Tổng quan nghiên cứu

Trong quản lý chuỗi cung ứng y tế hiện đại, dự trữ thuốc chiếm từ 30% đến 45% tổng chi phí vận hành tại các cơ sở khám chữa bệnh. Bài toán cốt lõi đặt ra cho các nhà quản lý là phải duy trì lượng hàng tồn kho tối ưu nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu điều trị, sẵn sàng ứng phó các tình huống y tế khẩn cấp, đồng thời hạn chế tối đa nguy cơ ứ đọng vốn và lãng phí do thuốc hết hạn dùng. Nghiên cứu thực trạng dự trữ thuốc tại Bệnh viện Quân Y 175 được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện hoạt động cung ứng, phân tích cơ cấu dự trữ theo mô hình quản trị hiện đại, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả vận hành kho dược.

Nghiên cứu được triển khai tại Bệnh viện Quân Y 175 thuộc Bộ Quốc phòng – bệnh viện chiến lược tuyến cuối phía Nam với quy mô hơn 1.000 giường bệnh và 55 khoa, phòng, ban chức năng. Dữ liệu hồi cứu được thu thập trọn vẹn trong giai đoạn từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/12/2019, tập trung vào kho Dược tổng hợp thuộc Khoa Dược – nơi quản lý đội ngũ 63 cán bộ chuyên môn gồm 26 dược sĩ đại học và sau đại học.

Về mặt giá trị thực tiễn, đề tài giải quyết trực tiếp thách thức cân đối dòng tiền thông qua việc lượng hóa các chỉ số tồn kho, xác định thời gian dự trữ bình quân đạt 1,40 tháng sử dụng và nhận diện 33 khoản mục thuộc nhóm AN có giá trị sử dụng cao nhưng không thiết yếu. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học giúp Hội đồng Thuốc và Điều trị chuẩn hóa danh mục đấu thầu, giảm thiểu nguy cơ đứt gãy nguồn cung và nâng cao hiệu lực kiểm soát hạn dùng theo tiêu chuẩn thực hành tốt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng dược phẩm bệnh viện và các nguyên tắc quản lý kho chuẩn mực. Hệ thống lý thuyết trọng tâm bao gồm:

  • Nguyên tắc Thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP): Được chuẩn hóa theo Thông tư 36/2018/TT-BYT, quy định các điều kiện bảo quản nghiêm ngặt, kiểm soát đối chiếu số lượng và bắt buộc tuân thủ nguyên tắc FEFO (First Expired, First Out - thuốc có hạn dùng ngắn hơn phải được xuất trước).
  • Lý thuyết định mức tồn kho y tế: Xác định các mức tồn kho an toàn theo tuyến phân cấp quản lý y tế. Trong điều kiện tiêu chuẩn, mức tồn kho tối thiểu tại bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương dao động từ 1 đến 2 tháng, mức tồn kho tối đa từ 2 đến 3 tháng, và mức tồn kho an toàn duy trì ở mốc 2 tháng sử dụng.
  • Mô hình ma trận ABC/VEN: Phương pháp phân tích ABC phân loại danh mục thuốc dựa trên giá trị tiêu dùng tích lũy (nhóm A chiếm khoảng 75-80% giá trị với 10-20% chủng loại; nhóm B chiếm 15-20% giá trị; nhóm C chiếm 5-10% giá trị nhưng chiếm đa số 60-80% chủng loại). Phân tích VEN xếp hạng mức độ ưu tiên lâm sàng thành nhóm V (Tối cần - Vital), nhóm E (Thiết yếu - Essential) và nhóm N (Không thiết yếu - Non-essential). Ma trận kết hợp ABC/VEN tạo thành 9 tiểu nhóm giúp tối ưu hóa nguồn lực tài chính mà vẫn đảm bảo an toàn điều trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu kết hợp phương pháp định lượng thống kê trên nguồn dữ liệu sẵn có.

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 1.626 khoản mục thuốc lưu hành tại kho Dược tổng hợp trong năm 2019. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với phân tích xuất nhập tồn và cơ cấu ABC/VEN. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích đối với 10 hoạt chất có giá trị xuất sử dụng cao nhất đại diện cho 10 nhóm tác dụng dược lý chính để khảo sát chi tiết số ngày hết thuốc và mức độ tuân thủ nguyên tắc FEFO.
  • Nguồn thu thập dữ liệu: Toàn bộ báo cáo xuất - nhập - tồn định kỳ hàng tháng, biên bản kiểm kê 4 đợt (tháng 3, tháng 6, tháng 9, tháng 12 năm 2019), sổ theo dõi thẻ kho và dữ liệu quản lý điện tử trích xuất từ phần mềm bệnh viện eHospital phiên bản 4.0.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp phân tích giá trị tiền tệ xuất nhập tồn theo chuỗi thời gian 12 tháng với ma trận ABC/VEN cho phép đánh giá đa chiều: vừa phản ánh chính xác tốc độ luân chuyển dòng vốn, vừa giám sát chặt chẽ tính hợp lý của chỉ định y khoa. Dữ liệu được xử lý, làm sạch và tổng hợp bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 thông qua các thuật toán thống kê mô tả, tính tỷ trọng phần trăm và giá trị tích lũy.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả xử lý dữ liệu năm 2019 tại kho Dược tổng hợp Bệnh viện Quân Y 175 ghi nhận các phát hiện then chốt sau:

  • Biến động giá trị tồn trữ tổng thể: Tổng giá trị tiền tồn thuốc ghi nhận ở mức 431.331 triệu đồng, tổng giá trị xuất đạt 307.xxx triệu đồng. Thời gian sử dụng thuốc tồn trung bình đạt 1,40 tháng. Mức dự trữ biến thiên rõ rệt giữa các thời điểm: đạt đỉnh cao nhất vào tháng 2 với 3,35 tháng sử dụng do nhập hàng dự phòng trước Tết Nguyên đán, và chạm đáy thấp nhất vào tháng 7 với 0,96 tháng sử dụng.
  • Độ dao động mạnh giữa các nhóm dược lý: Nhóm dung dịch điều chỉnh nước, điện giải và dịch truyền có biên độ dao động lớn nhất, từ 0,37 tháng (tháng 6) lên tới 5,38 tháng (tháng 2), trung bình đạt 1,60 tháng. Nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch duy trì mức dự trữ trung bình 0,98 tháng (dao động từ 0,51 đến 2,40 tháng). Nhóm thuốc tim mạch có mức tồn tương đối ổn định với 1,54 tháng sử dụng.
  • Thực trạng đứt gãy cung ứng cục bộ: Trong 10 thuốc có giá trị xuất cao nhất, ghi nhận 4 hoạt chất bị hết hàng tạm thời gồm: Cefoxitin 2g (32 ngày hết thuốc), Meloxicam 15mg (22 ngày), Irbesartan 40mg (11 ngày) và Pantoprazol 40mg (7 ngày). Tất cả 4 trường hợp này đều được thay thế kịp thời bằng các thuốc tương đương nhóm dược lý như Cefuroxim, Piroxicam, Telmisartan và Esomeprazol.
  • Mức độ tuân thủ quy trình kho vận: Tỷ lệ phiếu xuất tuân thủ nguyên tắc FEFO đạt tuyệt đối 100% tại 7/10 mặt hàng khảo sát. Tỷ lệ khớp đúng giữa số liệu sổ sách trên phần mềm eHospital 4.0 và kiểm kê thực tế đạt trên 99,8%, với tỷ lệ sai lệch chỉ từ 0,01% đến 0,09% ở một số mặt hàng dạng viên và chai dịch truyền.
  • Cơ cấu ma trận ABC/VEN: Phân tích ABC xác định nhóm A gồm 290 khoản mục (chiếm 17,82% số lượng) nhưng nắm giữ tới 79,93% tổng giá trị tồn kho (tương đương 363.232,2 triệu đồng). Phân tích VEN cho thấy nhóm V chiếm 282 khoản mục (17,33%), nhóm N chiếm 231 khoản mục (8,50% giá trị). Ma trận ABC/VEN chỉ ra nhóm I chiếm 31,48%, nhóm II chiếm 59,49%, nhóm III chiếm 9,04%, trong đó phát hiện 33 khoản mục thuộc nhóm AN (chiếm 2,03%) có giá trị tồn lớn nhưng không thuộc diện tối cần.

Thảo luận kết quả

Khi biểu diễn trực quan qua biểu đồ đường xu hướng 12 tháng, đường cong thời gian dự trữ thuốc phản ánh rõ quy luật chu kỳ mua sắm y tế. Đỉnh tồn kho tháng 2 (3,35 tháng) xuất phát từ việc Khoa Dược chủ động nhập lượng lớn hàng hóa trong tháng 1 nhằm dự phòng cho kỳ nghỉ Tết kéo dài, trong khi lượng bệnh nhân nội trú và xuất viện giảm trong dịp này. Ngược lại, đáy tồn kho rơi vào tháng 6 và tháng 7 (dưới 1,0 tháng) trùng khớp với giai đoạn giao thời, gối đầu giữa các gói thầu cung ứng thuốc BHYT cũ và mới.

So sánh với các nghiên cứu cùng thời kỳ, mức dự trữ trung bình 1,40 tháng tại Bệnh viện Quân Y 175 tương đồng với Bệnh viện Đa khoa huyện Vĩnh Thuận (1,40 tháng) và Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp (1,53 tháng), song thấp hơn mức 3,20 tháng tại Trung tâm Y tế thành phố Thái Nguyên. Mức tồn này vượt qua ngưỡng tồn kho tối thiểu (1,0 tháng) nhưng vẫn nằm dưới mức tồn kho an toàn tiêu chuẩn (2,0 tháng) của tuyến bệnh viện loại 1.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng hết thuốc cục bộ tại 4 hoạt chất (Cefoxitin, Meloxicam, Irbesartan, Pantoprazol) chủ yếu do công tác dự trù số lượng trúng thầu chưa bắt kịp sự thay đổi cơ cấu bệnh tật thực tế, kết hợp với độ trễ trong quá trình thanh quyết toán công nợ khiến một số nhà thầu chậm giao hàng ở cuối chu kỳ thầu. Việc tỷ lệ tuân thủ FEFO chưa đạt 100% ở 3 mặt hàng (Sodium Chloride 0.9%, dung dịch thẩm phân HD plus 144A và Actemra) được giải thích bởi đặc thù hàng cồng kềnh xuất thẳng về khoa điều trị hoặc phải điều chuyển gấp từ đơn vị bạn để cấp cứu người bệnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện công tác quản lý tồn kho tại Bệnh viện Quân Y 175:

  • Tái cấu trúc định mức tồn kho an toàn theo từng nhóm dược lý: Thiết lập hạn mức tồn kho linh hoạt trên phần mềm eHospital 4.0, duy trì mức dự trữ an toàn từ 1,5 đến 2,0 tháng sử dụng cho nhóm thuốc A và nhóm V; giảm mức dự trữ nhóm C xuống 0,5 đến 1,0 tháng. Mục tiêu giảm số ngày hết thuốc trung bình của các mặt hàng chủ lực xuống dưới 5 ngày/năm. Giải pháp do Tổ Cung ứng - Khoa Dược chủ trì triển khai ngay trong quý 1.
  • Kiểm soát và tinh giản 33 khoản mục thuộc nhóm AN: Hội đồng Thuốc và Điều trị tiến hành rà soát định kỳ hàng quý toàn bộ danh mục thuốc nhóm AN. Cắt giảm tối thiểu 50% số lượng thuốc nhóm AN không thiết yếu trong kỳ đấu thầu tiếp theo, ưu tiên chuyển dịch nguồn ngân sách (ước tính giải phóng khoảng 8.000 đến 10.000 triệu đồng vốn ứ đọng) sang bổ sung dự trữ cho nhóm AV và BV trong vòng 6 tháng.
  • Hoàn thiện quy trình đấu thầu gối đầu và rút ngắn chu kỳ thanh toán: Ban Giám đốc chỉ đạo Phòng Tài chính Kế toán phối hợp Khoa Dược xây dựng kế hoạch mời thầu mới trước thời điểm hết hạn hợp đồng cũ ít nhất 4 tháng. Đồng thời chuẩn hóa quy trình thanh toán công nợ cho nhà cung cấp trong thời hạn dưới 45 ngày nhằm đảm bảo tính liên tục của chuỗi cung ứng.
  • Số hóa toàn diện quy trình kiểm soát FEFO và quản lý kho: Ứng dụng công nghệ mã vạch (Barcode/QR code) trong khâu kiểm nhập và xuất kho, kiểm soát tự động cảnh báo hạn dùng trước 6 tháng đối với tất cả các lô thuốc. Khoa Dược chịu trách nhiệm tổ chức tập huấn cho 100% thủ kho và dược sĩ cấp phát trong quý 2, phấn đấu nâng tỷ lệ tuân thủ FEFO đạt 100% trên toàn bộ danh mục.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban Giám đốc và Lãnh đạo Khoa Dược bệnh viện: Tài liệu cung cấp cơ sở phương pháp luận để hoạch định chính sách dự trữ thuốc tổng thể, cân đối ngân sách mua sắm và xây dựng kế hoạch dự phòng rủi ro y tế tuyến chiến lược.
  • Dược sĩ quản lý kho và cán bộ phụ trách cung ứng: Nắm vững quy trình ứng dụng ma trận ABC/VEN, phương pháp theo dõi biến động xuất nhập tồn theo tháng và các bước chuẩn hóa xuất kho theo nguyên tắc FEFO.
  • Thành viên Hội đồng Thuốc và Điều trị: Sử dụng kết quả phân tích nhóm thuốc AN để thanh lọc danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện, tối ưu hóa cơ cấu chi phí BHYT và nâng cao an toàn điều trị.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược: Khảo cứu một mô hình nghiên cứu mô tả hồi cứu hoàn chỉnh với hệ thống biến số, biểu mẫu thu thập và công cụ xử lý số liệu chuẩn xác tại một bệnh viện tuyến cuối quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao thời gian sử dụng thuốc tồn tại bệnh viện lại tăng đột biến vào tháng 2/2019? Dữ liệu ghi nhận thời gian tồn kho tháng 2 đạt 3,35 tháng sử dụng, cao gấp 2,39 lần mức bình quân năm. Hiện tượng này do Khoa Dược chủ động nhập hàng khối lượng lớn vào tháng 1 để dự phòng cho kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, trong khi lượng bệnh nhân nội trú giảm kéo theo lượng xuất kho thấp.

Phân tích ma trận ABC/VEN giúp ích gì cho công tác tối ưu hóa ngân sách dược? Phương pháp này giúp phân loại chính xác 33 khoản mục nhóm AN (chiếm 2,03% danh mục). Đây là những thuốc có giá trị tiền tệ lớn nhưng tính thiết yếu lâm sàng không cao, tạo cơ sở khoa học để Hội đồng Thuốc cắt giảm nhằm dồn ngân sách cho nhóm thuốc cấp cứu tối cần (AV).

Nguyên nhân chính dẫn đến việc 4 hoạt chất bị hết hàng trong năm 2019 là gì? Tình trạng hết thuốc ở 4 hoạt chất (từ 7 đến 32 ngày) chủ yếu diễn ra vào các tháng cuối gói thầu. Nguyên nhân do lượng tiêu thụ thực tế vượt quá dự trù thầu ban đầu, kết hợp với độ trễ phát sinh trong khâu thẩm định gói thầu mới và chậm thanh toán công nợ nhà phân phối.

Tại sao vẫn có 3 mặt hàng chưa đạt tỷ lệ tuân thủ xuất kho FEFO 100%? Ba mặt hàng gồm Sodium Chloride 0.9%, dịch lọc thận HD plus 144A và thuốc Actemra chưa đạt tuyệt đối do đây là các mặt hàng dịch truyền cồng kềnh xuất thẳng từ xe giao hàng về khoa phòng, hoặc là thuốc sinh học được điều chuyển gấp từ đơn vị khác để xử trí cấp cứu.

Độ tin cậy của số liệu kiểm kê kho tại Bệnh viện Quân Y 175 được đánh giá như thế nào? Qua 4 đợt kiểm kê định kỳ trong năm 2019, tỷ lệ khớp đúng giữa thẻ kho sổ sách trên phần mềm eHospital 4.0 và số lượng thực tế đạt trên 99,8%. Các sai lệch nhỏ chỉ từ 0,01% đến 0,09% phản ánh năng lực quản trị kho chặt chẽ và kinh nghiệm vững vàng của đội ngũ thủ kho.

Kết luận

Nghiên cứu "Phân tích thực trạng dự trữ thuốc tại Bệnh viện Quân Y 175 năm 2019" đã hoàn thành trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu với các kết luận trọng tâm:

  • Xác định mức tồn kho trung bình của bệnh viện đạt 1,40 tháng sử dụng, đảm bảo trên mức tối thiểu nhưng cần nâng lên mức an toàn (2,0 tháng) cho các nhóm thuốc tối cần.
  • Ghi nhận sự dao động tồn trữ rõ nét giữa các mùa trong năm, đạt đỉnh 3,35 tháng vào tháng 2 và xuống mức thấp nhất 0,96 tháng vào tháng 7.
  • Đánh giá thực trạng đứt hàng tại 4/10 hoạt chất khảo sát, đồng thời xác nhận 100% các thuốc này đều có giải pháp thay thế kịp thời trong cùng nhóm dược lý.
  • Chứng minh tính hiệu quả của công tác quản trị kho với tỷ lệ tuân thủ FEFO đạt 100% ở 7/10 nhóm thuốc và độ chính xác kiểm kê đạt trên 99,8%.
  • Ứng dụng thành công ma trận ABC/VEN, phân loại rõ 290 thuốc nhóm A (chiếm 79,93% giá trị) và phát hiện 33 thuốc nhóm AN cần tinh giản danh mục.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh toàn cảnh, thực chứng và định lượng về hoạt động dự trữ dược phẩm tại bệnh viện tuyến cuối quy mô 1.000 giường. Để nâng cao hiệu quả quản trị, Bệnh viện Quân Y 175 cần sớm triển khai đồng bộ việc số hóa hạn mức an toàn trên hệ thống eHospital 4.0 và tái cơ cấu danh mục thầu trong các chu kỳ tiếp theo.