiểm toán, số lượng cô đông.
Nhân tố không ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện của công ty là hoạt động của HĐQT. Năm 2015, Zinatul Iffah Binti Abdullah và các công sự đã nghiên cứu tìm ra mối quan hệ giữa chuẩn mực kế toán, quản trị DN, kiểm soát bên ngoài, kiểm soát nội bộ và tiêu chuẩn đạo đức với BCTC dựa trên quan điểm của kiểm toán viên và quan điểm quản lý ở Malaysia. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố trên đều ảnh hưởng đến thông tin trên BCTC. Trong đó, nhân tố chuẩn mực kế toán, kiểm soát nội bộ, tiêu chuân đạo đức có mức độ ảnh hưởng đên BCTC cao hơn các tiêu chí còn lại.
Cùng với hướng nghiên cứu trên, Kohansal và CS (2017) điều tra tác động của các cơ chế quản trị công ty đối với tính minh bạch trong BCTC tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tehran trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến 2012. Đề kiểm tra giả thuyết, một mẫu gồm 67 công ty được sử dụng. Trong bài báo này, tác giả đã sử dụng tập trung quyền sở hữu, quyền sở hữu thê ché, tính độc lập của HĐQT, quy mô HĐQT, tính hai mặt của giám đốc điều hành và nhiệm kỳ của giám đốc điều hành làm cơ chế quản trị công ty. Các phát hiện chỉ ra rằng việc tập trung quyền sở hữu, quyền sở hữu thé chế, sự độc lập của HĐQT và nhiệm kỳ của giám đốc điều hành đã ảnh hưởng tích cực đến tính minh bạch thông qua hành vi quản ly thu nhập.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Thanh Phương (2014).Nghiên cứu của tác giả nhằm tìm hiểu thực trạng công bố thông tin(CBTT) tài chính và các yêu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Bằng cách sử dụng các chỉ số đo lường mức độ CBTT và mô hình hồi quy dé đánh giá các yêu tô ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong báo cáo tài chính ( BCTC) của 99 công ty niêm yết trên HOSE. Kết quả phân tích cho thay: (i) Mức độ CBTT trong BCTC của các công ty niêm yết không cao; và (ii) Các yếu tố quy mô, tỉ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài, công ty kiểm toán, mức độ sinh lời và thời gian niêm yết của doanh nghiệp tác động đến mức độ công bố. Bên cạnh đó, một số yếu tố có ý nghĩa trong các nghiên cứu trước đây trên thế giới như tỉ lệ sở hữu của nhà nước, đòn bay tài chính, quản trị công ty, sốcông ty con, lĩnh vực hoạt động, khả năng thanh toán, thị trường niêm yết và tính phức tạp của hoạt động kinh doanh không ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các công ty nghiên cứu.
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) với tựa đề “Minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Dựa trên các nguyên tắc quản trị công ty của OECD (2004), tác giả xây dựng thang đo đánh giá mức độ minh bạch TTTC dựa trên các đặc điểm của thông tin. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tính minh bạch TTTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam thời gian qua chưa cao, mức độ minh bạch TTTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam chỉ ở mức trung bình khá (3,7 điểm trên thang điểm 5). Kết quả kiểm định mô hình hồi quy cho thấy các nhân tô phản ánh đặc điểm tài chính và quản trị công ty như: đòn bây tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toán và cơ cau HĐỌT ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Nghiên cứu của tác giả Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Lan Hương ( 2015) với tựa đề: “Các yếu tố anh hưởng đến việc tự nguyện công bố thông tin của các công ty niêm yết tại Việt Nam”. Bài nghiên cứu nhằm mục đích điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện bằng cách kiểm tra báo cáo của 205 công ty công nghiệp và sản xuất niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán TPHCM và Hà Nội. Với các yêu tố bao gồm quy mô công ty, tỷ lệ đòn bây, trạng thái quyền sở hữu, quyền sở hữu quản lý và quyền sở hữu nước ngoài, tính độc lập của hội đồng quản trị. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu chỉ cho thấy hai kết quả chính : (1) Các công ty có tỷ lệ sở hữ nước ngoài cao thì công bố thông tin tự nguyện cao; (2) Quy mô công ty là một yếu tố quan trọng liên quan đến mức độ gia tăng của tự nguyện trong việc công bố TTTC của các công ty niêm yết Tại Việt Nam.
Nhưng không có hiệp hội quan trọng nào được tìm thấy giữa đòn bây, quyền sở hữu nhà nước, quyền sở hữu của người quản lý, tính độc lập của hội đồng quản trị. Cùng với đó nghiên cứu của Hồ Thủy Tiên và Hoàng Mạnh Khánh(2019) với tựa đề: Minh bạch thông tin và các yếu tố ảnh hưởng. Đã dựa trên các lý thuyết về minh bạch thông tin, bộ chỉ số minh bạch và cung cấp thông tin của Standard & Poor’s. Tác giả đã xây dựng các chỉ số lượng hóa mức độ minh bạch thông tin và phân tích các nhân tố tac động đến sự minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yét trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Sau khi thu thập và xử lý dữ liệu mẫu nghiên cứu gồm 300 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2018, tác giả sử dụng phương pháp OLS (Ordinary Least Squares) dé kiểm định và ước lượng mô hình hồi quy đề xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố tài chính (quy mô doanh nghiệp, hiệu suất sử dụng tài sản, công ty kiểm toán) và nhân tố quản tri (sự kiêm nhiệm giữa chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc) có ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.