Tổng quan nghiên cứu

Đái tháo đường typ 2 hiện là một trong những thách thức y tế công cộng hàng đầu trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới, năm 2019 toàn cầu có khoảng 463 triệu người mắc bệnh và tại Việt Nam ghi nhận 3,7 triệu ca mắc với hơn 53,4% chưa được chẩn đoán kịp thời. Bệnh lý mạn tính này đòi hỏi quá trình kiểm soát đường huyết chặt chẽ, liên tục nhằm ngăn ngừa các biến chứng tim mạch, thận, mắt và thần kinh.

Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Y tế huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh – cơ sở y tế đa chức năng hạng II hiện đang quản lý và điều trị ngoại trú cho khoảng 2000 bệnh nhân đái tháo đường. Đề tài tập trung giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: mô tả thực trạng kê đơn thuốc kiểm soát đường huyết và phân tích mức độ tuân thủ dùng thuốc cùng các yếu tố ảnh hưởng trên 155 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 trong giai đoạn từ ngày 19/07/2021 đến ngày 24/10/2021.

Ý nghĩa của đề tài được thể hiện rõ nét qua việc cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực hành sử dụng thuốc tại tuyến y tế cơ sở trong bối cảnh chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đại dịch COVID-19. Kết quả nghiên cứu là nền tảng thực chứng giúp các nhà quản lý y tế và dược sĩ lâm sàng tối ưu hóa phác đồ điều trị, nâng cao tỷ lệ tuân thủ từ mức 22,6% và cải thiện tỷ lệ đạt mục tiêu HbA1c trên bệnh nhân ngoại trú.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 của Bộ Y tế ban hành năm 2017 và khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2021. Các khung hướng dẫn này xác định mục tiêu kiểm soát glucose huyết tương mao mạch lúc đói từ 4,4 đến 7,2 mmol/l và chỉ số HbA1c dưới 7,0%.

Về mặt dược lý, nghiên cứu tập trung vào các nhóm thuốc hạ đường huyết chủ lực gồm Biguanid với hoạt chất nền tảng là Metformin, nhóm Sulfonylure thế hệ 2 kích thích tiết insulin qua kênh kali phụ thuộc ATP (gồm Gliclazid, Glimepirid, Glipizide) và các chế phẩm Insulin tiêm.

Để lượng giá các biến số hành vi và tâm lý, tác giả đã tích hợp ba mô hình đánh giá chuẩn hóa quốc tế:

  • Thang đo báo cáo tuân thủ sử dụng thuốc MARS-5 gồm 5 câu hỏi đo lường hành vi dùng thuốc theo thang điểm Likert từ 5 đến 25 điểm.
  • Bộ công cụ Đánh giá kiến thức bệnh đái tháo đường DKT2 của Đại học Michigan gồm 14 câu hỏi trắc nghiệm với thang điểm từ 0 đến 14 điểm.
  • Bộ công cụ Đánh giá sự tự tin vào khả năng tự chăm sóc DMSES gồm 15 đề mục theo thang điểm từ 0 đến 150 điểm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang không can thiệp, kết hợp giữa phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân bằng bộ câu hỏi cấu trúc và hồi cứu dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng cùng đơn thuốc từ hồ sơ bệnh án ngoại trú.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 155 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 trên 18 tuổi đang điều trị bằng thuốc tại Khoa Khám bệnh. Tác giả áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện có chủ đích, loại trừ các đối tượng điều trị lần đầu, phụ nữ mang thai hoặc người mắc rối loạn tâm thần không thể giao tiếp. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính khả thi trong thu thập dữ liệu thực tế tại phòng khám trong thời gian 3 tháng.

Toàn bộ dữ liệu được nhập liệu và làm sạch bằng phần mềm Microsoft Excel 2013, sau đó phân tích thống kê trên phần mềm SPSS 22.0. Tác giả sử dụng thống kê mô tả với các chỉ số tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn. Để xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc, mô hình phân tích hồi quy logistic đơn biến và đa biến được lựa chọn vì biến phụ thuộc tuân thủ là biến nhị phân (tuân thủ tốt và tuân thủ kém), giúp kiểm soát các biến gây nhiễu và tính toán tỷ suất chênh OR với khoảng tin cậy 95% ở ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 155 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 ghi nhận các phát hiện then chốt sau:

  • Đặc điểm nhân khẩu và bệnh lý: Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 61,1 ± 11,3 tuổi, trong đó nam giới chiếm 61,3% và 89,0% bệnh nhân sinh sống tại khu vực nông thôn. Thời gian mắc bệnh trung bình là 5,1 ± 2,9 năm; có 34,8% bệnh nhân đã xuất hiện biến chứng mạn tính (biến chứng mắt chiếm cao nhất với 23,2%, bàn chân chiếm 18,1%) và 66,4% có bệnh mắc kèm (tăng huyết áp chiếm 40,0%, rối loạn lipid máu chiếm 31,6%).
  • Cơ cấu sử dụng thuốc hạ đường huyết: 100% bệnh nhân được chỉ định Metformin. Phác đồ phối hợp đôi đường uống chiếm ưu thế tuyệt đối với 92,3% (trong đó Metformin kết hợp Gliclazid chiếm 67,1%, Metformin kết hợp Glimepiride chiếm 13,6% và Metformin kết hợp Glipizide chiếm 11,6%). Phác đồ có chứa Insulin chỉ chiếm 7,7% tổng số bệnh nhân.
  • Hiệu quả kiểm soát đường huyết: Tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu HbA1c dưới 7,0% chỉ đạt 25,5%, trong khi 74,5% bệnh nhân chưa đạt mục tiêu điều trị (51,0% có HbA1c từ 7,0% đến dưới 9,0% và 3,8% có HbA1c từ 10,0% trở lên). Nồng độ glucose huyết lúc đói trung bình ở mức 9,1 ± 3,6 mmol/l, chỉ có 30,2% bệnh nhân đạt mức kiểm soát tiêu chuẩn từ 4,4 đến 7,2 mmol/l.
  • Thực trạng tuân thủ và yếu tố liên quan: Điểm tuân thủ MARS-5 trung bình đạt 19,4 ± 3,7 điểm. Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ tốt chỉ chiếm 22,6% (35 bệnh nhân), còn lại 77,4% tuân thủ kém (120 bệnh nhân) do các hành vi thỉnh thoảng quên uống thuốc (62,6%) và tự ý bỏ lỡ liều (62,6%). Có 63,9% bệnh nhân bị trì hoãn tái khám do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Phân tích hồi quy logistic đơn biến chỉ ra tình trạng việc làm là yếu tố có mối liên quan ý nghĩa với tuân thủ dùng thuốc (OR = 3,636; 95% CI: 1,628 - 8,123; p = 0,002).

Thảo luận kết quả

Cơ cấu kê đơn tại Trung tâm Y tế huyện Quế Võ cho thấy sự bám sát chặt chẽ các hướng dẫn điều trị hiện hành khi lấy Metformin làm nền tảng đầu tay phối hợp cùng nhóm Sulfonylure thế hệ 2. Dữ liệu kê đơn này có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ tròn với hai lát cắt rõ rệt: 92,3% phác đồ thuốc uống kết hợp và 7,7% phác đồ chứa insulin, phản ánh đặc thù quản lý ngoại trú tuyến huyện ưu tiên các dạng thuốc viên tiện dụng.

Tuy nhiên, tỷ lệ kiểm soát đường huyết đạt mục tiêu còn rất khiêm tốn (chỉ 25,5% đạt HbA1c < 7,0%). Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc tỷ lệ tuân thủ điều trị kém lên tới 77,4%. Bệnh nhân tại địa bàn phần lớn là người cao tuổi ở nông thôn (89,0%), trình độ văn hóa dưới trung học phổ thông chiếm 56,2% và điểm kiến thức bệnh DKT2 trung bình chỉ đạt 4,8 ± 1,8 trên thang 14 điểm. Đáng chú ý, tỷ lệ trả lời đúng về cách xử trí hạ đường huyết chỉ đạt 7,7%.

Bên cạnh đó, đại dịch COVID-19 đã gây gián đoạn tiếp cận y tế, khiến 63,9% bệnh nhân trễ hẹn khám và 66,5% cạn kiệt thuốc trước ngày tái khám. Khi so sánh tương quan qua bảng số liệu hồi quy logistic, nhóm bệnh nhân còn đang đi làm hoặc tự kinh doanh có mức độ tuân thủ cao gấp 3,636 lần so với nhóm nghỉ hưu hoặc không có việc làm. Điều này phản ánh tính chủ động và khả năng tự quản lý chăm sóc bản thân tốt hơn ở những người có hoạt động xã hội thường xuyên.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực tế, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp can thiệp cụ thể:

  • Thiết lập mô hình tư vấn Dược lâm sàng chuyên sâu tại Khoa Khám bệnh: Dược sĩ lâm sàng phối hợp cùng bác sĩ thực hiện tư vấn trực tiếp 1-1 cho 100% người bệnh ngoại trú khi nhận thuốc định kỳ. Tập trung hướng dẫn cách dùng thuốc đúng giờ, kỹ năng xử trí hạ đường huyết và theo dõi biến chứng, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc từ 22,6% lên trên 55,0% trong vòng 12 tháng.
  • Cá thể hóa phác đồ và tối ưu hóa kiểm soát đường huyết: Bác sĩ điều trị tiến hành rà soát định kỳ 3 tháng một lần cho 74,5% nhóm bệnh nhân chưa đạt mục tiêu HbA1c. Kịp thời hiệu chỉnh liều lượng hoặc bổ sung phối hợp thuốc phù hợp nhằm nâng tỷ lệ bệnh nhân đạt HbA1c dưới 7,0% từ 25,5% lên mức tối thiểu 45,0% trước quý IV năm 2023.
  • Tổ chức các câu lạc bộ giáo dục sức khỏe bệnh đái tháo đường: Trung tâm Y tế huyện Quế Võ chủ trì phối hợp với các Trạm Y tế xã tổ chức sinh hoạt định kỳ mỗi quý. Cung cấp tài liệu truyền thông chuẩn hóa về dinh dưỡng và vận động, phấn đấu nâng điểm kiến thức bệnh DKT2 trung bình từ 4,8 lên trên 8,0 điểm cho người bệnh trên địa bàn.
  • Triển khai giải pháp số hỗ trợ nhắc lịch tái khám và cấp phát thuốc linh hoạt: Phòng Công nghệ thông tin và Khoa Dược tích hợp hệ thống tin nhắn tự động nhắc lịch khám trước 3 ngày, đồng thời xây dựng quy trình cấp phát thuốc dự phòng tối đa 60 ngày cho bệnh nhân ổn định trong các tình huống khẩn cấp, giúp giảm tỷ lệ trễ hẹn lĩnh thuốc từ 63,9% xuống dưới 15,0% trong năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm chuyên môn:

  • Dược sĩ lâm sàng tại các bệnh viện và trung tâm y tế tuyến quận/huyện: Sử dụng số liệu thực chứng và bộ công cụ đo lường MARS-5, DKT2, DMSES để xây dựng quy trình can thiệp dược, tư vấn sử dụng thuốc an toàn cho bệnh nhân ngoại trú.
  • Bác sĩ chuyên khoa Nội tiết và Bác sĩ khám bệnh đa khoa: Tham khảo thực trạng phân bố phác đồ hạ đường huyết (92,3% dùng phối hợp Metformin + Sulfonylure) và các rào cản khiến 74,5% bệnh nhân chưa đạt HbA1c mục tiêu để điều chỉnh chỉ định lâm sàng.
  • Nhà quản lý y tế và Ban giám đốc cơ sở khám chữa bệnh công lập: Ứng dụng các phân tích về tác động gián đoạn y tế trong dịch bệnh để xây dựng kế hoạch quản lý bệnh mạn tính, bảo đảm chuỗi cung ứng dược phẩm và tối ưu hóa chính sách bảo hiểm y tế.
  • Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Dược lý - Dược lâm sàng: Tham khảo mô hình nghiên cứu cắt ngang chuẩn mực, phương pháp phân tích hồi quy logistic đa biến trên SPSS 22.0 và quy trình đánh giá các yếu tố tâm lý xã hội trong sử dụng thuốc.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 trong nghiên cứu đạt bao nhiêu?
Theo thang đo chuẩn hóa MARS-5, chỉ có 22,6% bệnh nhân (35 người) đạt mức tuân thủ dùng thuốc tốt. Có tới 77,4% bệnh nhân (120 người) tuân thủ kém, với lý do phổ biến nhất là thỉnh thoảng quên uống thuốc (62,6%) và thỉnh thoảng bỏ lỡ liều điều trị (62,6%).

Phác đồ điều trị hạ đường huyết nào được sử dụng phổ biến nhất tại cơ sở?
100% bệnh nhân trong nghiên cứu đều sử dụng Metformin. Trong đó, phác đồ kết hợp hai thuốc đường uống Metformin và Gliclazid chiếm tỷ lệ cao nhất với 67,1% (104 bệnh nhân). Toàn bộ các phác đồ phối hợp đường uống chiếm 92,3%, trong khi phác đồ có chứa Insulin chỉ chiếm 7,7%.

Tỷ lệ kiểm soát đường huyết của người bệnh đạt mục tiêu điều trị là bao nhiêu?
Hiệu quả kiểm soát đường huyết còn ở mức thấp khi chỉ có 25,5% bệnh nhân đạt chỉ số HbA1c mục tiêu dưới 7,0% và 30,2% bệnh nhân đạt chỉ số glucose huyết đói từ 4,4 đến 7,2 mmol/l. Có tới 74,5% bệnh nhân chưa đạt mục tiêu kiểm soát chuyển hóa.

Yếu tố nào có ảnh hưởng rõ rệt nhất đến mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh?
Phân tích hồi quy logistic đơn biến xác định tình trạng việc làm là yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê (p = 0,002). Nhóm bệnh nhân đang đi làm hoặc tự kinh doanh có tỷ lệ tuân thủ tốt cao gấp 3,636 lần so với nhóm bệnh nhân nghỉ hưu hoặc không có việc làm.

Đại dịch COVID-19 đã tác động như thế nào đến việc sử dụng thuốc của bệnh nhân?
Dịch bệnh tạo ra tâm lý lo sợ với điểm trung bình 25,9 ± 2,5 trên thang 35 điểm, khiến 63,9% bệnh nhân trì hoãn đi tái khám định kỳ. Hậu quả là 66,5% bệnh nhân bị hết thuốc trước lịch hẹn, trong đó 12,6% đã chọn cách tự ý bỏ thuốc để chờ đợt khám tiếp theo.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng sử dụng thuốc hạ đường huyết trên 155 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Trung tâm Y tế huyện Quế Võ, ghi nhận 100% bệnh nhân được chỉ định Metformin và 67,1% sử dụng phác đồ kết hợp Metformin + Gliclazid.
  • Tỷ lệ kiểm soát đường huyết đạt chuẩn còn rất thấp với chỉ 25,5% bệnh nhân đạt mục tiêu HbA1c dưới 7,0% và nồng độ glucose huyết đói trung bình ở mức cao 9,1 ± 3,6 mmol/l.
  • Mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh chưa cao khi có tới 77,4% bệnh nhân tuân thủ kém theo thang đo MARS-5, chịu ảnh hưởng lớn từ sự gián đoạn y tế trong đại dịch COVID-19 (63,9% trễ hẹn tái khám).
  • Mô hình hồi quy logistic khẳng định tình trạng việc làm là yếu tố độc lập tác động mạnh mẽ đến hành vi dùng thuốc của bệnh nhân (OR = 3,636; p = 0,002).
  • Công trình đã đóng góp cơ sở dữ liệu thực tiễn giá trị, đặt nền móng cho việc chuẩn hóa quy trình tư vấn Dược lâm sàng và cá thể hóa điều trị bệnh đái tháo đường tại tuyến y tế cơ sở.

Các cơ sở y tế tuyến quận, huyện cần nhanh chóng ứng dụng các khuyến nghị từ luận văn để triển khai chương trình giám sát tuân thủ điều trị ngay trong quý tới, góp phần nâng cao chất lượng sống và giảm thiểu gánh nặng biến chứng cho người bệnh đái tháo đường.