Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ NÔM NGUYỄN BỈNH KHIÊM 1. Cảm thức thời gian trong sáng tác văn chương trung đại 1. Giới thuyết chung về cảm thức thời gian Thời gian là một đại lượng tồn tại khách quan, được vận hành theo một quy trình bất biến: sáng đến trưa, ngày qua đêm, tháng đến năm, mùa, vụ… Con người quen tri giác thời gian như trật tự vốn có của nó; tri giác thời gian theo kiểu tuyến tính và in vào nhận thức, lời nói hàng ngày như: trước - sau, tiền - hậu, đầu – đuôi, thủy – chung… Thời gian không phải là yếu tố duy nhất hé mở đời sống thế giới tâm hồn con người. Bên cạnh thời gian bao giờ cũng tồn tại một không gian nhất định.
Sự tồn tại của con người hiển nhiên không thể được đặt ngoài vòng thời gian và khoảng không gian nhất định. Thời gian hiện hữu đó luôn dung chứa thế giới con người với các hiện tượng tự nhiên, xã hội… Không một ai có thể đứng ngoài bước đi của thời gian; không một ai không có đôi lần nhìn thời gian trôi theo cảm nhận cá nhân chậm hay nhanh, dài hay ngắn, từ đó bản thân cảm nhận dòng đời trôi qua ngắn ngủi hay đằng đẵng… Đó chính là ý thức trước dòng chảy thời gian theo cảm xúc chủ quan và nó trở thành một hiện tượng mang tính phổ quát trong hiện thực cũng như trong sáng tác nghệ thuật. Việc xem xét đánh giá những biểu hiện nhận thức trước các dòng chảy thời gian được chuyển hóa trong cảm xúc ý thức của chủ thể trữ tình qua sáng tác nghệ thuật thực sự có ý nghĩa không kém phần quan trọng khi muốn phát họa hoàn chỉnh chân dung của người nghệ sĩ. Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt: “Thời gian là một phạm trù triết học, cùng với không gian là hình thức tồn tại của vật chất, của thế giới.
Không có sự vật hiện tượng nào tồn tại ngoài nó, chỉ trong thời gian và không gian thì sự vật mới có tính xác định”[84; 52]. Theo đó, danh từ “thời gian” được hiểu là một đại lượng tồn tại khách quan quan trọng của mọi vật chất, mọi sự vật hiện tượng trong cuộc 17 sống. Có thể khẳng định, mọi sự vật hiện tượng không thể tồn tại ngoài thời gian. Sử dụng yếu tố thời gian để lý giải nhiều khía cạnh khác nhau của con người, cuộc đời được xem là một phương tiện cần thiết.
Không chỉ là đại lượng trôi đi theo chiều tuyến tính giản đơn để chỉ dòng chảy cuộc đời đi qua, thời gian với các “chiều kích” quá khứ, hiện tại, tương lai đều có thể trở thành những cảm nhận khác nhau ở từng tâm trạng của mỗi cá nhân. Cảm thức là cách con người nhận thức, đánh giá xem xét một vấn đề trong cuộc sống bằng con mắt chủ quan, bằng cảm nhận của chính mình chứ không phải của ai khác. Với ý nghĩa đó, có thể hiểu cảm thức thời gian thể hiện trong văn chương nghệ thuật nói chung, trong thơ nói riêng là thời gian khách quan mang tính chủ quan. Thời gian ấy khi đi vào tác phẩm nghệ thuật đã được đi qua “bộ lọc” cảm xúc và nhận thức chủ quan của cá nhân người nghệ sĩ.
Người ta có thể thấy, thời gian đi nhanh như thoi đưa hoặc chậm trôi qua đến nỗi như nghìn thu… “Ngày vui ngắn chẳng tày gang” hoặc “Ba thu dồn lại một ngày dài ghê”… khi chủ thể trữ tình mang nặng tâm tư trước thời gian khách quan. Dòng thời gian trôi chảy nhanh chậm phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố tâm lý của người cảm nhận. Con người thông qua cách cảm nhận về thời gian để trình bày quan niệm, sự hiểu biết, đánh giá của mình về cuộc đời, về cái đã qua, đang đến và cái sắp đến. Thời gian trong sáng tác nghệ thuật được cảm nhận không chỉ bằng các đại lượng vật lý thông thường như giây, phút, ngày, tháng, năm… mà còn bằng “đong đầy” chính cảm xúc mang rất rõ yếu tố chủ quan của người nghệ sĩ.
Thời gian không còn là một khái niệm trừu tượng mà có khi tồn tại dưới dạng cụ thể như hương vị, màu sắc, vật thể hiện hữu trong nhiều chiều kích khác nhau. Với những sáng tác của truyện cổ dân gian, tác giả dân gian thường xây dựng câu chuyện theo dòng chảy thời gian tuyến tính, sắp xếp kết cấu truyện theo một trật tự nhất định theo dòng chảy đời người: sinh ra, bắt đầu (quá khứ), diễn biến, hành trạng (hiện tại) rồi đến kết cục, kết quả (tương lai); Trong ca dao, thời gian phiếm chỉ được tác giả dân gian vận dụng theo mô tuýp “ngày ngày”, “chiều chiều”, “đêm đêm”, 18 “Chiều chiều ra đứng ngõ sau; Chiều chiều lại nhớ chiều chiều”… để diễn tả cảm xúc chung mang tính cộng đồng của chủ thể trữ tình. Trong sáng tác nghệ thuật cá nhân, thời gian thể hiện diễn biến theo quy trình tâm lý con người. Thời gian trong cảm thức của con người như một cơ thể sống với các trạng thái cảm xúc phong phú đa dạng, phức tạp được mở rộng các đường biên với các chiều kích để đánh dấu thời khắc đặc biệt trong cuộc sống của cá nhân hoặc thời đại.
Thời gian luôn tồn tại khách quan, nhưng đối với mỗi cá nhân, thời gian lại mang màu sắc, dấu ấn riêng biệt chủ quan của từng cá thể. Cũng là dòng thời gian trôi chảy, nhưng ở mỗi người nghệ sĩ cảm nhận bằng cảm quan với những nhận thức và quan niệm riêng in dấu ấn cá nhân rất rõ. Đứng trước vũ trụ bao la, người nghệ sĩ mẫn cảm, suy nghiệm cảm nhận được sự vô hạn của không gian và sự hữu hạn của kiếp người; Có lúc người nghệ sĩ nhận ra sự trôi chảy vĩnh viễn của thời gian để kịp hoài niệm về những chặng đường mình đã đi qua; Cũng có khi bằng sự trải nghiệm của bản thân trong dòng chảy thời gian vật lý, người nghệ sĩ cảm nhận thời gian trong ưu tư khắc khoải trước những biến cải thế nhân… Thời gian trong tác phẩm nghệ thuật là một hình tượng thẩm mỹ sinh động chứ không khô cứng. Nó không đơn giản chỉ là sự cảm nhận bằng tư duy tỉnh táo của các giác quan mà còn được cảm nhận bằng óc chủ quan, bằng cảm xúc, bằng chính tâm trạng của tác giả.
Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có một ranh giới phân biệt với thời gian vật lí tuyến tính, nhưng không dễ thấy. Thời gian ấy có thể dài hay ngắn, trôi nhanh hay chậm là tùy thuộc vào tâm tư tình cảm của nhà thơ, tùy thuộc vào sự cảm nhận của chủ thể sáng tạo. Thời gian nghệ thuật biểu hiện trong thơ chịu sự chi phối từ cảm thức thẩm mỹ và thế giới thẩm mỹ của con người thời đại. Thời gian có thể được trần thuật cùng chiều với thời gian tự nhiên, nhưng cũng có thể đi ngược từ hiện tại trở về quá khứ bằng hồi tưởng.
Các lớp thời gian có khi đan bện, xoắn xít với nhau, cũng có lúc giữa quá khứ và hiện tại, tương lai có mối liên hệ thời gian, cùng đồng hiện trong một thời điểm. Vậy nên, hẳn nhiên, trong dòng chảy thời gian, mỗi chủ thể có cách cảm thụ thế giới riêng mang dấu ấn cảm xúc cá nhân. Do được cảm nhận bằng tâm trạng nên thời 19 gian trong thơ có cách thể hiện riêng không giống với thời gian vật lí bên ngoài. Nó có sự giãn cách, giãn cách từ thời gian vật lí bên ngoài để được tự nhiên đi vào thơ.
Ngoài nghĩa thực vốn có, thời gian còn mang ý nghĩa biểu trưng. Chính giá trị biểu trưng này làm cho thời gian trong thơ mang được rất nhiều xúc cảm và nhận thức của người nghệ sĩ. Khi người nghệ sĩ nhắc đến lượng thời gian “kim cổ” cũng có nghĩa cảm xúc, ý thức của người nghệ sĩ đang đứng ở hai chiều cảm thức về dòng chảy cuộc đời xưa và nay trong sự hoài niệm quá khứ hoặc hiện hữu của thời gian ngừng trôi, bất biến trước thời gian lịch sử, vĩnh hằng. Thi nhân Nguyễn Trãi từng ưu tư trước sông nước mênh mông khi đối ứng với phận người hữu hạn: “Kim cổ vô cùng giang mạc mạc/ Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu” (ƯTTT).
Dòng chảy thời gian trong tác phẩm cũng biến đổi linh hoạt, từ điểm nhìn hiện tại có thể ngược về quá khứ, thậm chí trở về thời Bàn Cổ khai thiên… Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắc đến “đời Nghiêu Thuấn” hay “thuở Tấn, Tùy”: “No lòng ấm cật đời Nghiêu Thuấn/ Gối vác nằm sương thuở Tấn, Tùy”… cũng có nghĩa nhà thơ muốn nhắc đến một xã hội lý tưởng, một thời đại đầy mơ ước vua sáng tôi hiền hay những buổi binh đao loạn lạc … Chính nhờ sức mạnh biểu hiện đa dạng, phong phú của ngôn ngữ, các dạng thức thời gian đã giúp các thi phẩm lưu lại dấu ấn về cảm thức thời gian một cách sâu sắc sinh động hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác. Thời gian biểu hiện không chỉ là một mảnh vỡ về hình khối, màu sắc hay âm thanh mà với một dung lượng ngôn từ ít ỏi, nó có thể tái hiện những biến cố lớn lao của một đời người hay một thời đại cụ thể. Đọc những câu thơ: “Thập niên phiêu chuyển thán bềnh bồng; Tam thập niên tiền hồ hải thú; Thập niên thanh ngọc chức hồ băng” (ƯTTT)… của Nguyễn Trãi, chúng ta nhận ra sự tổng kết nỗi niềm của nhà thơ trong từng chặng đường “mười năm” nổi trôi, ẩn nhẫn chờ thời; ba mươi năm phỉ chí hải hồ; mười năm “quan thanh ngọc” trong tiếng lòng chua chát nơi chốn quan trường… Như vậy, thời gian trong thơ ca có những nhịp điệu, sắc độ riêng để nhà thơ bộc bạch những xúc cảm vui buồn, suy tư cá nhân gắn với dòng chảy thời cuộc. 20 Bằng hình tượng nghệ thuật, thời gian đi vào thơ có thể “co dãn” theo cảm nhận chủ thể sáng tác.
Nhà thơ có thể cho thời gian trôi nhanh đi bằng cách dồn nén làm cho khoảng một thời gian dài chỉ “trôi qua” qua một câu thơ ngắn mà hiện hữu cả thời cuộc bể dâu.