Chương 1. Những vấn đề chung Chương 2. Chủ đề tình yêu lứa đôi trong thơ của Xuân Diệu và thơ R.Tagore nhìn từ phương diện nội dung. Những đặc sắc nghệ thuật thể hiện Chủ đề tình yêu lứa đôi trong thơ của Xuân Diệu và thơ R.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Một số vấn đề về lý luận 1. Văn học so sánh a. Văn học so sánh là chuyên ngành gì ? Văn học so sánh trước tiên là một khái niệm khá lỏng lẻo và mơ hồ.
Đôi khi là một khái niệm thiếu tính khoa học. Tuy nhiên, việc sử dụng khái niệm này khá rộng rãi và hầu như đã được chấp nhận một cách phổ biến. Tuy nhiên, để hiểu về văn học so sánh như một thuật ngữ khoa học, một chuyên ngành nghiên cứu trong địa hạt nghiên cứu văn học, chúng tôi quay trở lại với căn tự để xác định. Từ “comparative” trong Anh ngữ bắt nguồn từ căn tự Latin “comparativus”.
Đây là một khái niệm chỉ sự quan sát hoặc phán đoán dựa trên việc quy nạp các đặc điểm nhằm phát hiện sự tương đồng hoặc dị biệt giữa hai hoặc nhiều đối tượng trên nhiều cấp độ/quy mô/phạm vi khác nhau. Chẳng hạn như văn học so sánh, ngôn ngữ học so sánh, tôn giáo so sánh, văn hóa so sánh, xã hội học so sánh,. Trên thế giới, chúng ta có thể tham khảo một số quan niệm được chấp nhận một cách rộng rãi như ý kiến của hai nhà nghiên cứu R. Warren (1949): “ “văn học so sánh là việc nghiên cứu các mối tương liên giữa hai hoặc nhiều đối tượng thuộc phạm vi văn chương”6.
Tuy nhiên ý kiến vừa rồi, nếu xét trên suốt quá trình phát triển của chuyên ngành văn học so sánh thì chỉ mới là quan niệm bước đầu, tương đối dễ chấp nhận, mặc dù còn thiếu sót. Vì rằng, nhiều đối tượng văn học hầu như không có mối tương liên nhưng có nhiều nét tương đồng về lịch sử phát triển. Cùng trong chiều hướng đó, Daniel-Henri Pageaux (1994) cũng cho rằng: “Văn học so sánh là chuyên ngành nghiên cứu những mối quan hệ tương đồng, quan hệ họ hàng hay ảnh hưởng giữa văn học với các lĩnh vực nghệ thuật hay các lĩnh vực tư duy khác, giữa các sự kiện hay văn bản văn học, những mối quan hệ này cC thể gần hay xa, trong không gian hay trong thFi gian, miễn là chúng thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, hoặc nhiều văn hoá khác nhau, cho dù cC chung một truyền thống”7. Nhưng xã hội ngày càng phát triển, các mối giao lưu ngày càng được mở rộng.
Điều này đồng nghĩa là việc nghiên cứu tương đồng trong VHSS sẽ có thêm nhiều căn cứ. Tuy nhiên, song song với điều đó là việc người ta phát hiện ra nhiều nét tương đông không xuất phát từ mối quan hệ tương liên. Và theo đó, nghĩa là hướng nghiên cứu liên ngành, VHSS cũng được mở rộng chiều kích từ phạm vi, đối tượng lẫn phương pháp nghiên cứu. Đến n”i có nhà nghiên cứu đã cho rằng Thuyết lý và ứng dụng trong văn chương hậu thuộc địa (Theory and Practice in Post-Colonial Literature) cũng là biểu hiện khác của VHSS trong thời đại mới8.
Có lẽ chính mối quan hệ tương liên ngày từ 6 Wellek, R. Theory of Literature. New York: Harcourt, p. 7 Daniel-Henry Pageaux, La litérature générale et comparée, Armand Colin, Paris, 1994, tr.
12 8 Theo Susan Bassnet: Comparatve Literature - A Critcal Introducton, Blackwell (USA), 1998. d ch 8 0 0 đầu của VHSS đã bắt gặp xu hướng liên ngành của thời đại mới (từ nửa sau thế kỷ XX đến nay) khiến cho VHSS tiếp tục được quan tâm nghiên cứu và mở rộng. Do đó, trong luận văn này chúng tôi xác định VHSS như là chuyên ngành nghiên cứu về mối tương liên (mở rộng) hoặc tương đồng của các văn bản văn học; có thể được viết bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau vượt lên trên những ranh giới về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử xã hội. Qua đó nhằm tìm ra những đặc điểm tương đồng và dị biệt giữa hai hay nhiều đối tượng.
Thêm vào đó, chúng tôi cho rằng VHSS từ lúc hình thành như một khoa học đích thực cho đến nay vẫn không ngừng đóng góp rất nhiều hiểu biết cho nghiên cứu văn học, lý thuyết và phê bình văn học, lịch sử văn học, dịch thuật; cũng như đóng góp cho việc nghiên cứu văn hóa – xã hội trên tầm khu vực và toàn càu trong bối cảnh văn học và tương tác giữa các vùng văn học ngày càng được mở rộng. Lịch sử phát triển của văn học so sánh thế giới • phần này chúng ta có thể tham khảo nhiều tài liệu khác nhau. • luận văn này, chúng tôi không có ý khai mở gì thêm về việc nghiên cứu VHSS cũng như hé lộ thêm về lịch sử phát triển của ngành học này. Do đó, chúng tôi sử dụng phương pháp liệt kê để tổng lược về lịch sử phát triển của VHSS: - Năm 1598, Francis Meres đã sử dụng thuật ngữ này trong bài viết "Một bài diễn văn so sánh các nhà thơ tiếng Anh của chúng tôi với các nhà thơ Hy Lạp, Latin và Ý" trong cuốn sách Palladis Tamia - Sau đó, thuật ngữ này được sử dụng trong các tài liệu nghiên cứu của Thiên chúa giáo khi chú thích các vấn đề liên quan trong việc chuyển dịch các cuốn sách ở thế kỷ XVII và XVIII.
- Đầu thế kỷ XIX ở Pháp, các từ 'so sánh' và 'văn học' đã được sử dụng cùng nhau như một cụm từ trong một số sách khoa học. - Đến 1886, Hutcheson Macaulay Posnett đã viết một cuốn sách mang tên là “Comparative Literature”9. Cho nên có thể nói, ông là người xác lập và mở đường cho việc nghiên cứu văn học so sánh một cách cụ thể như một ngành nghiên cứu văn học. Hơn nữa, vào năm 1901, ông còn viết một bài luận ngắn với tên gọi ‘”The Science of Comparative Literature”.
Bài viết này thực sự xác lập văn học so sánh như một khoa học bởi việc xây dựng cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cho địa hạt này. Cho nên chung quy có thể nói, việc hình thành văn học so sánh đã khơi mào từ thế kỷ XVI ở Châu Âu; tuy nhiên phải chờ đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thì văn học so sánh mới định hình như một khoa học Từ đó, các quan niệm nghiên cứu mối tương liên giữa các đối tượng văn học khác nhau đã phân chia lĩnh vực nghiên cứu văn học so sánh thành ra các trường phái khác nhau. Về cơ bản chúng ta có thể nhìn thấy ba chất điểm nổi bật trên bản đồ văn học so 9 Hutcheson Macaulay Posnet, Comparatve Literature (London: Kegan Paul, Trench & Co., 1886) 9 0 0 sánh thế giới; hay nói khác đi đó là: trường phái Pháp, trường phái Đức, trường phái Mỹ10. + Trường phái Pháp: chủ yếu là “nghiên cứu ảnh hưởng”; + Trường phái Nga: chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ vay mượn; + Trường phái Mỹ: chủ yếu phê phán các nhược điểm của trường phái Pháp; còn về mặt lý thuyết thì trường phái Mỹ thiếu sự nhất quán; + Các trường phái khác: chẳng hạn như ở Tiệp Khắc, Rumani, Ba Lan, Nam Tư… c.
Nghiên cứu văn học so sánh tại Việt Nam từ năm 1986 Từ sau 1986, văn học nghệ thuật được sự ủng hộ trong bối cảnh đổi mới chung toàn diện xã hội; theo đó, lý luận văn học nước ngoài được du nhập vào Việt Nam. Không chỉ vậy, các lý thuyết văn học còn được nghiên cứu và ứng dụng đa dạng trên thực tế văn học nước nhà. Trong đó, chúng ta có VHSS. Rất nhiều nhà nghiên cứu có nhiều công trình đóng góp cho diện mạo nghiên cứu VHSS từ 1986 đến nay.
Có thể kỷ đến: Trần Thanh Đạm, Nguyễn Văn Dân, Lưu Văn Bổng, Phương Lựu, Trương Đăng Dung, Hoàng Trinh, Lưu Liên,. với nhiều công trình đáng chú ý, đóng góp rất lớn cho nghiên cứu VHSS Việt Nam11. Những tài liệu này vừa mang tính nghiên cứu đồng thời cũng là giáo trình được sử dụng trong môi trường đại học. Điều này cho thấy VHSS không chỉ là một trào lưu trong giới nghiên cứu hàn lâm mà đã trở thành một môn học được quan tâm giảng dạy ở bậc đại học.
Có thể nói đây là sự du nhập theo chiều sâu của một lý thuyết văn học nước ngoài vào đời sống văn học nước nhà. Các hướng nghiên cứu chính của giới học thuật Việt Nam đối với trường hợp VHSS: - một số vấn đề cơ bản của lý luận văn học so sánh 12; VHSS ứng dụng13; hướng nghiên cứu ảnh hưởng và tiếp nhận14; xu hướng so sánh mở rộng15; khác biệt trong nghiên cứu song hành (loại hình) chính là tính dân tộc; hướng nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary),. Đặc biệt hướng nghiên cứu so sánh mở rộng từ văn học đến văn hóa học, triết học, lịch sử,. Có thể kể đến một số công trình: Nguyễn Như Diệm (Chủ biên) (1996), Triết học Đông - Tây, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội.; Nguyễn Vũ Hảo (2016), Triết học so sánh Đông – Tây, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7(104) – 2016; Hội khoa học lịch sử Việt Nam (1997), Người Việt Nam ở Triều Tiên và mối giao lưu văn hoá Việt - Triều trong lịch sử, Hà Nội.; Tôn giáo Hàn Quốc và Việt ủ 10 Bài viêốt c a Trầần ử t ươ Đình S đã ng đốối đầầy đủ , do đó, ở luận văn này chúng tối khống có ý đào sầu và m ở r ngộthêm vầốn đêầ.
Ch ủyêốu dự a trên quà trình phát triể n và quan điểm của từng trường phái, chúng tối có đi ểm t ựa đ ểnghiên c ứu đốối tượng mà luận văn đã xác định. 11 Có th thamể kh o thêm ả ị Cao Th Hốầng (2016), Văn h c ọso sánh Vi ở t ệNam t năm ừ 1986 đêốn nay; Nguốần: htp://phebinhvanhoc.vn/van-hoc-so-sanh-o-viet-nam-tu-1986-den-nay/ 12 Nh m ư t ộsốố cống trình c ủa: Trầần Thanh Đạm - Dầẫn luận văn h ọc so sánh (1995); Nguyêẫn Văn Dần - Nh ững vầốn đêầ lý luậ n củ a văn họ c so sánh (1995), Lý luậ n văn họ c so sánh (1998), và Nghiên cứu văn học lý luận và ứng dụ ng (1999); Lưu Văn Bổng - Văn học so sánh – Lý luận và ứng dụ ng (chủ biên, 2001); Phương Lựu - Tìm hiểu lý lu ận văn h ọc ph ương Tầy hi ện đ ại(1995) và Lý lu ận phê bình văn h ọc ph ương Tầy thêố kỷ XX (2001). 13 Theo Lê Phong Tuyêốt t ừ 1986 đêốn 1998 có trên 100 nghiên c ứ u VHSS; Nguốần: Lưu Văn B ổng (Ch ủ biên, 2001), Văn họ c so sánh – Lý luậ n và ứng dụ ng, Nxb KHXH, Hà Nộ i, tr.