đặt vấn đề trong cái nhìn giải thiêng, ngược sáng. Trong Mẫu Thượng ngàn, Nguyễn Xuân Khánh đã nỗ lực tìm kiếm một yếu tố mang tính nền tảng bền vững, một hằng số có khả năng kiến tạo văn hóa Việt, có sức cố kết cộng đồng, mang sức mạnh vượt thoát qua bao cuộc chìm nổi, thăng trầm của lịch sử dân tộc từ xa xưa cho đến tận ngày hôm nay. Ông đã giải phẫu sức sống văn hóa Việt trong văn hóa làng xã (lễ hội, tín ngưỡng đa thần, huyền thoại dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ gian) và đặc biệt qua tín ngưỡng thờ Mẫu đậm chất bản địa. Nếu như trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly, cảm hứng chủ đạo là cảm hứng lịch sử, Mẫu thượng ngàn với cảm hứng văn hóa là chủ đạo thì đến Đội gạo lên chùa là sự kết hợp nhuần nhuyễn của cả cảm hứng lịch sử và văn hóa.
Viết về ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo trong đời sống cư dân nông nghiệp Bắc bộ, qua những biến thiên của lịch sử Việt Nam gần như trải dài suốt thế kỉ XX qua hai cuộc chiến tranh cho đến những ngày đầu thống nhất đất nước. Từ lịch sử dân tộc, tác giả đi vào kiến giải những phong tục, tập quán, những khoảng tâm linh đầy thiêng liêng của đạo Phật trong lối sống, cách nghĩ của người dân Việt. Khi đọc tiểu thuyết văn hóa - lịch sử của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, người đọc cảm nhận được một cảm quan huyền bí bao trùm. Con người giữ những ràng buộc bí ẩn với nhau, tất cả các mối quan hệ ngẫu nhiên đều có sự liên hoàn, mật thiết, trong đó cái huyền ảo nghiễm nhiên tồn tại.
Cái thực và cái ảo dường như đan xen hòa quyện vào nhau khiến cho những trang viết của ông có sức sống, say mê đối với độc giả. Đối với Nguyễn Xuân Khánh không có trải nghiệm nào là vô ích bởi chính cuộc đời vất vả, cực nhọc trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ là tư liệu quý giá nhất giúp ông có thể viết nên những trang sách ngồn ngộn sức sống như vậy. “Đội gạo lên chùa” trong mối tương quan với tiểu thuyết đương đại Tiếp nối những đặc điểm truyền thống văn xuôi thế kỉ XX, tiểu thuyết đương đại Việt Nam tiếp tục đổi mới và cách tân. Có thể nói đổi mới là yếu tố duy nhất, đảm bảo cho sự phát triển của đất nước, đồng thời cũng là khát khao, nguyện vọng của toàn dân tộc khi đất nước vừa trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt.
Đời sống sau hòa bình với những khó khăn bộn bề đòi hỏi các nhà văn phải sáng tạo được những tác phẩm phản ánh được hơi thở của thời đại. Với tinh thần cởi trói, dân chủ mà Đảng khuyến khích, các nhà văn không bị gò bó theo những quy phạm, khuôn khổ của giai đoạn trước nữa mà thỏa sức sáng tạo, thể nghiệm. Các nhà văn luôn trăn trở, chủ động tìm cho mình một hướng đi mới thích hợp với sự vận động của bản thân văn học. Bàn về sự đổi mới của văn học nói chung, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh viết “Ai cũng đổi mới nhưng đổi mới sự thật là gì? Theo tôi đổi mới là nghĩ đúng, làm đúng quy luật khách Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ quan, là tôn trọng tinh thần khoa học”.
Còn nhà nghiên cứu Hà Xuân Trường trong cuộc tọa đàm Văn học đổi mới là phát triển đã nhận định: “Đổi mới trong văn học, điều quan trọng nhất, quyết định nhất là cái nhìn và cái tâm của nhà văn. Đề tài, nhân vật, phong cách cá tính không là cái gì nếu không nhìn thời đại sâu sắc, thấu suốt nhân tình, nếu không có được cái tâm trong sáng, nhân ái, cộng với ý thức đầy đủ về chức trách cao cả của văn học đối với con người, đối với cuộc đời, với nhân dân mình. Không có cái đó thì không có đổi mới”. Tiếp thu tình thần Đổi mới của văn học nói chung, thể loại tiểu thuyết văn xuôi cũng só sự đổi mới rất cơ bản.
Tiểu thuyết đương đại đổi mới theo hai xu hướng: xu hướng hiện đại hóa triệt để gắn liền với tên tuổi những nhà văn như: Nguyễn Bình Phương với Vào cõi (1991), Những đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kì thủy (2004), Ngồi (2006). Nguyễn Việt Hà với Cơ hội của chúa, Khải huyền muộn. Tạ Duy Anh với Lão khổ (1992), Đi tìm nhân vật (1999), Thiên thần sám hối (2004), Giã biệt bóng tối (2008)… Xu hướng thứ hai là xu hướng đổi mới dựa trên lối viết truyền thống, xu hướng này xuất hiện những tác giả, tác phẩm tiêu biểu như: Lê Lựu với Thời xa vắng, Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú. Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều ma.
Ngoài ra không thể không nhắc đến tên tuổi của các tác giả: Hồ Anh Thái, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Võ Thị Hảo, Bảo Ninh …Ở xu hướng thứ hai tiểu thuyết văn xuôi đương đại lại có sự phân chia thành nhiều khuynh hướng sáng tác khác nhau. Có thể nói quãng thời gian hơn mười năm đầu thế kỷ XXI, văn học bắt kịp với thời đại khi viết về những vấn đề mới. Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm viết về những vấn đề thời đại chưa để lại tác phẩm hay, nhất là ở các cây bút trẻ. Trong khi đó, một trong những khuynh hướng sáng tác gần đây là quay trở lại với những thời đại đã trở thành lịch sử để suy ngẫm những vấn đề đương đại.
Hướng đi này đã có một số thành công nhất định như các tiểu thuyết lịch sử - văn hóa của Nguyễn Xuân Khánh. PGS - TS Nguyễn Đăng Điệp phát biểu đề dẫn trong buổi tọa đàm về tiểu thuyết văn hóa lịch sử Nguyễn Xuân Khánh đánh giá hướng tìm về cội nguồn của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh là mới mẻ, hòa cùng với tư duy tiểu thuyết về lịch Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ sử của các lý thuyết hiện đại, hậu hiện đại. Ở cận kề tuổi tám mươi, sau Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn, Nguyễn Xuân Khánh lại bất ngờ cho ra đời cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa. Cuốn tiểu thuyết đã bất ngờ làm nóng diễn đàn văn học nước nhà.
Đặt trong mối quan hệ tương quan với tiểu thuyết văn xuôi đương đại, tác phẩm Đội gạo lên chùa của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh vừa mang trong mình những kế thừa của tiểu thuyết truyền thống vừa có sự cách tân đổi mới để bắt kịp với sự đổi mới của văn học nói chung và thể loại tiểu thuyết văn xuôi nói riêng. Bìa bốn cuốn Đội gạo lên chùa có ghi một dòng nhận xét: “Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa được viết theo lối cổ điển…”. Đúng là sáng tác của một loạt nhà văn như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường…. cũng đều viết theo lối cổ điển.
Nhưng đọc kĩ tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, ta thấy lối viết cổ điển không xung đột với những cách tân nghệ thuật. Tiểu thuyết của ông được cấu trúc trên nền tư duy tiểu thuyết hiện đại, mang tinh thần từ bỏ sự mặc nhiên của tư duy công thức, sơ đồ hóa một thời, ngộ ra sự song hành tồn tại của nhiều chân lý cuộc đời, không có cái tuyệt đối, tối thượng… Tinh thần đó đã chi phối nhà văn trong sáng tạo. Những cách tân nghệ thuật trong sáng tác của ông vừa mang đậm dấu ấn phong cách cá nhân, vừa thể hiện xu hướng vận động của văn học thời đại. Nét cổ điển của Đội gạo lên chùa là ở đề tài, kết cấu, lối kể, nhân vật và ngay cả dung lượng của tác phẩm.
Đề tài về văn hóa - lịch sử và những trải nghiệm của nhà văn trong quá khứ dựa trên tinh thần tôn giáo - đạo Phật. Lối kết cấu giống với kết cấu của lối tiểu thuyết chương hồi. Với gần chín trăm trang sách, tác phẩm Đội gạo lên chùa được chia làm ba phần: I- Trôi sông; II- Bão nổi can qua; III- Về cõi nhân gian. Và trong mỗi phần lớn như vậy lại có rất nhiều những phần nhỏ.
Lối kết cấu như vậy tạo nên một mạch truyện lôgíc, phải đọc hết phần này, người đọc mới hiểu được phần tiếp và cứ như vậy mỗi một phần lại mở ra cho người đọc những trải nghiệm mới có sức cuốn hút mạnh mẽ. Về lối kể, tiểu thuyết là câu chuyện được kể lại theo trình tự thời gian, trình tự tâm lí có lúc xuôi chiều từ quá khứ - hiện tại nhưng cũng có lúc lại từ hiện tại ngược về quá khứ thông qua suy nghĩ, hồi tưởng của các nhân vật. Về nhân vật, cả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa có đến nhiều chục nhân vật với tần số xuất hiện liên tục không kể đến những nhân vật xuất hiện trong vai quần chúng không tên. Các nhân vật có mối liên hệ khăng khít với nhau trong việc tạo nên cốt truyện.
Song bên cạnh yếu tố cổ điển của cuốn tiểu thuyết thì sự cách tân nghệ thuật theo xu hướng đổi mới lại thể hiện ngay ở cách tư duy nghệ thuật của tác giả. Ông khẳng định: Tôi quan niệm tiểu thuyết lịch sử không phải là kể lại lịch sử, minh họa lịch sử mà là phản ánh những vấn đề con người hiện tại vì chúng ta đang viết cho những người đang sống đọc, vì vậy cần đề cập đến những điều họ quan tâm. Bản thân Nguyễn Xuân Khánh đã từng bày tỏ: Tôi quan niệm tiểu thuyết lịch sử tạo ra một hiện thực làm sao để gây cho người đọc một ảo tưởng là có thật. Tiểu thuyết lịch sử phải dựng lại bối cảnh không khí của thời đại.
Tôi phải đọc rất nhiều tư liệu cùng sự trải nghiệm thực tế để nhào nặn thành nhân vật, sự kiện, những mối liên hệ. Tiểu thuyết phải có đời sống, bi hài trữ tình. Trong khi đó, kí sự lịch sử chỉ bám chắc vào văn bản sử để viết. Chính vì thế nên khi đọc Đội gạo lên chùa, người đọc dễ dàng nhận thấy lịch sử, văn hóa được phản chiếu qua lăng kính của một con người không chỉ từng trải, dày dặn kinh nghiệm mà còn có một năng lực tư duy hiện đại, chẳng hạn khi ông cho rằng: Tôn giáo không phải là thứ để trói buộc con người mà là để giúp con người sống tốt hơn, đẹp hơn.