phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 2: Hình thức biểu hiện của một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình yêu đôi lứa Chƣơng 3: Giá trị biểu hiện của một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao tình yêu đôi lứa e 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ 1. Tín hiệu Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín hiệu, liên quan đến những cách hiểu rộng hẹp khác nhau của các tác giả. Trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu đã nêu ra định nghĩa tín hiệu của P. Guiraud: “Một tín hiệu… là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh ký ức của một kích thích khác” [6, tr.
Schaff lại định nghĩa tín hiệu thẩm mĩ theo nghĩa hẹp: “Một sự vật vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành tín hiệu nếu như trong quá trình giao tiếp nó được các nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm” [6, tr. Định nghĩa của A. Schaff hẹp ở chỗ chỉ thừa nhận những sự vật hiện tƣợng là tín hiệu khi nó đƣợc sử dụng có ý thức trong phạm vi một hệ thống có tƣ cách nhƣ một ngôn ngữ để trao đổi tƣ tƣởng, tình cảm giữa ngƣời với ngƣời, còn những tín hiệu giao tiếp không ý thức của động vật không đƣợc thừa nhận là tín hiệu. Quan niệm của P.
Guiraud về tín hiệu rộng hơn vì nó bao hàm cả những tín hiệu hẹp, những tín hiệu nhận biết đối với thế giới sinh vật, cả những tín hiệu giao tiếp có tính chất bản năng của loài vật. Theo cách hiểu này, tất cả những hình thức vật chất có khả năng gợi ra những hình ảnh đều đƣợc coi là tín hiệu, không phân biệt nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo, có chức năng giao tiếp hay phi giao tiếp… Một đám mây với khả năng gợi ra hình ảnh về cơn mƣa trong nhận thức của con ngƣời. Một giọng nói “tự nói lên” những đặc điểm về quê quán, về tuổi tác, nghề nghiệp, trạng thái tâm sinh lý… của e 8 ngƣời nói trong sự nhận thức của ngƣời nghe. Một câu hỏi nhƣng chính là một lời tỏ tình của ca dao: “Tre non đủ lá đan sàng được chăng?”.
Một con thuyền trong ý nghĩa của “ngƣời đi” mà ca dao vẫn thƣờng nhắc đến… Các nhà nghiên cứu lý thuyết về thông tin gọi đó là những yếu tố mang tin. Các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học gọi đó là những yếu tố mang nghĩa. Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng đã chỉ ra những điều kiện cần cho một sự vật, hiện tƣợng, hay thuộc tính vật chất trở thành tín hiệu: 1. Phải có một hình thức cảm tính (cái biểu hiện); 2.
Phải có một nội dung ý nghĩa (cái đƣợc biểu hiện); 3. Phải đƣợc nhận thức bởi một chủ thể nào đó (đối tƣợng của thông tin); 4. Phải nằm trong một hệ thống nhất định. Chúng tôi coi những điều kiện này là cơ sở cho sự nhận diện tín hiệu trong đề tài.
Một tín hiệu là một yếu tố bao hàm hai mặt: “Cái biểu hiện” và “cái đƣợc biểu hiện”, đồng thời cũng là một yếu tố chỉ có thể xác định đƣợc trong mối tƣơng quan với chủ thể nhận thức và với hệ thống mà nó tham gia. Về phân loại tín hiệu, các tác giả cũng đƣa ra nhiều cách phân loại khác nhau dựa vào những tiêu chí khác nhau. Phân loại của C. Peirce phân biệt ba phạm trù chính của tín hiệu: hình hiệu, dấu hiệu, biểu trƣng.
Morris đƣa thêm vào hệ thống phân loại những phạm trù: chỉ hiệu, định hiệu. Bảng phân loại của P. Guiraud có sự phân biệt tín hiệu tự nhiên với tín hiệu nhân tạo, tín hiệu biểu hiện và tín hiệu giao tiếp. Lấy bảng phân loại tín hiệu của P.
Guiraud làm trục chính, trên cơ sở bổ sung thêm kết quả phân loại của các tác giả khác, Đỗ Hữu Châu đã đƣa ra nguyên tắc phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào chức năng xã hội có thể phân loại các tín hiệu thành tín hiệu đạt có thể phân loại thành: tín hiệu thị giác, tín hiệu thính giác, tín hiệu xúc giác… Căn cứ vào nguồn gốc để chia thành tín hiệu tự nhiên và tín hiệu nhân tạo. Căn cứ vào quan hệ giữa cái biểu đạt và cái đƣợc biểu đạt có thể quy tín hiệu thành ba loại: dấu hiệu, hình hiệu và ƣớc hiệu. Các phạm trù tín hiệu đƣợc kể ở đây tuy không đồng nhất trong quan e 9 niệm của mỗi tác giả và cũng không tƣơng đồng với nhau trên cùng một tiêu chí phân loại nhất định nhƣng có tác dụng cung cấp những khái niệm tín hiệu quan trọng trong việc nghiên cứu những đặc tính tín hiệu học khác nhau của các tín hiệu, làm cơ sở cho sự phân biệt tín hiệu đƣợc nghiên cứu trong đề tài.
Trong tất cả những phân loại kể trên, chúng tôi sử dụng bảng phân loại của Đỗ Hữu Châu mà ƣu điểm là bao quát đƣợc tất cả những phạm trù – loại khác nhau của tín hiệu, đồng thời chỉ ra đƣợc mối quan hệ loại hình giữa các tín hiệu trên các tiêu chí khác nhau nhƣ: “1) Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện, 2) Dựa vào nguồn gốc của tín hiệu, 3) Dựa vào mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái đƣợc biểu hiện, 4) Căn cứ vào chức năng xã hội của tín hiệu” [9, tr. Tín hiệu ngôn ngữ Tín hiệu ngôn ngữ nói riêng và tín hiệu nói chung đều là những dạng vật chất tác động vào giác quan của con ngƣời để con ngƣời nhận thức và lĩnh hội đƣợc một nội dung ý nghĩa cần thiết về hiểu biết, tƣ tƣởng, tình cảm, hành động, hay cảm xúc. Rất nhiều tín hiệu xung quanh con ngƣời hiện nay đều thỏa mãn những yêu cầu chung đó: đèn giao thông hay các biển hiệu giao thông, tiếng trống, kẻng hay chuông báo hiệu giờ làm việc hoặc học tập, tiếng “tút tút” báo giờ trên đài phát thanh, chữ nổi cho ngƣời mù, dấu hiệu bằng tay cho ngƣời câm điếc,. Trong số các tín hiệu mà con ngƣời sử dụng hiện nay, tín hiệu ngôn ngữ có lịch sử lâu đời và diện phổ biến rộng khắp nhất.
Từ khi ra đời cho tới nay, và ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, con ngƣời đều dùng các tín hiệu ngôn ngữ. Có thể nói, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu phổ biến nhất, lâu đời và quan trọng nhất trong cuộc sống của con ngƣời. de Saussure xác định tín hiệu ngôn ngữ: “Tín hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh, hai yếu tố này có gắn bó khăng khít với nhau và đã có cái e 10 này phải có cái kia. Trong đó khái niệm được gọi là cái được biểu đạt và hình ảnh âm thanh được gọi là cái biểu đạt”[38, tr.
Nó nhƣ hai mặt của một tờ giấy, hễ mất mặt này mặt kia không thể tồn tại, hay nói cách khác, tín hiệu ngôn ngữ là một tổng thể hai mặt không thể tách rời. de Saussure đã chỉ ra hai đặc điểm của tín hiệu ngôn ngữ: tính võ đoán và tính hình tuyến. Tính võ đoán, hiểu theo F. de Saussure, là mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái đƣợc biểu đạt hoàn toàn không có một lí do xác đáng nào.
Nghĩa là nếu không có cái biểu đạt này thì có thể sử dụng cái biểu đạt khác làm vỏ cho các đơn vị ngôn ngữ mà ngƣời ta vẫn có thể hiểu nếu nhƣ cấp cho chúng các thế đối lập cần thiết nhằm xác định giá trị của đơn vị đó. Pierce cũng có quan niệm tƣơng tự. Ông cho rằng đại đa số tín hiệu ngôn ngữ thuộc loại ƣớc hiệu, loại tín hiệu mà mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái đƣợc biểu đạt là hoàn toàn võ đoán, không giải thích đƣợc nguyên do. Loại tín hiệu này sẽ mất tƣ cách là tín hiệu nếu không có cái lí giải.
Trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, tác giả Đỗ Hữu Châu coi ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu sơ cấp đƣợc xây dựng với những thể chất tinh thần và vật chất. Đó là những âm thanh do bộ máy cấu âm của con ngƣời tạo ra. Ông đặc biệt lƣu ý vấn đề chức năng và đặc tính đa chức năng của các tín hiệu ngôn ngữ so với các hệ thống tín hiệu nói chung và tín hiệu mang chức năng giao tiếp nói riêng. Nếu nhƣ các tín hiệu khác ở từng hệ thống chỉ thực hiện đƣợc một chức năng tín hiệu thì ngôn ngữ không chỉ thuần túy mang chức năng giao tiếp mà đồng thời là công cụ để tƣ duy, để tổ chức xã hội, duy trì sự sống của con ngƣời và còn mang chức năng thi pháp.
Trong đó, chức năng giao tiếp đƣợc coi là chức năng xã hội quan trọng nhất của ngôn ngữ. Vì vậy, tín hiệu ngôn ngữ vừa là tín hiệu giao tiếp, vừa có thể là tín hiệu nhận thức, tín hiệu biểu hiện. Riêng đối với chức năng giao tiếp, cũng có sự phân biệt các chức năng khác nhau có liên quan đến các nhân tố khác nhau của hoạt động giao tiếp: chức năng miêu tả, chức năng dụng học, chức năng e 11 phát ngôn, chức năng cú học. Từ các phƣơng diện chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định ý nghĩa tín hiệu của chúng trên tất cả những đơn vị mang ý nghĩa: từ, cụm từ, câu, đoạn văn, văn bản.
Một từ hay một câu nào đó có thể vừa mang những thông tin về sự vật, hiện tƣợng đƣợc nói đến, vừa bộc lộ những đặc điểm về địa phƣơng, nghề nghiệp và trạng thái tâm lí của ngƣời nói.Chẳng hạn, khi đọc những câu ca dao sau: “Khăn thương nhớ ai? Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt trên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt”. Không phải tự nhiên bài ca dao này đƣợc ngƣời ta nhớ đến với tên gọi “khăn thương nhớ ai”. Hình ảnh chiếc khăn ấy không chỉ là biểu tƣợng cho nỗi nhớ thƣơng của cô gái mà còn là hình ảnh đƣợc lặp lại nhiều nhất với nhiều tình huống khác nhau. Trong xã hội phong kiến, phụ nữ luôn là tầng lớp dƣới, thấp cổ bé họng, kêu không ai nghe, than không ai thấu.
Bởi vậy họ chỉ biết gửi những dòng tâm sự, nỗi lòng ấy qua từng lời ca nhƣ xé ruột.