phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung chính của khóa luận được chia thành 03 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương - Con người và thời đại 14 Chƣơng 2: Biểu hiện “cái tôi” trữ tình trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương - Từ góc nhìn so sánh Chƣơng 3: Phương thức nghệ thuật thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương - Từ góc nhìn so sánh 15 Chƣơng 1 NGUYỄN KHUYẾN, TRẦN TẾ XƢƠNG - CON NGƢỜI VÀ THỜI ĐẠI 1. ối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX 1. Xã hội nửa thực dân, phong kiến đầy biến động Việt Nam vào những thập niên cuối thế kỉ XIX là một thời kỳ lịch sử rối ren, phức tạp với các thể chế chính trị nửa thực dân, phong kiến cùng với các ý thức hệ “nhập nhằng” xuất hiện. Cái cũ truyền thống chưa mất đi, cái mới “nhố nhăng” lại tràn vào xã hội, tạo nên một xã hội đầy biến động mới - cũ, Tây - ta hỗn loạn.
Một vấn đề lớn đặt ra cho sự sống còn của đất nước khi thực dân Pháp tiến quân xâm lược nước ta là canh tân cải tổ đất nước hay thủ cựu giữ. Tuy nhiên, các triều đại phong kiến nhà Nguyễn vẫn giữtư tưởng thủ cựu, lo chăm chút, xây dựng cung điện, “trọng nông, ức thương”, cho phương Tây là “ngoại di”, hơn là cải tổ, canh tân đất nước, điều đó đã dẫn đến việc nước ta rơi vào tay chủ nghĩa thực dân. Những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, chế độ phong kiến của nhà Nguyễn hoàn toàn sụp đổ kéo theo sự sụp đổ của ý thức hệ Nho giáo. Nho giáo với tư tưởng trung quân, ái quốc “Sống thờ vua, thác cũng thờ vua” (Nguyễn Đình Chiểu) đã tồn tại qua bao thế hệ nhà Nho ở Việt Nam.
Thế nhưng, khi gót giày xâm lược thực dân Pháp vào Việt Nam mang theo nền văn minh của khoa học kỹ thuật và tư tưởng cá nhân chủ nghĩa đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Việt Nam. Triều đình hỗn loạn, vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, nhà Nguyễn chính thức làm bù nhìn, làm tay sai cho giặc. Tư tưởng trung quân, ái quốc giờ đây rơi vào khủng hoảng trầm trọng, vua không còn tận trung với nước, triều đình không còn chăm lo đến đời sống của nhân dân. Đứng trước cảnh quân giặc làm càn trên đất mẹ, triều đình nhà Nguyễn lại 16 không xuất binh kháng Pháp, các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng… phải đi tìm một con đường mới để mong thoát khỏi những bế tắc hiện tại.
Những cuộc khởi nghĩa tự phát của nhân dân nổ ra rồi cũng lụi dần, sự khủng hoảng về mặt tư tưởng sâu trong lòng xã hội ngày càng bộc lộ rõ nét hơn. Những biến động của xã hội và sự khủng hoảng, suy vong của ý thức hệ Nho giáo khiến nhà nho hoang mang, nhận thức về nhân cách của họ cũng dần có sự thay đổi. Xã hội thực dân tư sản dần thay thế xã hội phong kiến cũ, nho phong tàn tạ, sĩ khí tiêu tán, bút lông hết thời… Thực dân Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, cơ bản bình định xong về mặt quân sự, tiếp đến chúng xây dựng một trật tự xã hội mới. Bộ máy cai trị được tổ chức theo lối hiện đại hơn, chặt chẽ hơn và có quyền lực hơn, chi phối toàn diện mọi hoạt động xã hội.
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật dẫn đến sự phá sản của những hoạt động mang tính thủ công, tạo nên một nguồn nhân công rẻ mạt dồi dào phục vụ cho các công trình khai thác của chúng. Đi kèm là chính sách sưu cao thuế nặng cùng với những luật lệ hà khắc của bộ máy quan liêu thống trị. Đó cũng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn sâu sắc giữa người với người chốn thành thị và nông thôn, giữa giai cấp tư bản và phong kiến. Chế độ thực dân nửa phong kiến hình thành đã kìm hãm sự phát triển của đất nước bởi một mặt, giao thông, buôn bán, kinh tế hàng hóa phát triển tạo nên một thị trường sôi động khắp cả nước, mở rộng giao lưu với thị trường quốc tế, mặt khác, Pháp lại dựng lên một hàng rào thuế quan làm cho Việt Nam hoàn toàn bị phụ thuộc vào nước mẹ Đại Pháp.
Với sự hà khắc của những chính sách kinh tế do Pháp đặt ra, nước ta vừa trở thành một nơi cung cấp nguồn nguyên liệu hàng xuất khẩu cho thương nghiệp Pháp, vừa trở thành một thị trường tiêu thụ những sản phẩm ế thừa cho chúng. 17 Chế độ thuộc địa dẫn tới sự hình thành một thành phần mới trong xã hội - tay sai của thực dân. Đầu tiên là đội ngũ nhân công bản xứ, tiếp đến là những kẻ làm trong bộ máy cai trị thực dân, nào là thông ngôn, ký lục phụ trách việc giao thiệp giấy tờ, rồi đến các me Tây, thầu khoán… tất cả tập hợp lại thành tầng lớp thị dân xoáy trong vòng quay quân xâm lược. Chứng kiến biến động toàn cảnh của xã hội, lớp nhà nho trong giai đoạn này đã bộc lộ thái độ của mình một cách thẳng thắn, dù thất thế nhưng vẫn quyết liệt phản kháng, phản kháng bằng hành động và bằng ngòi bút sáng tác văn chương.
Tuy nhiên, ưu thế của tinh thần dân tộc và đạo nghĩa thánh hiền vẫn không thể nào lấn át nổi những biến đổi nhanh chóng của xã hội thực dân nửa phong kiến, những nhà nho chấp nhận sự thất thế của mình trước cuộc đổi thay từ trước đến nay chưa từng chứng kiến. Cuộc sống không còn bó hẹp trong khuôn khổ cũ mà trở nên đa dạng hơn. Chính trị, kinh tế, văn hóa của dân tộc đã và đang thay đổi. Văn hóa hiện đại từ phương Tây tràn vào, trộn lẫn với văn hóa truyền thống tạo nên một thứ văn hóa lai căng Tây ta lẫn lộn.
Đó là một xã hội mà theo GS. Trần Đình Huợu: “Sự êm ấm của lòng từ hiếu, cung thuận trong gia đình không giữ được gia đình, cha mẹ, tình làng xóm quê hương với cái rộn ràng của học hệ đình đám không giữ được chân chàng trai sau lũy tre xanh. Bước ra ngoài khuôn khổ cuộc sống chật hẹp, yên lặng, họ hàng, làng mạc, người ta phải tỉnh táo, vật lộn trong tình thế “khôn sống mống chết” của một quan hệ lạnh lùng “tiền trao cháo múc”. Người ta phải tự ý thức, phải sống, phải suy nghĩ, ước mơ cho riêng mình trong những điều kiện của một xã hội rộng lớn” [29, tr.
Cái xã hội đi vào hỗn độn, xô bồ, mọi kỷ cương, trật tự đều bắt đầu bung bứt, cái xã hội thị thành ngày càng lộ dần “nguyên hình” với tất cả những nhố nhăng kệch cỡm. Sự biến đổi xã hội dẫn đến sự thay đổi trong nhận thức của người dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức Nho học. Trước thực trạng này, nhiều nhà nho vô 18 cùng đau xót. Xót xa nhưng bất lực, chỉ biết gửi tâm sự vào những trang thơ.
Hiện thực xã hội là những nhân tố khách quan dẫn đến tiếng cười chua chát ẩn chứa bao nỗi xót xa của các nhà nho - nhà thơ trong buổi giao thời giữa hai hình thái ý thức xã hội phong kiến và tư bản thuộc địa ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX. Nguyễn Khuyến, Tú Xương - những nhà nho cuối mùa của chế độ phong kiến Nguyễn Khuyến thường được gọi là ông Nghè Và hay Tam Nguyên Yên Đổ, hiệu là Quế Sơn, sinh năm 1835, trước tên là Nguyễn Tất Thắng, người làng Yên Đổ tục gọi là làng Và (sau này là làng Vị Hạ), huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Tổ phụ là Nguyễn Mại đậu Tiến sĩ sung chức Hiến Sát Sứ triều Lê. Thân phụ ông là Nguyễn Lệ đậu 3 khoa Tú Tài, gần 40 tuổi mới sinh hạ ra ông.
Từ nhỏ đã rất thông minh và chăm học, nổi tiếng thần đồng. Năm 12 tuổi đã thuộc Kinh Sử, 14 tuổi văn lý đã thông, 15 tuổi đỗ đầu kỳ hạch tỉnh. Hai năm sau sửa soạn thi Hương thì thân phụ mất phải ở nhà cư tang. Sau đó cửa nhà sa sút túng thiếu lại rủi mấy khoa thi Hương sau đều rớt nên phải đi dạy học để độ nhật.
Hoàng Giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị mến tài chu cấp cho ăn học. Năm 1864 đỗ Giải Nguyên trường Hà Nội nhưng năm sau thi Hội trượt, rồi lại hỏng luôn hai khoa nữa nên đổi tên là Nguyễn Khuyến để tự răn mình. Đến khoa thi năm 1871 ông mới đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên Hoàng Giáp. Lúc đầu, Nguyễn Khuyến được sơ bổ Nội Các Thừa Chỉ rồi làm Đốc Học Thanh Hóa, tiếp đó được thăng Bố Chánh Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Ông chính sự cần mẫn, thanh liêm lại có tài thao lược trong nhiều vụ tiêu trừ giặc giã. Một lần ông dâng sớ xin về hưu nhưng vua Tự Đức không chấp thuận, triệu về kinh làm Sử Quán Toản Tu. Năm 1882, Pháp lấy cớ thông thương uy hiếp Hà Nội, ông được cử làm Thương Biện lo việc giao thiệp và thương 19 thuyết với Pháp. Sau đó sung chức Tổng Đốc Sơn - Hưng - Tuyên.
Tình hình trong nước lúc đó rất nguy ngập, Pháp hạ thành Hà Nội năm 1883. Năm sau, 1884 vua Tự Đức băng hà triều đình Huế phải ký hòa ước Patenôtre công nhận cho Pháp quyền bảo hộ Bắc và Trung Kỳ. Năm 1885 Nguyễn Khuyến lấy cớ đau mắt cáo quan xin về quê sống đời thanh bần nông thôn. Sau khi bình định các nơi, Pháp tìm cách mua chuộc sĩ phu để thu phục nhân tâm nên ủy cho Hoàng Cao Khải rồi Vũ Văn Báo nhiều lần mời Nguyễn Khuyến ra làm quan nhưng ông nhất định khước từ.
Nguyễn Khuyến làm quan lúc vận nước rơi vào tay giặc, các phong trào yêu nước lần lượt bị dập tắt, cơ đồ nhà Nguyễn gần như sụp đổ hoàn toàn nên ông không thực hiện được lý tưởng xây dựng đất nước tốt đẹp như ông hằng mơ ước. Không thay đổi được thế cục, cũng không thể thỏa hiệp với thực dân, ông bất mãn, u uất, chán nản chọn con đường lánh đục khơi trong như bao ẩn sĩ khác. Cáo quan về ở ẩn, “minh triết bảo thân” là con đường mà các nhà nho tiền bối vẫn từng làm. Nguyễn Khuyến cũng theo con đường ấy để giữ trọn khí tiết bằng sự lựa chọn về nơi chốn làng quê yên ả làm một dật dân, ẩn sĩ.
Sinh ra sau Nguyễn Khuyến 35 năm, nhưng lớn lên và phải chứng kiến bao điều nhố nhăng của xã hội Thực dân nửa phong kiến, Tú Xương gần như là chứng nhân của thời đại ấy.