ĐẶT VẤN ĐỀ Các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, tiểu đường, ung thư… là nguyên nhân chính của 70% số tử vong toàn cầu [59]. Trong số các bệnh tim mạch, tăng huyết áp (THA) là bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất với tỷ lệ mắc bệnh ở người lớn khoảng 25 – 35 % và tần suất vẫn không ngừng gia tăng. Trên toàn cầu hiện có 1 tỷ người tăng huyết áp và dự kiến sẽ tăng lên 1,5 tỷ vào năm 2025 [57]. Được mệnh danh là "kẻ giết người thầm lặng", tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân gây tử vong sớm cho khoảng 10 triệu người (năm 2015) và cũng là yếu tố nguy cơ chính của suy tim, rung nhĩ, bệnh thận mạn, bệnh mạch máu ngoại vi, suy giảm chức năng nhận thức… Tại Việt Nam, với số mắc hiện tại ước khoảng 12 triệu người và với quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, tăng huyết áp sẽ gây ra những gánh nặng tàn tật và tử vong ngày một nghiêm trọng [2].
Đối với bệnh mãn tính như THA cần điều trị và sử dụng thuốc dài ngày thì việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và việc tuân thủ điều trị càng đóng vai trò quan trọng để đạt được hiệu quả điều trị tối ưu. Những nghiên cứu gần đây cho thấy tỉ lệ bệnh nhân chưa tuân thủ điều trị còn cao. Theo tổ chức y tế thế giới, năm 2013 tỉ lệ tuân thủ điều trị trên thế giới chỉ đạt 20 – 30% [40]. Tại Việt Nam mặc dù chưa có chưa có nghiên cứu tổng thể về tỉ lệ tuân thủ điều trị nhưng qua các nghiên cứu riêng biệt đã công bố thì tỉ lệ này chỉ đạt khoảng 25 – 44% trong khi vấn đề này có thể khắc phục một phần bằng các biện pháp tư vấn hướng dẫn người bệnh sử dụng thuốc [5, 6, 22, 23]… Việc người bệnh sử dụng thuốc đúng theo chỉ dẫn của nhân viên y tế cũng đòi hỏi người bệnh phải có kiến thức nhất định về thuốc như tác dụng của thuốc, thời gian sử dụng, chú ý khi sử dụng, tác dụng phụ có thể gặp phải… trong khi công tác dược lâm sàng - thông tin thuốc, tư vấn - hướng dẫn sử dụng thuốc, giáo dục bệnh nhân để nâng cao tuân thủ điều trị còn chưa được triển khai đồng bộ tại các cơ sở y tế [3].
Bệnh viện Tim Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa tim mạch hạng 1 của thủ đô Hà Nội, tuyến cuối của Bộ y tế. Mô hình bệnh tật của bệnh nhân đến khám tại 1 bệnh viện hầu hết là các bệnh tim mạch - chuyển hóa mãn tính, phải sử dụng thuốc liên tục và lâu dài nên vấn đề tuân thủ điều trị càng đặt ra cấp thiết; việc tư vấn – hướng dẫn sử dụng thuốc nhằm nâng cao hiểu biết, nâng cao tuân thủ điều trị cho bệnh nhân cũng chưa được triển khai tại bệnh viện. Đến thời điểm hiện tại chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng tuân thủ điều trị hay thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao việc tuân thủ điều trị trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện nên chúng tôi thực hiện đề tài "Phân tích thực trạng tuân thủ điều trị trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tim Hà Nội" với các mục tiêu sau: 1. Phân tích việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2021.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2021. Thông qua thực hiện đề tài sẽ đưa ra các đề xuất, giải pháp tăng cường tuân thủ điều trị của người bệnh nói riêng và nâng cao chất lượng hoạt động khám chữa bệnh nó chung tại bệnh viện Tim Hà Nội. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Khái niệm tăng huyết áp Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), người được gọi là tăng huyết áp (THA) khi có một trong hai hoặc cả hai chỉ số: Huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương) ≥ 90 mmHg.
Trị số được tính trung bình cộng của ít nhất hai lần đo liên tiếp với cách đo chuẩn. Khái niệm này cũng trùng hợp với khái niệm mà Bộ y tế và các chương trình y tế tại Việt Nam đang sử dụng [2, 16]. Khái niệm tuân thủ điều trị Hiện nay các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều khái niệm khác nhau để mô tả việc sử dụng thuốc của bệnh nhân như tuân thủ (compliance), sử dụng thuốc phù hợp (concordance), tuân thủ điều trị (treatment adherence) hay tuân thủ sử dụng thuốc (medication adherence). Năm 2003, WHO đưa ra khái niệm về tuân thủ điều trị (treatment adherence): tuân thủ điều trị là "Hành vi của người bệnh trong việc sử dụng thuốc, thực hiện chế độ ăn uống và/hoặc thay đổi lối sống theo các khuyến nghị của nhân viên y tế" [56].
Theo đó, tuân thủ điều trị gồm hai phần: Tuân thủ sử dụng thuốc và tuân thủ các biện pháp không dùng thuốc của bệnh nhân. Tuân thủ điều trị trong các biện pháp không sử dụng thuốc bao gồm thay đổi chế độ ăn uống, luyện tập, sinh hoạt. Đối với bệnh tăng huyết áp, thay đổi lối sống phải được thực hiện ngay ở tất cả bệnh nhân với huyết áp bình thường cao và tăng huyết áp. Hiệu quả của thay đổi lối sống có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm khởi phát tăng huyết áp và giảm các biến cố tim mạch [16].
Định nghĩa về tuân thủ điều trị trong sử dụng thuốc theo Hội nghị Châu Âu về giám sát tuân thủ điều trị năm 2009 đưa ra là "quá trình bệnh nhân sử dụng thuốc theo đúng chỉ định" [31], có thể hiểu đơn giản là dùng đúng thuốc, đúng liều, đúng thời gian, đúng cách. Bệnh nhân được coi là không tuân thủ sử dụng thuốc khi: 3 chậm hoặc không điều trị, sử dụng thuốc không đúng chỉ định hoặc ngừng sử dụng thuốc trước khi kết thúc đợt điều trị. ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ ĐÁNH GIÁ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ 1. Phân loại huyết áp Trên thực tế có hai cách phân loại tăng huyết áp được dùng phổ biến, gồm phân loại dựa trên nguyên nhân tìm được và phân loại dựa trên mức chỉ số huyết áp.
Phân loại theo nguyên nhân được sử dụng nhiều trong lâm sàng gồm hai nhóm: tăng huyết áp vô căn và tăng huyết áp thứ phát. Phân loại theo chỉ số huyết áp của WHO và JNC-8 và hội tim mạch học quốc gia Việt Nam có các loại [16, 35, 61]: Bảng 1.1: Phân loại tăng huyết áp theo tổ chức y tế thế giới Phân độ theo WHO HATT (mmHg) HATTr (mmHg) HA tối ưu < 120 < 80 HA bình thường < 130 < 85 HA bình thường cao 130 - 139 85 – 89 THA độ 1 (nhẹ) 140 - 159 90 – 99 THA độ 2 (vừa) 160 - 179 100 – 109 THA độ 3 (nặng) ≥ 180 ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 ≤ 90 Bảng 1.2 : Phân loại tăng huyết áp ở người ≥ 18 tuổi theo JNC-8 Phân độ theo JNC-8 HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương (mmHg) HA bình thường < 120 < 80 Tiền tăng HA 130 – 139 85 – 89 THA gia đoạn 1 140 – 159 90 – 99 THA giai đoạn 2 ≥ 160 ≥ 100 4 Bảng 1. Phân loại tăng huyết áp của hội tim mạch học quốc gia Việt Nam HA tâm thu HA tâm trương Phân loại (mmHg) (mmHg) Tối ưu < 120 và < 80 Bình thường 120-129 và/hoặc 80-84 Bình thường cao 130-139 và/hoặc 85-89 Tăng HA độ 1 140-159 và/hoặc 90-99 Tăng HA độ 2 160-179 và/hoặc 100-109 Tăng HA độ 3 ≥ 180 và/hoặc ≥ 110 Tăng HA tâm thu đơn độc ≥ 140 và < 90 Ghi chú: Nếu HA tâm thu và HA tâm trương của bệnh nhân nằm ở 2 mức khác nhau, phân loại dựa vào mức cao hơn. Tăng HA tâm thu đơn độc cũng được phân thành độ 1, 2 hoặc 3 dựa vào trị số HA tâm thu.
Việc phân nhóm tiền tăng huyết áp của các tổ chức trên có ý nghĩa dựa trên nhiều bằng chứng cho thấy tỉ lệ tử vong do các biến cố tim mạch trong nhóm đối tượng có chỉ số này cao hơn có ý nghĩa so với mức huyết áp bình thường. Những người tiền tăng huyết áp nếu không đưa được về huyết áp bình thường sẽ tiến triển thành tăng huyết áp thực sự. Nhóm này được khuyến cáo cải thiện tình trạng huyết áp thông qua thay đổi lối sống [61]. Các cách phân loại tăng huyết áp đảm bảo về mặt học thuật và được sử dụng chủ yếu bởi các bác sỹ nhưng lại khó hiểu và khó nhớ đối với bệnh nhân.
Điều trị bệnh tăng huyết áp Hầu hết các bệnh nhân bị tăng huyết áp thường không có các dấu hiệu cảnh báo. THA được coi là "kẻ giết người thầm lặng" bởi bệnh không có những triệu chứng điển hình, không phải lúc nào người bệnh THA cũng thấy khó chịu. Quan điểm trước đây cho rằng cứ THA phải có đau đầu, đỏ bừng mặt, béo phì… là sai lầm, nhiều khi xuất hiện triệu chứng đau đầu đã là sự kết thúc của người bệnh THA bị tai biến mạch máu não. 5 Mặc dù THA đã được chứng minh sự nguy hiểm như vậy nhưng hiện nay THA vẫn tồn tại ba nghịch lý, đó là THA dễ phát hiện nhưng lại ít được phát hiện sớm, THA dễ điều trị nhưng số người điều trị không nhiều và THA có thể khống chế được với mục tiêu mong muốn nhưng số người đạt được mục tiêu điều trị không nhiều.
Thời điểm bắt đầu điều trị bệnh tăng huyết áp Khởi trị (bằng thuốc và thay đổi lối sống) không chỉ phụ thuộc vào mức HA đo ở phòng khám ban đầu mà còn phụ thuộc vào tổng nguy cơ tim mạch của bệnh nhân. Điều trị bằng thuốc (kết hợp với thay đổi lối sống) phải được bắt đầu ngay cho tất cả bệnh nhân tăng HA độ 2 và độ 3 và những bệnh nhân tăng HA độ 1 có nguy cơ cao - rất cao. Đối với bệnh nhân tăng HA độ 1 có nguy cơ thấp - trung bình, có thể thử điều trị bằng thay đổi lối sống đơn thuần 3 - 6 tháng. Nếu thay đổi lối sống đơn thuần không kiểm soát được HA thì dùng thuốc.
Đối với bệnh nhân có HA bình thường cao, xem xét điều trị bằng thuốc nếu bệnh nhân có nguy cơ rất cao do có bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành. Riêng ở người rất cao tuổi (≥ 80 tuổi), khởi trị bằng thuốc (kết hợp với thay đổi lối sống) được chỉ định nếu bệnh nhân có HA tâm thu ≥ 160 mmHg.