Chương 1: TONG QUAN VE HÌNH ANH KE XÂM LƯỢC, ĐÔ HO TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI VÀ HÌNH ANH KE XÂM LƯỢC, ĐÔ HỘ TRONG VAN HỌC VIỆT NAM THE KỶ X - XIV Nghiên cứu về hình ảnh kẻ xâm lược, đô hộ trong văn học Việt Nam nói chung và văn học Việt Nam trung đại nói riêng trước hết cần phải làm rõ về quan niệm kẻ xâm lược, đô hộ dé xác lập ranh giới tương đối giữa ta và kẻ khác. Điều đó ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của các tác giả trong việc thể hiện hình ảnh của kẻ xâm lược, đô hộ trong các tác phẩm văn học cũng như việc tiếp nhận của con người trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội đương thời. Bên cạnh đó, quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam trung đại cũng có sự ảnh hưởng lớn đến cách thể hiện hình ảnh kẻ xâm lược, đô hộ. Những “con người ấy” đứng ở phía kẻ khác nên tất yếu sẽ được xây dựng bởi nghệ thuật khắc họa kiều nhân vật phản diện trong tác phẩm văn học.
Việc tìm hiểu những quan niệm trên và một số đặc điểm khái quát của hình ảnh kẻ xâm lược, đô hộ trong văn học Việt Nam thế kỷ X - XIV được làm rõ trong chương | của luận văn là cơ sở quan trọng để khảo cứu, so sánh qua các sáng tác của các tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam từ thé kỷ XV - XIX trong các chương 2 và chương 3. Giới thuyết về quan niệm ké xâm lược, đô hộ trong văn học Việt Nam trung đại Khối cộng đồng người Việt trước kia vốn đã khá chặt chẽ từ thời Văn Lang - Âu Lạc, lại càng được củng cô một cách vững chắc khi trải qua thời kì dau tranh rat dài chong ách thống trị của phong kiến phương Bắc. Cũng vì vậy, kể từ chiến thang Bạch Đăng của Ngô Quyền năm 938, sau khi giành được độc lập thì ý thức về một đất nước thống nhất đã được thể hiện khá rõ. Theo chúng tôi, van đề về ké xâm lược, đô hộ chỉ có thé được hình dung một cách rõ nét nhât trong môi quan hệ với vân đê quốc gia, dân tộc.
14 Từ thời xa xưa, trong các huyền thoại của văn học dân gian, chúng ta có thé thấy khái niệm quốc gia hay dân tộc chưa xuất hiện mà chỉ có sự hình thành của các fộc người. Tác giả Lu Thị Thanh Lê dựa vào từ điển Britannica trong bài viết Giá tri của các huyện thoại về nguôn gốc tộc người trong việc củng cố cộng đồng tộc người và cộng đồng quốc gia ở Việt Nam đăng trên Tạp chí Khoa hoc và Công nghệ Việt Nam thang 12 năm 2016 đã định nghĩa fôc người (ethnic group) là một nhóm xã hội hoặc một cộng đồng dân cư được phân biệt với các nhóm khác trong một xã hội lớn hơn và gắn bó mật thiết với nhau vì những sự gần gũi về chủng tộc, ngôn ngữ, hoặc văn hóa. Tộc người thường mang tính huyết thống. Những người thuộc cùng một tộc thì có một tổ tiên chung, dù tổ tiên đó có thực hay hư cấu.
Người Việt khang định niềm tin vào gốc gác là con cháu vua Hùng của mình và nguồn gốc con rồng cháu tiên vốn chỉ là một huyền thoại của người Việt lại trở thành đại diện chung cho nguồn gốc của toàn thê dan tộc Việt Nam. Về sự phát triển từ cộng đồng rộc người đến cộng đồng quốc gia, trong bài viết “Moi quan hệ giữa tộc người và cộng đồng quốc gia dân tộc trong lịch sử”, Đặng Nghiêm Vạn cho răng, lịch sử nhân loại đã chứng kiến sự diễn tiến của các cộng đồng, từ cộng đồng thị tộc bộ lạc, tới cộng đồng của quốc gia một tộc người và quốc gia đa tộc người; “cấu thành của quốc gia là sự hợp nhất của những nhóm người có nguồn gốc khác nhau, được hình thành trên một lãnh tho nhất định ” [54, tr. Cũng theo tác giả bài viết, Việt Nam đã có sự hình thành của các cộng đồng tộc người thời nguyên thủy và tới khoảng trước thế kỷ XIX, quốc gia Việt Nam đa tộc người đã được hình thành và các tộc người đều chịu sự chi phối của một quốc gia với tư cách một tô chức chính trị - xã hội. Vi vậy, khi khái niệm toc người, dân tộc hay quốc gia được hình thành thì tinh chất của nó chắc chăn sẽ mang nghĩa phân biệt giữa ta với kẻ khác, thé hiện quan hệ so sánh giữa ta với kẻ khác, giữa những người tự xem mình là một 15 cộng đồng với nhiều điểm chung và lại có sự khác biệt với nhóm người khác.
Trong cộng đồng người với niềm tin rằng có nhiều điểm chung ấy sẽ hình thành tình cảm hay tinh thần dân tộc; là tình cảm trung thành, tình yêu, sự gắn bó với dân tộc mình. Tình cảm này được hình thành nhờ những yếu tố chung như nguôồn gốc và đặc điểm nhân chủng, lịch sử chung, cùng khu vực cư trú, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo. Đó là những yếu tố khiến các cá nhân cảm thấy giống nhau, gắn bó với nhau trong cộng đồng. Tinh cảm dân tộc có thé được nhận thay thông qua quá trình cố kết dân tộc và quốc gia thành những cộng đồng khác nhau, thông qua những mối quan hệ khác nhau giữa người cùng dân tộc với người khác dân tộc và thông qua bản sắc dân tộc.
Từ đó, hình thành những tư tưởng về quyên tự quyết, quyền tự trị, quyền bảo vệ bản sắc và các giá tri riêng của mỗi dân tộc. Có thể nói, quá trình thống nhất quốc gia gắn liền với các tên tuéi của các nhân vat lịch sử, chống lại sự bành trướng của Trung Quốc hay đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, dé quốc cũng từng xuất hiện trong văn học Việt Nam đã một lần nữa củng cô niềm tin về tỉnh thần dân tộc của nhân dân ta. Benedict Anderson trong cuốn Những cộng dong tưởng tượng - Suy nghĩ về nguồn góc và sự lan truyén của chủ nghĩa dân tộc đã đưa ra khái niệm dan tộc là một cộng dong tưởng tượng, không phải là một dan tộc không có thực, bia đặt; mà là một quốc gia thường được xây dựng trong một quá trình phổ biến, thông qua đó, công dân của quốc gia đó cùng nhau chia sẻ niềm tin, thái độ, nhận thức về một cộng đồng quốc gia dân tộc chung, một quốc tịch chung, mặc dù họ có thé không hề gặp nhau, không biết mặt nhau. Từ van dé sự hình thành của /ôc người, dân tộc hay quốc gia, chúng ta có thể hiểu ké xâm lược là nhóm người thuộc cộng đồng của kẻ khác, không có chung niềm tin, không có sự gan gũi về chủng tộc, ngôn ngữ, hoặc văn hóa; không thuộc cùng một vùng lãnh thé (chủ yếu được phân định ranh giới bằng niềm tin về những điểm chung giữa một cộng động người) nhưng kẻ khác ay 16 lại thực hiện âm mưu bảnh trướng, mở rộng lãnh thổ của họ bằng việc đem quân lính được trang bị vũ khí để cướp đất đai vốn không phải của mình theo sự phân chia về ranh giới; can thiệp vào quyền tự chủ, tự trị, tự quyết của dân tộc; thậm chí thực hiện hành vi chém giết Con người bằng nhiều cách thức khác nhau với mục đích cướp bóc, vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động của con người ở dân tộc bị xâm lược, đô hộ.
Đặc biệt, dựa trên bao lực và xâm chiếm lãnh thé, kẻ xâm lược, đô hộ thực hiện việc cwdng bức van hóa, áp đặt phong tục, buộc dan téc bị xâm chiếm phải sử dung văn hóa của nước đi xâm lược dé thay thé văn hóa gốc, nhằm đi đến đồng hóa văn hóa. Sau khi xâm /ược được quốc gia khác, kẻ xâm lược sẽ thực hiện chính sách đó hộ - tức là cai trị, bóc lột sức lao động, vơ vét tai nguyên, tàn sát áp bức con người, cưỡng bức văn hóa, mở rộng phạm vi ảnh hưởng của nước mình đến các nước vừa chiếm được: “Ban chất của quá trình đồng hóa thé hiện đặc biệt rõ khi các nhóm cư dân khác nhau về nguồn gốc, ngôn ngữ và văn hóa tiếp xúc với nhau từng là đại biểu hay từng nhóm của một tộc người nào đó (có khi là toàn bộ tộc người) sống giữa một tộc người khác; do tiếp xúc lâu dài với tộc người khác đó mà mat dan những đặc điểm của minh trong lĩnh vực sinh hoạt của văn hóa tộc người, du nhập dân văn hóa của tộc người khác kia, tiếp thu ngôn ngữ của họ và không còn coi mình thuộc về cộng dong tộc người cũ nữa. 73] Nếu như lãnh thé quốc gia là sự tồn tại hữu hình của dân tộc, cho phép chúng ta nhìn thấy vị trí địa lý của một dân tộc nảy trong tương quan với các dân tộc khác với những đường biên giới như là hàng rào phân cách giữa các quốc gia-dân tộc, minh định ranh giới giữa cộng đồng này với cộng đồng khác thì văn hóa là sự tồn tại vô hình của mỗi quốc gia-dân tộc, là sự phản ánh dân tộc trên phương diện tinh thần. Những người sống trong mỗi cộng đồng khác nhau (dân tộc) không chỉ tự nhận thức mình là cư dân của một vùng đất xác 17 định mà là tự nhận thức mình là người được sinh ra, được nuôi dưỡng và thuộc về một nền văn hóa riêng của cộng đồng dân tộc mình.
Nếu như biên giới là một hàng rào hữu hình phân định lãnh thổ các quốc gia-dân tộc thì văn hóa, thông qua ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống. gắn liền với mỗi con người, tạo nên một hàng rào vô hình phân định dân tộc này với dân tộc khác. Do đó, bảo vệ độc lập quốc gia-dân tộc không chỉ là sự bảo toàn nguyên vẹn lãnh thổ và chủ quyền mà còn là bảo toàn sự độc lập và tính đặc sắc văn hóa của dân tộc mình. “Quá trình hình thành quốc gia-dân tộc gắn liền với quá trình tạo dựng nên các ý niệm, nhận thức vỀ sự tôn tại của quốc gia-dân tộc đó, trong đó lịch sự của mỗi dân tộc được viết lại, lưu giữ và truyền tải trong cộng đồng, qua các thế hệ.
Đối với một quốc gia-dân tộc thì vấn đề bản sắc văn hóa chiếm một vị trí quan trọng, là dấu hiệu phân biệt quốc gia-dân tộc này với quốc gia dân tộc khác ” [22.