Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tên nhân vật trong các tác phẩm văn học của Lỗ Tấn, Ba Kim, Lão Xá — so sánh với tên nhân vật trong các tác phẩm văn học của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố” (tên tiếng Trung: 《鲁迅、巴金、老舍文学作品中人物命名特点研究——与南高、阮公欢、吴必素文学作品中人物命名对比》) do nghiên cứu sinh Phạm Hữu Khương thực hiện tại Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Cầm Tú Tài. Luận án thuộc chuyên ngành Hán ngữ học (mã số: 9220204.01), hoàn thành và bảo vệ vào tháng 5 năm 2018.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học, tên nhân vật không đơn thuần là ký hiệu định danh mà còn là một phương tiện nghệ thuật phản ánh tư tưởng, chủ đề tác phẩm, bối cảnh lịch sử và văn hóa dân tộc. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều trải qua giai đoạn lịch sử phong kiến kéo dài, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, đồng thời bước vào thời kỳ chuyển biến xã hội nửa phong kiến nửa thực dân đầu thế kỷ XX. Mặc dù các tác giả hiện thực phê phán như Lỗ Tấn, Ba Kim, Lão Xá (Trung Quốc) và Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố (Việt Nam) đã được nghiên cứu rộng rãi về tư tưởng và nghệ thuật tự sự, song vấn đề định danh nhân vật dưới góc nhìn đối chiếu liên ngôn ngữ và liên văn hóa giữa hai nền văn học vẫn chưa được khảo sát có hệ thống. Khoảng trống này thúc đẩy tác giả thực hiện đề tài nhằm làm sáng tỏ các quy luật ngôn ngữ, lý cứ định danh và nội hàm văn hóa ẩn sau hệ thống tên gọi nhân vật.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu cụ thể gồm:

  1. Làm rõ các lý cứ và đặc điểm định danh nhân vật trong tác phẩm văn học của Lỗ Tấn, Ba Kim, Lão Xá; phân tích mối quan hệ giữa tên gọi nhân vật với nội dung tư tưởng tác phẩm và bối cảnh xã hội, văn hóa qua từng giai đoạn lịch sử.
  2. Đối chiếu đặc điểm định danh nhân vật của ba tác giả Trung Quốc với hệ thống tên nhân vật trong tác phẩm của ba tác giả Việt Nam (Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố) nhằm chỉ ra các điểm tương đồng và dị biệt.
  3. Khẳng định tính linh hoạt, đa dạng của ngôn ngữ trong sáng tạo hình tượng nhân vật; xác định tên nhân vật như một ký hiệu văn hóa học và dân tộc học, cung cấp tư liệu cho nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ - văn hóa Hán - Việt cũng như công tác giảng dạy tiếng Hán tại Việt Nam.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án triển khai 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan cơ sở lý luận về tên người, tên nhân vật văn học và các công trình nghiên cứu đi trước của học giả Trung Quốc, Việt Nam.
  2. Thống kê, phân loại và phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa, lý cứ định danh của 1.191 tên nhân vật (hoặc đại từ xưng hô thay thế) trong 249 tác phẩm của 6 tác giả.
  3. So sánh đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ, lý cứ và các biện pháp tu từ được sử dụng trong việc đặt tên nhân vật giữa hai nhóm tác giả Trung Quốc và Việt Nam.
  4. Phân tích nội hàm văn hóa dân tộc và đánh giá chức năng nghệ thuật của tên nhân vật đối với việc truyền tải tư tưởng tác phẩm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm ngôn ngữ (ngữ âm, cấu trúc, ngữ nghĩa), biện pháp tu từ, lý cứ định danh và nội hàm văn hóa của tên nhân vật văn học.
  • Phạm vi tư liệu và thời gian: Khảo sát các sáng tác văn xuôi hiện thực của 6 nhà văn tiêu biểu thời kỳ hiện đại của Trung Quốc và Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX.
Tác giả Quốc gia Số lượng tác phẩm khảo sát Số lượng tên nhân vật thu thập
Lỗ Tấn (Lu Xun) Trung Quốc 35 155
Ba Kim (Ba Jin) Trung Quốc 40 144
Lão Xá (Lao She) Trung Quốc 40 383
Tổng ngữ liệu Trung Quốc Trung Quốc 115 682
Nam Cao Việt Nam 45 244
Nguyễn Công Hoan Việt Nam 54 165
Ngô Tất Tố Việt Nam 35 100
Tổng ngữ liệu Việt Nam Việt Nam 134 509
Tổng cộng toàn bộ ngữ liệu Trung - Việt 249 1.191

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Hướng nghiên cứu tại Trung Quốc

Tác giả điểm lại các nghiên cứu về nhân danh học và tên nhân vật văn học của giới học giả Trung Quốc:

  • Nghiên cứu về nhân danh tổng quát: Các công trình nghiên cứu nguồn gốc, cấu trúc và văn hóa họ tên như Đổng Bảo Quân (Nghệ thuật đặt tên), Mã Đĩnh Sinh (Nghệ thuật đặt tên), Tiêu Dao Thiên (Nghiên cứu nhân danh Trung Quốc), Quân Lê Vân (Họ tên người Trung Quốc và nghệ thuật đặt tên), Vương Tuyền Căn (Hoa Hạ tính danh diện diện quan), Nạp Nhật Bích Lực Qua (Tính thị luận).
  • Nghiên cứu tên nhân vật trong tác phẩm cụ thể: Ngô Phong Văn, Giang Quỳnh, Trịnh Hiểu Thi (2013) phân tích cấu trúc đơn danh và song danh trong Thủy hử truyện và Hồng lâu mộng; Tả Bồi, Thi Bình (1992) bước đầu so sánh tên nhân vật giữa văn học Trung Quốc và phương Tây; Hạ Trung Hoa và Nhậm Lệ Phân (2007) khảo sát nghệ thuật tu từ đặt tên trong tập truyện Gào thét và Bàng hoàng của Lỗ Tấn; Tiêu Vĩnh Hạ và Tạ Á Quân (2007) phân loại nội hàm văn hóa tên nhân vật trong văn học Trung văn; Lý Tĩnh Văn (2015) nghiên cứu các biện pháp tượng trưng, ám dụ, phản ngữ trong tiểu thuyết Gia của Ba Kim; Lưu Bình Thanh, Vương Hải Phong khảo sát nghệ thuật đặt tên của Lỗ Tấn; Mã Minh Xuân (1999) trong bộ chuyên khảo Đặt tên học nghệ thuật đặt tên đã hệ thống hóa lý thuyết định danh văn học.

Hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Nghiên cứu họ tên người Việt: Lê Trung Hoa (2005) trong Họ và tên người Việt Nam thống kê tỷ lệ các dòng họ phổ biến (họ Nguyễn chiếm 38,4%, họ Trần 11%, họ Lê 9,5%, họ Hoàng 5,1%, họ Phạm 5%...); Lê Nguyễn Lưu (2006) phân tích ảnh hưởng của văn hóa gia tộc; Trần Quốc Vượng (2000) nghiên cứu quan niệm văn hóa về nhân danh; Phạm Ngọc Hàm (2008, 2017) khảo sát đối chiếu xưng vị và họ tên Hán - Việt dưới góc độ giao tiếp xã hội.
  • Nghiên cứu tên nhân vật văn học: Hoàng Kim Ngọc tiếp cận tên gọi dưới góc nhìn ngôn ngữ và văn hóa; Trần Duy Thanh khảo sát phương thức định danh nhân vật của nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các công trình tại Trung Quốc chỉ dừng lại ở khảo sát nội bộ văn học Trung văn (đồng đại hoặc lịch đại), ít mở rộng so sánh với văn học nước ngoài. Tại Việt Nam, các nghiên cứu tên nhân vật còn tản mạn, chủ yếu đi sâu vào từng tác giả đơn lẻ. Luận án của Phạm Hữu Khương là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam thực hiện đối chiếu song phương đặc điểm ngôn ngữ, tu từ học và nội hàm văn hóa của tên nhân vật văn học giữa các tác giả hiện thực tiêu biểu của hai nước Trung Quốc và Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Lý thuyết về họ tên và định danh (Danh xưng học):
    • Dựa trên các khái niệm trong Thuyết văn giải tự của Hứa Thận (phân tích chữ "Tính" 姓 từ bộ Nữ và bộ Sinh, chữ "Danh" 名 từ bộ Khẩu và bộ Tịch), Lễ ký, Thích danh, Chu lễ.
    • Khung lý thuyết định danh học của Mã Minh Xuân (Dẫn luận đặt tên học), phân tích 4 thuộc tính cốt lõi của định danh: thuộc tính chỉ xưng (tính chỉ đại, tính khu biệt, tính miêu tả), thuộc tính xã hội (tính giao tiếp, tính thời không), thuộc tính cấu trúc (ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, logic) và thuộc tính văn hóa. Đồng thời xem xét các yếu tố chủ quan (tâm lý dân tộc, đẳng cấp, kiêng kỵ) và khách quan (kinh tế, phong tục, lịch sử, tín ngưỡng).
  2. Ký hiệu học văn hóa (Cultural Semiotics):
    • Vận dụng quan điểm của Yuri Lotman (Trường phái Tartu – Moskva) về ký hiệu quyển (semiosphere), hệ thống mô thức hóa cấp hai (secondary modeling systems), văn bản văn hóa và ký ức tập thể. Tên nhân vật được xem xét như một ký hiệu văn hóa đa tầng bậc, kết nối giữa ngôn ngữ tự nhiên và cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm.
    • Tiếp thu các luận điểm của Cung Bành Trình (2009) trong Dẫn luận ký hiệu học văn hóa về mối quan hệ nhất thể giữa "văn tự — văn học — văn hóa".
  3. Lý thuyết hồi chỉ (Anaphora / Cùng sở chỉ):
    • Vận dụng phân loại của Từ Cữu Cữu (2003) gồm hồi chỉ số không (zero anaphora), hồi chỉ đại từ (pronominal anaphora) và hồi chỉ danh từ (nominal anaphora), kết hợp lý thuyết đồng sở chỉ của Nguyễn Thiện Giáp để xử lý các biến thể gọi tên cùng một nhân vật trong văn bản nghệ thuật (ví dụ: Chị Dậu — Lê Thị Đào — Mẹ thằng Dần trong tác phẩm của Ngô Tất Tố).
  4. Lý thuyết tu từ học:
    • Khảo sát các biện pháp tu từ định danh: hoán dụ (tính năng, bộ phận, dụng cụ thay cho chỉnh thể), so sánh/ẩn dụ, đối ngẫu, điệp tự, song quan (hài âm song quan, ngữ nghĩa song quan), phản ngữ (nói ngược thực tế phẩm chất/ngoại hình nhân vật), phỏng từ (mô phỏng từ vựng có sẵn).
  5. Ngôn ngữ học đối chiếu: So sánh cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa và văn hóa của hệ thống tên gọi giữa hai ngôn ngữ Hán - Việt.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thống kê: Thu thập và lập bảng thống kê số lượng âm tiết, thành phần cấu tạo, mô hình ngữ pháp và lý cứ định danh của 1.191 tên nhân vật.
  • Phương pháp miêu tả và phân tích: Miêu tả cấu trúc hình thái, phân tích ngữ nghĩa và các phương thức tu từ được các nhà văn sử dụng.
  • Phương pháp phân tích — quy nạp: Khái quát các giá trị văn hóa và chức năng nghệ thuật từ ngữ liệu khảo sát.
  • Phương pháp so sánh — đối chiếu: Chỉ ra các nét tương đồng và khác biệt về quy tắc đặt tên nhân vật giữa văn học Trung Quốc và Việt Nam.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp văn hiến, dẫn chứng, phân tích ngữ cảnh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu liên quan và cơ sở lý thuyết (相关研究综述及理论依据)

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận toàn diện cho việc phân tích ngữ liệu:

  • Trình bày lịch sử nghiên cứu họ tên và tên nhân vật văn học tại Trung Quốc và Việt Nam, chỉ ra các khoảng trống khoa học cần bổ khuyết.
  • Phân tích nguồn gốc chữ Hán của họ và tên, các nguyên tắc đặt tên truyền thống của hai dân tộc (tuân thủ trật tự dòng tộc, phối danh, âm dương ngũ hành, can chi, ước vọng tương lai).
  • Phác thảo bối cảnh lịch sử - xã hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: Các biến cố Chiến tranh Nha phiến (1840), Bách nhật Duy tân (1898), Cách mạng Tân Hợi (1911), phong trào Ngũ Tứ (1919) tại Trung Quốc và tình cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến tại Việt Nam. Phân tích sự chuyển biến từ văn ngôn sang bạch thoại, từ văn học cổ điển sang văn học hiện thực phục vụ nhân sinh.
  • Xác lập khung lý thuyết về định danh học (định nghĩa, 4 thuộc tính, nhân tố chế ước), khái niệm nhân vật văn học, lý thuyết ký hiệu học văn hóa của Yuri Lotman, lý thuyết hồi chỉ (đồng sở chỉ) và hệ thống các biện pháp tu từ trong định danh.
  • Giới thiệu khái quát tiểu sử sáng tác và phong cách nghệ thuật của 6 tác giả: Lỗ Tấn, Ba Kim, Lão Xá, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố.

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của việc đặt tên nhân vật trong tác phẩm văn học của Lỗ Tấn, Ba Kim, Lão Xá và Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố (鲁迅、巴金、老舍与南高、阮公欢、吴必素文学作品中人物命名的语言特点)

Chương 2 là trọng tâm khảo sát thực nghiệm ngôn ngữ của luận án với hệ thống 10 bảng biểu và 2 biểu đồ:

Hệ thống bảng số liệu thống kê trong Chương 2:
- Bảng 1: Thống kê số lượng âm tiết tên nhân vật của Lỗ Tấn, Ba Kim, Lão Xá (tr. 53)
- Bảng 2: Thống kê số lượng âm tiết tên nhân vật của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố (tr. 55)
- Biểu đồ 1: Biểu đồ số lượng âm tiết tên nhân vật văn học Trung - Việt (tr. 55)
- Bảng 3: Thống kê yếu tố cấu tạo tên nhân vật của Lỗ Tấn, Ba Kim, Lão Xá (tr. 56)
- Bảng 4: Thống kê yếu tố cấu tạo tên nhân vật của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố (tr. 57)
- Biểu đồ 2: Biểu đồ kết quả khảo sát yếu tố cấu tạo tên nhân vật Trung - Việt (tr. 58)
- Bảng 5 & 6: Khảo sát họ tên nhân vật trong tác phẩm của Lỗ Tấn, Ba Kim, Lão Xá (tr. 59-60)
- Bảng 7: Khảo sát họ tên nhân vật trong tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố (tr. 61)
- Bảng 8: Khảo sát xưng vị kèm theo tên nhân vật của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố (tr. 61)
- Bảng 9: Danh mục lý cứ định danh nhân vật của Lỗ Tấn, Ba Kim, Lão Xá (tr. 64)
- Bảng 10: Danh mục lý cứ định danh nhân vật của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố (tr. 69)

1. Khảo sát đặc điểm hình thái và cấu tạo

  • Số lượng âm tiết: Tác phẩm văn học Trung Quốc hầu như không xuất hiện tên nhân vật đơn âm tiết (chủ yếu là 2 đến 3 âm tiết, hoặc 4 âm tiết). Ngược lại, trong tác phẩm văn học Việt Nam, tên nhân vật đơn âm tiết chiếm tỷ lệ đáng kể (như Chí, Nở, Mễ, Dậu...).
  • Thành phần cấu tạo: Gồm các mô hình: Họ + Tên đầy đủ; chỉ dùng Tên; Phối danh + Tên (như Thị, Văn); Tiền tố xưng hô/tuổi tác (Lão, Tiểu, Đại) + Họ/Tên; Tên kèm chức vị xã hội; Ký hiệu phi danh tính hoặc hỗn danh (biệt hiệu).
  • Cấu trúc ngữ pháp của tên ghép: Phân hóa thành các mô hình: Đẳng lập (tịnh liệt), Phụ gia (kèm phụ tố), Chính phụ (định trung), Đồng vị.

2. Phân loại lý cứ định danh nhân vật

Luận án phân loại 10 nhóm lý cứ đặt tên chính trong tác phẩm của 6 tác giả:

  1. Tên phản ánh thân phận, địa vị xã hội, phẩm chất và tính cách nhân vật.
  2. Tên phản ánh diện mạo, đặc trưng ngoại hình sinh lý (như Thược khang ngũ thiếu gia, Lam bì A Ngũ...).
  3. Tên phản ánh bối cảnh và biến động thời đại.
  4. Tên thể hiện quan hệ huyết thống gia tộc và phân biệt giới tính.
  5. Tên mượn từ nhân vật lịch sử hoặc thần thoại.
  6. Tên phản ánh các quy chuẩn đạo đức phong kiến (tam cương ngũ thường).
  7. Tên lấy theo con số (thứ bậc sinh nở, tuổi tác, như Thất Cân, Bát Tam...).
  8. Tên mang màu sắc điển tích, tích truyện lịch sử.
  9. Tên lấy theo tên động vật, thực vật.
  10. Tên chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán địa phương (như tên Nhuận Thổ đặt theo ngũ hành thiếu thổ).

3. Phân tích các biện pháp tu từ định danh

  • Lỗ Tấn: Sử dụng triệt để biện pháp hài âm song quan và phỏng từ (như nhân vật Cao Nhĩ Sở 高尔础 trong Cao lão phu tử phỏng theo tên Maxim Gorky 高尔基; Uông Đắc Quý 汪得贵 chơi chữ đồng âm với Vọng Đắc Quý 望得贵; A Q tượng trưng cho sự mập mờ về lai lịch); thủ pháp phản ngữ (đặt tên Nhuận Thổ nhưng thực chất nghèo khó, không có đất canh tác); hoán dụ (Đậu phụ Tây Thi).
  • Ba Kim: Vận dụng nghệ thuật ám dụ và tượng trưng (trong tiểu thuyết Gia: Giác Tân, Giác Dân, Giác Tuệ biểu trưng cho sự thức tỉnh, dân chủ, trí tuệ; Minh Phụng biểu trưng cho số phận người phụ nữ); phản ngữ (Khắc An, Khắc Định mang tên bình an, ổn định nhưng bản chất lại ăn chơi trụy lạc, phá hoại gia đình).
  • Lão Xá: Khai thác tính nhịp điệu, đối ngẫu và sự phân hóa tầng lớp thị dân Bắc Kinh (Thụy Tuyên, Thụy Phong trong Tứ thế đồng đường; Âu Dương Thiên Phong trong Triệu Tử Viết).
  • Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố: Vận dụng nghệ thuật định danh hiện thực gắn với phong tục làng quê Việt Nam (Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến, Chị Dậu, Nghị Lại), sử dụng hỗn danh, hoán dụ ngoại hình và chức vị để lột tả mâu thuẫn giai cấp.

4. So sánh tương đồng và khác biệt

  • Tương đồng: Cả hai nền văn học đều sử dụng tên nhân vật như phương tiện điển hình hóa hình tượng; phản ánh sâu sắc dấu ấn ý thức hệ phong kiến, tôn ti trật tự gia tộc; tận dụng tối đa các thủ pháp tu từ (hoán dụ, phản ngữ, song quan) để tăng tính châm biếm và hiện thực.
  • Khác biệt: Văn học Trung Quốc lấy Họ (Tính) làm hạt nhân định danh cơ bản theo tập quán truyền thống, tỷ lệ sử dụng biệt danh/hỗn danh phức tạp hơn; trong khi văn học Việt Nam lấy Tên (Danh) hoặc toàn bộ Họ Tên làm đơn vị định danh cơ bản trong giao tiếp nghệ thuật. Văn học Việt Nam phổ biến tên đơn âm tiết kết hợp đại từ xưng hô thân tộc, trong khi văn học Trung Quốc mang tính đa âm tiết rõ rệt.

Chương 3: Hàm nghĩa văn hóa và chức năng nghệ thuật của việc đặt tên nhân vật trong tác phẩm văn học của Lỗ Tấn, Ba Kim, Lão Xá và Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố (鲁迅、巴金、老舍与南高、阮公欢、吴必素文学作品中人物命名的文化内涵及功能)

1. Nội hàm văn hóa của tên nhân vật (8 bình diện)

  1. Quan hệ huyết thống dòng tộc: Phản ánh cấu trúc đại gia đình phụ quyền, vai vế thứ bậc thông qua hệ thống chữ lót, tên đệm đồng dạng.
  2. Quan niệm văn hóa nông nghiệp: Tên gọi gắn liền với mùa vụ, đất đai, cây trồng, vật nuôi của cư dân nông nghiệp lúa nước/trồng trọt.
  3. Quan hệ giữa con người với âm dương ngũ hành: Đặt tên bổ khuyết hành bị thiếu trong bát tự (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ).
  4. Tu dưỡng đạo đức truyền thống: Tên mang các giá trị Nho giáo (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Trung, Hiếu).
  5. Quan niệm phân biệt nam nữ: Thể hiện qua sự phân hóa từ vựng (nam giới dùng từ cương trực, mạnh mẽ, chí hướng; nữ giới dùng từ cỏ cây, hoa lá, ngọc ngà hoặc các định danh phụ thuộc).
  6. Văn hóa tín ngưỡng dân gian: Tên gọi gắn với điềm lành, trừ tà, kiêng kỵ ma quỷ (đặt tên xấu để dễ nuôi).
  7. Sự biến thiên của thời đại: Tên gọi phản ánh các trào lưu tư tưởng dân chủ, duy tân, cách mạng đầu thế kỷ XX.
  8. Văn hóa chữ Hán: Khai thác cấu trúc tượng hình, bộ thủ, số nét và cách đọc biểu ý của văn tự Hán trong sáng tạo nghệ thuật.

2. Chức năng nghệ thuật của tên nhân vật

  • Truyền tải nội dung tư tưởng: Tên gọi là công cụ gián tiếp thể hiện thái độ phê phán, đồng cảm, châm biếm của tác giả đối với hiện thực xã hội.
  • Phương tiện khắc họa tính cách và số phận nhân vật: Tên nhân vật dự báo trước số phận bi kịch hoặc làm nổi bật bản chất giai cấp của nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Bổ sung và hoàn thiện khung lý thuyết định danh học và ký hiệu học văn hóa ứng dụng vào văn bản nghệ thuật, chứng minh tên nhân vật là một đơn vị ký hiệu học phi võ đoán, mang tính tạo hình và tính tư tưởng cao.
  • Xây dựng mô hình phân loại lý cứ định danh và các biện pháp tu từ đặt tên áp dụng cho việc phân tích tác phẩm văn xuôi hiện thực phương Đông.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu định lượng gồm 1.191 tên nhân vật trong 249 tác phẩm của 6 tác giả hiện thực tiêu biểu của Trung Quốc và Việt Nam, với 10 bảng phân loại chi tiết.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu so sánh văn học, ngôn ngữ học đối chiếu Hán - Việt, lý thuyết dịch thuật văn học và công tác giảng dạy Hán ngữ/Việt ngữ học tại các trường đại học.
  • Đưa ra các kiến giải giúp độc giả tiếp cận sâu sắc hơn về nghệ thuật xây dựng nhân vật và dụng ý nghệ thuật của các nhà văn hiện thực đầu thế kỷ XX.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi 6 tác giả hiện thực tiêu biểu của giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX (thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết), chưa mở rộng khảo sát các thể loại khác như kịch bản văn học, thơ ca, hoặc các giai đoạn văn học đương đại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi đối chiếu sang các thể loại văn học khác hoặc khảo sát hệ thống tên nhân vật trong văn học mạng, văn học đương đại Trung - Việt.
    • Ứng dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận và ngữ dụng học để phân tích sâu hơn cơ chế thụ cảm tên nhân vật từ góc độ người đọc.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị thiết thực cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Hán ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Văn học Trung Quốc, Văn học Việt Nam và Văn hóa học phương Đông.
  • Người làm công tác biên phiên dịch: Cung cấp hiểu biết sâu sắc về lý cứ văn hóa và thủ pháp tu từ đằng sau tên nhân vật, hỗ trợ việc chuyển ngữ tên riêng trong tác phẩm văn học Trung - Việt đạt tính chính xác và bảo tồn giá trị nghệ thuật.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa và dân tộc học: Cung cấp nguồn tư liệu phong phú về tập quán đặt tên, văn hóa gia tộc và tâm lý xã hội hai nước trong thời kỳ cận hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát bao nhiêu tác giả và dung lượng ngữ liệu cụ thể là bao nhiêu?

Luận án khảo sát 6 tác giả văn học hiện thực tiêu biểu thời kỳ hiện đại của Trung Quốc và Việt Nam, gồm 249 tác phẩm với tổng số 1.191 tên nhân vật:

  • Phía Trung Quốc: Lỗ Tấn (35 tác phẩm, 155 nhân vật), Ba Kim (40 tác phẩm, 144 nhân vật), Lão Xá (40 tác phẩm, 383 nhân vật) — Tổng: 115 tác phẩm, 682 nhân vật.
  • Phía Việt Nam: Nam Cao (45 tác phẩm, 244 nhân vật), Nguyễn Công Hoan (54 tác phẩm, 165 nhân vật), Ngô Tất Tố (35 tác phẩm, 100 nhân vật) — Tổng: 134 tác phẩm, 509 nhân vật.

2. Sự khác biệt cơ bản nhất về cấu trúc âm tiết và thành phần họ tên giữa nhân vật văn học Trung Quốc và Việt Nam là gì?

Về mặt âm tiết, tên nhân vật trong văn học Trung Quốc mang tính đa âm tiết (hầu như không có tên đơn âm tiết, phổ biến là 2-3 âm tiết), trong khi văn học Việt Nam có tỷ lệ tên đơn âm tiết rất cao. Về mặt cấu tạo xã hội, tác phẩm Trung Quốc tuân thủ truyền thống lấy Họ (Tính) làm thành phần định danh cơ bản; ngược lại, tác phẩm Việt Nam lấy Tên (Danh) hoặc toàn bộ Họ Tên kết hợp xưng vị thân tộc làm thành phần định danh cơ bản trong tác phẩm.

3. Những biện pháp tu từ nào được các nhà văn sử dụng phổ biến nhất khi đặt tên nhân vật?

Các nhà văn sử dụng đa dạng các biện pháp tu từ gồm: Hoán dụ (lấy đặc điểm ngoại hình, dụng cụ, chức vị thay cho tên), So sánh/Ám dụ (lấy tên biểu trưng cho tư tưởng hoặc số phận), Phản ngữ/Châm biếm (đặt tên mang ý nghĩa tốt đẹp nhưng bản chất nhân vật ngược lại), Hài âm song quan (chơi chữ đồng âm để tạo nghĩa bóng), Phỏng từ (mô phỏng theo tên người nổi tiếng hoặc nhân vật có sẵn), Đối ngẫu và Điệp từ.

4. Tên nhân vật phản ánh nội hàm văn hóa qua những bình diện chính nào?

Luận án chỉ ra 8 bình diện văn hóa chính:

  1. Quan hệ huyết thống dòng tộc và trật tự gia đình phụ quyền.
  2. Quan niệm văn hóa nông nghiệp lúa nước và trồng trọt.
  3. Mối quan hệ giữa con người với quy luật âm dương ngũ hành.
  4. Chuẩn mực tu dưỡng đạo đức Nho giáo truyền thống.
  5. Quan niệm phân biệt nam nữ và thẩm mỹ giới tính.
  6. Tín ngưỡng dân gian và các quan niệm kiêng kỵ.
  7. Biến thiên lịch sử và các luồng tư tưởng mới của thời đại.
  8. Đặc trưng ngữ văn và cấu trúc chữ Hán biểu ý.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Hữu Khương là công trình nghiên cứu chuyên sâu, đối chiếu toàn diện hệ thống tên nhân vật giữa văn học hiện thực Trung Quốc và Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Thông qua việc phân tích ngữ liệu định lượng quy mô lớn trên nền tảng lý thuyết danh xưng học, ký hiệu học văn hóa và tu từ học, luận án đã làm sáng tỏ các quy luật ngôn ngữ, lý cứ định danh và nội hàm văn hóa dân tộc của tên gọi nhân vật. Công trình đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho nghiên cứu Hán ngữ học, ngôn ngữ học đối chiếu và giảng dạy ngôn ngữ - văn hóa Hán - Việt.