Tổng quan nghiên cứu

Đái tháo đường típ 2 và tăng huyết áp là hai bệnh lý mạn tính không lây nhiễm phổ biến hàng đầu trên phạm vi toàn cầu. Theo ước tính từ Tổ chức Y tế Thế giới, các bệnh không lây nhiễm chiếm tới 70% tổng số ca tử vong trên thế giới, trong đó đái tháo đường típ 2 chiếm khoảng 85% đến 95% tổng số bệnh nhân đái tháo đường với tốc độ gia tăng nhanh chóng, cứ sau 15 năm tỷ lệ mắc lại tăng gấp đôi. Đáng chú ý, tần suất tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 cao gấp 2,5 lần so với người không mắc bệnh. Sự kết hợp đồng thời giữa đái tháo đường và tăng huyết áp làm tăng gấp đôi nguy cơ biến chứng mạch máu lớn và làm tăng gấp đôi tỷ lệ tử vong so với người chỉ mắc tăng huyết áp đơn thuần.

Tại Việt Nam, phần lớn người bệnh đái tháo đường típ 2 mắc kèm tăng huyết áp được quản lý và điều trị ngoại trú dài hạn. Hiệu quả kiểm soát đường huyết và huyết áp phụ thuộc trực tiếp vào mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh, tuy nhiên tỷ lệ không tuân thủ dùng thuốc trong các bệnh mạn tính vẫn dao động ở mức đáng báo động từ 20% đến 50%. Nghiên cứu của học viên Trịnh Nguyệt Hằng dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Tứ Sơn tại Trường Đại học Dược Hà Nội được thực hiện nhằm giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: mô tả đặc điểm sử dụng thuốc, nhận thức về bệnh và niềm tin về thuốc của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 mắc kèm tăng huyết áp điều trị ngoại trú; đồng thời phân tích thực trạng tuân thủ dùng thuốc và xác định mối tương quan giữa các yếu tố liên quan đến người bệnh, nhận thức bệnh tật và niềm tin về thuốc với hành vi tuân thủ.

Nghiên cứu được triển khai tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn – một bệnh viện tuyến tỉnh hạng I có quy mô 650 giường bệnh, quản lý khoảng 2.000 bệnh nhân ngoại trú mỗi năm – trong khung thời gian từ ngày 01/01/2022 đến ngày 02/05/2022. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp bằng chứng dịch tễ và dược lâm sàng, giúp nâng cao tỷ lệ đạt mục tiêu HbA1c dưới 7% và huyết áp dưới 140/90 mmHg, đồng thời giảm thiểu gánh nặng biến chứng tim mạch và chi phí y tế cho cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model) và Thuyết Nhận thức Tự điều chỉnh Bệnh tật của Leventhal (Self-Regulatory Model). Ba khái niệm cốt lõi được định nghĩa và vận dụng chặt chẽ bao gồm: tuân thủ dùng thuốc (sự phối hợp tự nguyện của bệnh nhân theo đúng liều lượng, thời gian và số lần dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2003), nhận thức về bệnh tật (cách người bệnh hiểu về thời gian kéo dài, mức độ ảnh hưởng và khả năng kiểm soát bệnh), và niềm tin về thuốc (sự cân bằng giữa nhận thức về tính cần thiết của thuốc và nỗi lo lắng về các tác dụng không mong muốn).

Để lượng hóa các biến số tâm lý và hành vi phức tạp, nghiên cứu đã sử dụng hệ thống thang đo chuẩn hóa quốc tế đã được thẩm định giá trị:

  • Thang đánh giá mức độ tuân thủ điều trị MARS-5 (Medication Adherence Report Scale) gồm 5 câu hỏi đánh giá tần suất quên thuốc, đổi liều, bỏ liều, ngừng thuốc hoặc tự ý uống ít hơn đơn kê theo thang đo Likert 5 mức độ từ 1 đến 5 điểm. Bệnh nhân được xác định là tuân thủ tốt khi đồng thời cả 5 câu đều đạt từ 4 đến 5 điểm.
  • Bộ câu hỏi nhận thức bệnh tật rút gọn B-IPQ (Brief-Illness Perceptions Questionnaire) gồm 8 tiêu chí đánh giá trên thang điểm từ 0 đến 10 điểm, đo lường các khía cạnh về hậu quả, dòng thời gian, khả năng tự kiểm soát, khả năng kiểm soát nhờ điều trị, triệu chứng, mức độ lo lắng, mức độ hiểu biết và phản ứng cảm xúc đối với bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp.
  • Thang đo niềm tin về thuốc BMQ (Beliefs about Medicines Questionnaire) gồm 10 câu hỏi chuyên biệt được chia thành hai phân nhóm độc lập: BMQ-Cần thiết (5 câu, thang điểm từ 5 đến 25) và BMQ-Lo lắng (5 câu, thang điểm từ 5 đến 25) nhằm đánh giá niềm tin cụ thể đối với từng nhóm thuốc hạ đường huyết và hạ huyết áp.
  • Thang đo mức độ lo sợ đại dịch FCV-19S (Fear of COVID-19 Scale) gồm 7 câu hỏi với tổng điểm từ 7 đến 35 điểm nhằm đánh giá tác động tâm lý của bối cảnh dịch bệnh đến hành vi của người bệnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang. Nguồn dữ liệu được thu thập kết hợp giữa hai phương thức: phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân thông qua phiếu điều tra tích hợp bộ câu hỏi chuẩn hóa và trích xuất hồ sơ bệnh án điện tử kết hợp sổ y bạ để lấy thông tin đơn thuốc, các chỉ số xét nghiệm cận lâm sàng (glucose máu lúc đói, HbA1c, triglycerid, creatinin) và các chỉ số huyết áp tại lần khám gần nhất.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 151 bệnh nhân đạt tiêu chuẩn, được tuyển chọn từ tổng số 162 bệnh nhân tham gia phỏng vấn ban đầu (loại trừ 3 bệnh nhân rút lui giữa chừng và 8 bệnh nhân không được kê ít nhất 1 thuốc hạ đường huyết và 1 thuốc hạ huyết áp liên tục trong 3 tháng gần nhất). Kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện toàn bộ được áp dụng cho tất cả bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, đang điều trị ngoại trú đồng thời cả hai bệnh lý và đồng ý tham gia nghiên cứu trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2022 đến ngày 02/05/2022.

Dữ liệu sau khi thu thập được mã hóa, nhập liệu bằng phần mềm Microsoft Excel và phân tích thống kê chuyên sâu trên phần mềm SPSS. Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn) để khắc họa đặc điểm nhân khẩu học và mô hình sử dụng thuốc. Mô hình hồi quy logistic đa biến theo phương pháp Stepwise được lựa chọn để xác định các yếu tố dự đoán độc lập ảnh hưởng đến tuân thủ dùng thuốc. Phương pháp này cho phép kiểm soát tối ưu các biến gây nhiễu, đồng thời hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập được kiểm tra chặt chẽ với ngưỡng hệ số phóng đại phương sai VIF dưới 5, đảm bảo độ tin cậy tuyệt đối với mức ý nghĩa thống kê p dưới 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu từ 151 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 mắc kèm tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn mang lại những phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, về đặc điểm nhân khẩu học và bệnh lý, độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 67,7 ± 7,7 tuổi, trong đó người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm đa số tuyệt đối với 85,4%. Nữ giới chiếm tỷ lệ 51,7% và nam giới chiếm 48,3%. Toàn bộ 100% bệnh nhân đều có thẻ bảo hiểm y tế. Thời gian mắc bệnh đái tháo đường trung bình là 7,1 ± 3,4 năm (nhóm mắc từ 5 đến 10 năm chiếm 64,2%) và thời gian mắc tăng huyết áp trung bình là 5,9 ± 3,5 năm (nhóm từ 5 đến 10 năm chiếm 48,3%). Có tới 92,1% bệnh nhân có bệnh mắc kèm, trong đó 72,2% mắc từ 2 bệnh phối hợp trở lên mà phổ biến nhất là rối loạn lipid máu (78,1%) và bệnh cơ xương khớp (60,9%). Tỷ lệ bệnh nhân đã xuất hiện biến chứng là 34,4%, dẫn đầu là biến chứng thần kinh ngoại vi (21,9%) và biến chứng tổn thương mắt (11,9%).

Thứ hai, về mô hình sử dụng thuốc, số lượng thuốc trung bình được kê trong một đơn là 3,63 ± 0,91 thuốc. Đối với thuốc điều trị đái tháo đường, nhóm Sulfonylurea chiếm tỷ lệ sử dụng cao nhất với 90,7% (trong đó Gliclazid chiếm 85,4%), tiếp theo là nhóm Biguanid với hoạt chất Metformin chiếm 68,2%. Phác đồ phối hợp 2 thuốc chiếm tỷ lệ chủ đạo với 67,5% (phổ biến nhất là Gliclazid kết hợp Metformin chiếm 56,3%), phác đồ đơn trị liệu chiếm 30,5% (Gliclazid đơn độc chiếm 23,2%) và phác đồ 3 thuốc chỉ chiếm 2,0%. Đối với thuốc điều trị tăng huyết áp, dạng thuốc phối hợp chiếm 66,9% (dẫn đầu là phối hợp Telmisartan và Hydrochlorothiazid chiếm 41,7%, Amlodipin và Indapamid chiếm 11,3%), kế tiếp là nhóm chẹn kênh calci Amlodipin đơn độc chiếm 14,6% và chẹn beta Carvedilol chiếm 12,6%.

Thứ ba, về kết quả kiểm soát cận lâm sàng, tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu điều trị theo hướng dẫn của Bộ Y tế còn ở mức thấp. Chỉ số HbA1c trung bình là 7,92 ± 1,85%, trong đó chỉ có 33,1% bệnh nhân đạt mục tiêu HbA1c dưới 7%, trong khi có tới 39,1% bệnh nhân có chỉ số HbA1c từ 8% trở lên. Chỉ có 27,2% bệnh nhân đạt mục tiêu glucose huyết tương lúc đói từ 4,4 đến 7,2 mmol/L (mức trung bình toàn mẫu là 9,04 ± 2,74 mmol/L). Tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát được triglycerid dưới 1,7 mmol/L chỉ đạt 39,1%. Về huyết áp, có 44,4% bệnh nhân đạt chỉ số huyết áp mục tiêu dưới 140/90 mmHg, với huyết áp tâm thu trung bình là 139,14 ± 12,76 mmHg và huyết áp tâm trương trung bình là 80,51 ± 9,52 mmHg.

Thứ tư, về nhận thức, niềm tin và ảnh hưởng tâm lý, điểm lo sợ COVID-19 trung bình theo thang FCV-19S là 20,48 ± 3,1 điểm; có 55,6% bệnh nhân bày tỏ sự sợ hãi đối với dịch bệnh và 41,7% bệnh nhân bị suy giảm thu nhập trong thời kỳ đại dịch. Tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng phụ hạ đường huyết khi dùng thuốc là 8,0% và rối loạn tiêu hóa là 3,3%. Phân tích tương quan cho thấy niềm tin vào sự cần thiết của thuốc (BMQ-Cần thiết) có mối liên hệ thuận chiều chặt chẽ với hành vi tuân thủ, trong khi sự lo ngại về tác dụng phụ và gánh nặng dùng thuốc làm giảm đáng kể mức độ tuân thủ của người bệnh.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu phản ánh thực trạng quản lý bệnh mạn tính kép còn nhiều thách thức tại tuyến tỉnh. Tỷ lệ kiểm soát đạt mục tiêu HbA1c (33,1%) và huyết áp (44,4%) khiêm tốn có mối liên hệ mật thiết với đặc điểm đa bệnh lý (92,1% có bệnh mắc kèm) và gánh nặng sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc (trung bình 3,63 thuốc/đơn). Khi so sánh với các nghiên cứu trong nước, tỷ lệ kiểm soát này tương đồng với ghi nhận tại một số cơ sở y tế tuyến tỉnh nhưng thấp hơn so với các bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương.

Các phát hiện về phác đồ điều trị có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu phác đồ phối hợp hai thuốc chiếm ưu thế (67,5% ở nhóm đái tháo đường và 58,9% ở nhóm tăng huyết áp), phản ánh sự tuân thủ tốt hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế khi ưu tiên phối hợp sớm Metformin cùng Sulfonylurea cũng như phối hợp thuốc ức chế thụ thể angiotensin với lợi tiểu thiazid. Bên cạnh đó, biểu đồ cột phân tầng nồng độ HbA1c và huyết áp mục tiêu làm nổi bật khoảng trống điều trị khi nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao (HbA1c từ 8% trở lên chiếm 39,1%) chưa được tối ưu hóa phác đồ hoặc chưa được chuyển đổi kịp thời sang insulin (tỷ lệ dùng insulin trong nghiên cứu chỉ đạt 1,3%).

Về mặt tâm lý học hành vi, mô hình hồi quy logistic khẳng định vai trò quyết định của niềm tin về thuốc. Bệnh nhân nhận thức rõ sự cần thiết của thuốc trong việc ngăn ngừa đột quỵ và biến chứng mạch máu sẽ có xác suất tuân thủ cao hơn gấp nhiều lần. Ngược lại, những bệnh nhân từng trải qua cơn hạ đường huyết (8,0%) thường phát sinh tâm lý e ngại, dẫn đến hành vi tự ý giảm liều hoặc bỏ cữ thuốc. Bối cảnh đại dịch COVID-19 với điểm lo sợ 20,48 điểm cũng là một rào cản phụ trợ khiến người bệnh hạn chế đến bệnh viện tái khám, buộc cơ sở y tế phải linh hoạt cấp phát thuốc định kỳ 60 ngày thay vì 30 ngày như thông thường.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng khoa học thu được, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp can thiệp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng điều trị và tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc:

Thứ nhất, thiết lập quy trình tư vấn và giám sát dược lâm sàng chuyên sâu cho bệnh nhân ngoại trú. Dược sĩ lâm sàng tại Khoa Dược Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn cần chủ động sàng lọc 100% đơn thuốc của bệnh nhân đái tháo đường mắc kèm tăng huyết áp, thực hiện phỏng vấn ngắn về tiền sử hạ đường huyết và tư vấn kỹ năng xử trí tác dụng phụ ngay tại quầy phát thuốc. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc chung lên trên 80% và giảm tỷ lệ gặp biến cố hạ đường huyết từ 8,0% xuống dưới 3% trong vòng 6 tháng đầu triển khai.

Thứ hai, tối ưu hóa danh mục thuốc và ưu tiên phác đồ sử dụng viên phối hợp liều cố định. Hội đồng Thuốc và Điều trị bệnh viện cùng các bác sĩ phòng khám ngoại trú cần tăng cường lựa chọn các dạng bào chế phối hợp sẵn 2 hoạt chất trong 1 viên nén (như viên kết hợp Metformin và Glimepirid, hoặc Telmisartan và Hydrochlorothiazid) nhằm giảm số lượng viên thuốc uống hàng ngày từ 3,63 thuốc xuống dưới 2,5 thuốc/đơn, giúp đơn giản hóa phác đồ điều trị và giảm nguy cơ quên thuốc cho nhóm người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên ngay trong quý tiếp theo.

Thứ ba, triển khai hệ thống quản lý bệnh án điện tử tích hợp nhắc lịch tự động. Ban Giám đốc bệnh viện chỉ đạo Tổ Công nghệ thông tin phối hợp cùng Khoa Khám bệnh kích hoạt tính năng gửi tin nhắn SMS hoặc thông báo qua ứng dụng Zalo nhắc nhở lịch uống thuốc hàng ngày và lịch tái khám định kỳ trước 3 ngày. Giải pháp này hướng tới mục tiêu duy trì tỷ lệ tái khám đúng hẹn đạt trên 95% trong vòng 12 tháng, đặc biệt hữu ích trong các tình huống phát sinh thiên tai hoặc dịch bệnh.

Thứ tư, tổ chức định kỳ các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe và câu lạc bộ người bệnh. Khoa Khám bệnh phối hợp cùng Đoàn Thanh niên và Hội Dược học địa phương tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ Đái tháo đường – Tăng huyết áp vào tuần thứ hai của mỗi tháng. Chương trình tập trung nâng cao điểm nhận thức về bệnh theo thang B-IPQ, củng cố niềm tin cần thiết vào phác đồ điều trị theo thang BMQ và hướng dẫn chế độ dinh dưỡng giảm muối, hạn chế tinh bột cho ít nhất 500 lượt người bệnh mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật đa chiều cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, Dược sĩ lâm sàng và Cán bộ quản lý Dược tại các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến quận, huyện. Luận văn cung cấp quy trình và bộ công cụ đo lường tuân thủ chuẩn hóa quốc tế (MARS-5, BMQ, B-IPQ), là tài liệu tham khảo trực tiếp để xây dựng các hướng dẫn can thiệp dược lâm sàng ngoại trú và thẩm định danh mục thuốc bảo hiểm y tế.

Thứ hai, Bác sĩ chuyên khoa Nội tiết, Tim mạch và Bác sĩ gia đình. Tài liệu giúp bác sĩ lâm sàng thấu hiểu sâu sắc các rào cản tâm lý, tỷ lệ gặp tác dụng không mong muốn (8,0% hạ đường huyết) và nhận thức bệnh tật của người bệnh, từ đó cá thể hóa phác đồ kê đơn, ưu tiên các dạng thuốc phối hợp liều cố định để tối ưu hóa hiệu quả điều trị.

Thứ ba, Học viên sau đại học, Dược sĩ Chuyên khoa cấp I, cấp II, Thạc sĩ và Sinh viên ngành Y - Dược. Đây là công trình mẫu mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trong dịch tễ dược học, từ cách thiết kế phiếu điều tra, xử lý số liệu trên SPSS, kiểm soát đa cộng tuyến VIF dưới 5 đến phân tích hồi quy logistic đa biến.

Thứ tư, Nhà hoạch định chính sách y tế và Cơ quan Bảo hiểm Xã hội. Luận văn cung cấp bức tranh thực tế về gánh nặng chi phí, thực trạng đồng chi trả BHYT cho 100% bệnh nhân mạn tính và nhu cầu mở rộng danh mục thuốc thiết yếu tuyến cơ sở, hỗ trợ xây dựng các chính sách quản lý bệnh mạn tính dài hạn hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc đánh giá niềm tin về thuốc bằng thang đo BMQ lại mang tính quyết định trong nghiên cứu?
Thang đo BMQ cho phép bóc tách hai khía cạnh tâm lý độc lập: niềm tin vào sự cần thiết của thuốc và sự lo lắng về tác dụng phụ. Trong nghiên cứu trên 151 bệnh nhân, những người có điểm BMQ-Cần thiết cao có mức độ tuân thủ vượt trội (p dưới 0,05). Ngược lại, nhóm bệnh nhân có điểm lo lắng cao (do sợ tổn thương gan thận hoặc từng bị hạ đường huyết chiếm 8,0%) thường có xu hướng tự ý ngưng hoặc giảm liều.

Phác đồ điều trị đái tháo đường típ 2 nào được sử dụng phổ biến nhất tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn?
Nghiên cứu chỉ ra rằng phác đồ phối hợp hai thuốc đường uống chiếm ưu thế vượt trội với tỷ lệ 67,5%, trong đó dạng phối hợp kinh điển giữa Biguanid và Sulfonylurea (Metformin + Gliclazid) chiếm tới 56,3% tổng số bệnh nhân. Phác đồ đơn trị liệu chiếm 30,5% (chủ yếu là Gliclazid với 23,2%), còn phác đồ phối hợp ba thuốc chỉ chiếm 2,0%.

Tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu kiểm soát đồng thời đường huyết và huyết áp trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu kiểm soát còn khá thấp: chỉ có 33,1% bệnh nhân đạt mức HbA1c mục tiêu dưới 7% (mức trung bình là 7,92 ± 1,85%) và 27,2% đạt glucose lúc đói mục tiêu. Tỷ lệ kiểm soát được huyết áp dưới 140/90 mmHg là 44,4%, cho thấy sự cần thiết phải tăng cường can thiệp nâng cao tuân thủ điều trị.

Đại dịch COVID-19 đã tác động như thế nào đến tâm lý và việc điều trị của người bệnh trong giai đoạn nghiên cứu?
Điểm lo sợ đại dịch ghi nhận ở mức trung bình 20,48 ± 3,1 điểm trên thang FCV-19S, với 55,6% bệnh nhân lo sợ dịch bệnh và 41,7% bị suy giảm thu nhập. Yếu tố này gây tâm lý e ngại đến bệnh viện, dẫn đến việc cơ sở y tế phải linh hoạt thay đổi chính sách cấp phát thuốc từ 30 ngày lên tối đa 60 ngày mỗi lần tái khám để đảm bảo tính liên tục của điều trị.

Tiêu chuẩn phân loại tuân thủ dùng thuốc theo thang điểm MARS-5 được xác định cụ thể ra sao?
Thang MARS-5 gồm 5 câu hỏi khảo sát các hành vi dùng thuốc sai lệch. Bệnh nhân trả lời theo thang điểm từ 1 đến 5 (từ luôn luôn đến không bao giờ). Người bệnh được phân loại là tuân thủ dùng thuốc khi đồng thời cả 5 câu hỏi đều đạt từ 4 đến 5 điểm. Nếu có ít nhất 1 câu hỏi đạt từ 3 điểm trở xuống, bệnh nhân sẽ bị phân loại vào nhóm không tuân thủ.

Kết luận

  • Công trình nghiên cứu đã khảo sát toàn diện trên 151 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 mắc kèm tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn với độ tuổi trung bình 67,7 ± 7,7 tuổi và 100% có bảo hiểm y tế.
  • Mô hình kê đơn thể hiện sự phù hợp với hướng dẫn điều trị khi ưu tiên phác đồ phối hợp 2 thuốc (67,5% ở thuốc đái tháo đường và 66,9% ở dạng thuốc tăng huyết áp phối hợp), với số lượng thuốc trung bình là 3,63 ± 0,91 thuốc/đơn.
  • Thực trạng kiểm soát cận lâm sàng còn nhiều khoảng trống khi chỉ có 33,1% bệnh nhân đạt mục tiêu HbA1c dưới 7% và 44,4% đạt huyết áp mục tiêu dưới 140/90 mmHg.
  • Nghiên cứu chứng minh mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức về bệnh tật (B-IPQ), niềm tin vào tính cần thiết của thuốc (BMQ) với hành vi tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân (p dưới 0,05).
  • Các giải pháp trọng tâm bao gồm đẩy mạnh tư vấn dược lâm sàng ngoại trú, đơn giản hóa phác đồ bằng viên phối hợp cố định liều và ứng dụng công nghệ nhắc lịch tái khám cần được triển khai trong vòng 6 đến 12 tháng tới.

Luận văn của Dược sĩ Chuyên khoa cấp I Trịnh Nguyệt Hằng là nguồn tài liệu tham khảo khoa học giá trị, cung cấp cái nhìn thực tiễn sâu sắc cho các nhà lâm sàng. Quý đồng nghiệp, bác sĩ và dược sĩ quan tâm có thể khai thác các thang đo và dữ liệu của nghiên cứu để ứng dụng vào công tác quản lý và nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh mạn tính tại đơn vị mình.