Chương 1: Cơ sở lý thuyết về lựa chọn nhà cung cấp và chất lượng dịch vụ. Chương 2: Phân tích công tác lựa chọn nhà cung cấp tại đơn vị Ủy ban nhân dân Phường 1, quận Gò Vấp. Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỰA CHỌN NHÀ CUNG CẤP VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1.
Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng có tên tiếng anh là Supply Chain là một hệ thống hay tập hợp những hoạt động, tổ chức, thông tin, con người, phương tiện cùng các nguồn lực khác có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất, nhà cung cấp đến với người tiêu dùng. Trong đó chuỗi cung ứng sẽ bao hàm cả nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà vận chuyển, nhà kho, các đại lý bán lẻ và cả khách hàng. Nếu là chuỗi cung ứng trong một công ty sẽ gồm có các phòng ban như phòng kinh doanh, phòng marketing, phòng dịch vụ khách hàng, phòng hậu cần. Mỗi phòng ban thực hiện nhiệm vụ chức năng riêng nhưng sẽ có sự liên kết chặt chẽ hỗ trợ nhau để cùng thực hiện mục đích chung là đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nâng cao hiệu quả kinh doanh tạo lợi nhuận cho công ty (Lambert và Stock, 2018).
"Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều công đoạn có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng bao gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và khách hàng (Sunil và Pter Meindl, 2020)." Chuỗi cung ứng là mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán sản phẩm, thành phẩm và phân phối chúng cho khách hàng (Geneshamet và cộng sự, 2020). "Chuỗi cung ứng là một hệ thống của các tổ chức, con người, cá hoạt động, thông tin và tài nguyên liên quan đến sự vận động của sản phẩm, dịch trong quá trình từ nhà cung cấp (chuỗi cung ứng) đến khách hàng. Các hoạt động trong chuỗi cung ứng gồm chuyển đổi tài nguyên tự nhiên, vật liệu thô và các thành phần thành sản phẩm hoàn chỉnh được vận chuyển tới khách hàng.
Trong hệ thống chuỗi cung ứng, các sản phẩm có thể quay trở lại chuỗi cung ứng bất cữ chỗ nào mà giá trị còn lại có thể được sử dụng để tái chế. Các chuỗi cung ứng liên kết các chuỗi giá trị (Nagurney and Anna, 2019)." 6 Cũng theo Thomas L.Friedman: chuỗi cung ứng là mạng lưới các tổ chức tham gia vào dòng vận động của nguồn tài nguyên đầu vào các dòng vật chất được chuyển hóa, dòng ngân lưu và và dòng thông tin từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng. Chuỗi cung ứng cung cấp giải pháp cho toàn bộ đầu vào của doanh nghiệp. Giải pháp cho quá trình mua hàng của nhà cung cấp, đến việc tồn kho an toàn cho doanh nghiệp.
"Các nhà cung cấp sẽ làm việc dựa trên mối quan hệ công tác, cùng giúp cho các bên nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và hệ thống phân phối sản phẩm, dịch vụ đến tay khách hàng. Chuỗi cung ứng gồm hệ thống cung ứng mở rộng và phát triển một môi trường kinh doanh tạo điều kiện cho các công ty giao dịch trực tiếp với khách hàng và nhà cung cấp song phương trong việc mua bán và chia sẽ thông tin." Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng (tiếng Anh là Logistics and Supply Chain Management) là một hoạt động mang tính chất dây chuyền, nó là một mạng lưới kết nối của nhiều hoạt động cùng tham gia vào việc sản xuất, cung ứng hàng hoá và dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng. Nói một cách dễ hiểu nó đảm bảo vòng đời của một sản phẩm và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao nhất. Khái niệm liên kết chuỗi cung ứng "Bechtel và Jayaram (2019) đã phân chia bốn trường phái quan niệm khác nhau về liên kết chuỗi cung ứng: (1) trường phái liên kết chuỗi chức năng (the “functional chain awareness school”), trường phái này phân chia liên kết chuỗi cung ứng thành liên kết bên ngoài (liên kết giữa các doanh nghiệp) và liên kết bên trong (liên kết giữa các phòng ban); (2) trường phái logistics/liên kết (the “lingkage/logistics school”), cho rằng liên kết chuỗi cung ứng là liên kết các hoạt động logistics; (3) trường phái liên kết thông tin (the “information school”), hàm ý liên kết các dòng thông tin cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp; và (4) trường phái quá trình/liên kết (the “integration/process school”), khái niệm liên kết các quá trình kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng.
Mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh của tổ chức 7 "Mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh của tổ chức và liên kết chuỗi cung ứng được phân tích dưới gốc độ lý thuyết dựa vào nguồn lực. Mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh của các tổ chức được nghiên cứu dưới các gốc độ khác nhau. Dưới gốc độ chuỗi cung ứng nói chung, liên kết hàm ý liên kết với nhà cung cấp và với khách hàng (Li và cộng sự, 2020). Khái niệm này cũng có thể hàm ý đến mối quan hệ giữa người mua và người bán dưới gốc độ hậu cần (Paulraj và Chen, 2020).
Nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng liên kết bên ngoài có sự tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ, quản lý và liên kết chuỗi cung ứng có ảnh hưởng trực tiếp và dài hạn đến kết quả tài chính và marketing của doanh nghiệp (Li và cộng sự, 2020). Liên kết các hoạt động hậu cần với các nhà cung ứng và khách hàng sẽ cải thiện được kết quả của cả người bán lẫn người mua (Paulraj và Chen, 2020). Mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng "Mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng sẽ được phân tích dưới gốc độ lý thuyết về mối quan hệ giữa môi trường và các tổ chức.
Aldrich và Pfeffer (2019) cho rằng các tổ chức không thể tự mình tạo ra tất cả những nguồn lực và do đó phải phát triển các quan hệ và huy động một số nguồn lực từ bên ngoài. Khi tính chuyên môn hóa và phân công lao động giữa các tổ chức càng cao thì mối quan hệ giữa các tổ chức, hay giữa tổ chức với môi trường bên ngoài ngày càng trở nên quan trọng, bởi vì thông qua mối quan hệ này các tổ chức mới có được đầy đủ các nguồn lực cần thiết. Rủi ro trong chuỗi cung ứng "Mối quan hệ giữa sự bất ổn hay rủi ro và liên kết trong chuỗi cung ứng được kiểm định trong một số nghiên cứu. Ví dụ, rủi ro cung ứng như giao hàng không đúng hạn, không đáp ứng yêu cầu về mặt số lượng và chất lượng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến liên kết chuỗi cung ứng (Zhao và cộng sự, 2021).
Khi rủi ro cung ứng tăng cao sẽ khiến các nhà sản xuất không muốn đầu tư vốn cũng như tăng cường cam kết mối quan hệ lâu dài với nhà cung ứng. Thay vì liên kết và trung thành với một hoặc một số nhà cung ứng, họ sẽ lựa chọn phương án quan hệ với nhiều nhà cung ứng để giảm rủi ro và tăng sự an toàn cho việc sản xuất kinh doanh. Văn hóa tổ chức và sự tác động tới mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng "Sự tác động của văn hóa tổ chức lên mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng sẽ được xem xét trên gốc độ lý thuyết ngẫu nhiên hay tình huống (The contingency theory). Một doanh nghiệp có văn hóa hướng ngoại thì thông thường sẽ chấp nhận rủi ro từ môi trường để điều chỉnh, tương tác và thích ứng với môi trường.
Ngược lại, những doanh nghiệp có văn hóa hướng nội thường sẽ chỉ tập trung củng cố nguồn lực bên trong và ít mở rộng các quan hệ ra bên ngoài (Denison và Spreitzer, 2021). Như vậy, đối với các tổ chức hướng ngoại sẽ thúc đẩy quá trình liên kết hợp tác giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng diễn ra thuận lợi hơn so với các tổ chức có tính hướng nội. Ngược lại, đối với các doanh nghiệp hướng nội họ sẽ không sẵn sàng chấp nhận rủi ro để tăng cường liên kết với các đối tác và thậm chí họ còn hạn chế sự hợp tác để đảm bảo tính an toàn cho bản thân họ. Liên kết chuỗi cung ứng cũng là một đặc tính năng động của doanh nghiệp.
Do đó, các doanh nghiệp năng động và linh hoạt thường có xu hướng tăng cường hợp tác với các đối tác trong chuỗi cung ứng. Những doanh nghiệp này thường có các đặc tính như: mong muốn tăng trưởng, tận dụng các nguồn lực bên ngoài, sáng tạo và thích ứng với môi trường. Đây cũng chính là các đặc tính thể hiện tổ chức có văn hóa linh hoạt (Denison và Spreitzer, 2021). Ngược lại, tổ chức có văn hóa ổn định thường tập trung vào khai thác hiệu quả nội bộ, đồng bộ hóa và bảo thủ (Cameron và Quinn, 2019; Denison và Spreitzer, 2021).
Các tổ chức có văn hóa như vậy thường gặp rất nhiều khó khăn để thích ứng với những thay đổi. Giả thuyết H10: Văn hóa tổ chức có tác động điều tiết mối quan hệ giữa rủi ro từ nguồn cung với mức độ liên kết với nhà cung ứng. Điều này hàm ý: doanh nghiệp có văn hóa hướng đến sự linh hoạt sẽ làm giảm sự tác động của rủi ro từ nguồn cung lên mức độ liên kết với các nhà cung ứng chính hơn so với các doanh nghiệp có văn hóa kém linh hoạt (H10a). Tương tự, doanh nghiệp có văn hóa hướng ngoại thì sẽ làm giảm sự tác động của rủi ro từ nguồn cung lên mức độ liên kết với nhà cung ứng chính hơn so với các doanh nghiệp có văn hóa hướng nội.
Cấu trúc của chuỗi cung ứng 9 Các công ty sản xuất sẽ được liệt trong “mô hình giản đơn” khi hoạt động của họ là mua nguyên liệu từ nhà cung cấp, sản xuất sản phẩm và bán trực tiếp cho người sử dụng. "Khi đó, công ty chỉ xử lý việc mua nguyên vật liệu và sản xuất ra sản phẩm bằng một hoạt động và một địa điểm duy nhất." Đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, các công ty thường hướng đến các mối liên kết đa chiều, từ đó cũng xuất hiện các chuỗi cung ứng mở rộng. Mô hình chuỗi cung ứng điển hình trong ngành sản xuất (Nguồn: William J.