ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) trở thành bệnh lý đáng báo động nhất trên toàn thế giới từ những năm đầu của thế kỷ 21. Theo cuộc điều tra của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (International Diabetes Federation –IDF 2021), trên thế giới có 537 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh ĐTĐ, dự kiến sẽ đạt 643 triệu người vào năm 2030 và 783 triệu người vào năm 2045. Tại Việt Nam, có khoảng gần 3,8 triệu người phải chung sống với căn bệnh ĐTĐ (năm 2019), hầu hết trong số này là ĐTĐ týp 2 và sinh sống ở các nước đang phát triển, những nước có thu nhập thấp và trung bình [26]. ĐTĐ là một bệnh mạn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc cơ thể không sử dụng insulin một cách hiệu quả, tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [1].
Khi bệnh ĐTĐ không được quản lý chặt chẽ có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, thậm chí tử vong. Do đó bệnh nhân ĐTĐ phải tốn một chi phí điều trị bệnh không hề nhỏ, đây quả thực là một gánh nặng không chỉ với bệnh nhân nói riêng mà cả toàn xã hội nói chung. Trong điều trị ĐTĐ điều chỉnh chế độ ăn uống và tập luyện, sử dụng thuốc luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát, giúp ngăn ngừa các biến chứng của bệnh [5]. Cùng với sự phát triển của Y Dược học, ngày càng có nhiều thuốc điều trị ĐTĐ được đưa vào sử dụng, phong phú và đa dạng về dược chất, dạng bào chế cũng như giá cả, mang lại nhiều thuận lợi trong việc điều trị bệnh song cũng là một thách thức không hề nhỏ trong việc lựa chọn và sử dụng thuốc một các hợp lý đảm bảo: hiệu quả, an toàn và kinh tế.
Bệnh viện Hữu Nghị Lạc Việt Phúc Yên là bệnh viện thuộc địa bàn Tỉnh Vĩnh Phúc với chức năng chức năng khám, chữa bệnh chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh. Những năm gần đây, số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện ngày càng gia tăng, trong đó tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ chiếm tỷ lệ cao. Hầu hết các bệnh nhân sau khi được chẩn đoán ĐTĐ thường được điều trị bệnh ngoại 1 trú. Để nâng cao chất lượng khám và điều trị cho bệnh nhân tại Bệnh viện thì việc sử dụng thuốc hợp lý an toàn cho bệnh nhân là rất cần thiết.
Tuy nhiên, cho đến nay tại Bệnh viện chưa có đề tài nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2 ngoại trú. Vì vậy, để có một cách nhìn tổng thể chúng tôi tiến hành đề tài : “Phân tích tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Hữu Nghị Lạc Việt Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc năm 2021” với hai mục tiêu sau: 1. Phân tích đặc điểm sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường týp 2 trên bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Hữu Nghị Lạc Việt Phúc Yên. Phân tích hiệu quả điều trị sau 3 tháng; 6 tháng điều trị trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Hữu Nghị Lạc Việt Phúc Yên.
2 TỔNG QUAN Tổng quan về bệnh đái tháo đường Định nghĩa Bệnh Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrat, protid, lipid, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [4]. Đặc điểm dịch tễ của bệnh đái tháo đường Đái tháo đường (ĐTĐ) là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng đường máu do hiệu quả của việc thiếu/hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan tới sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin. ĐTĐ là một bệnh rối loạn chuyển hóa đang có tốc độ phát triển nhanh.
Theo tổ chức Y tế thế giới WHO có 422 triệu người trưởng thành trên 18 tuổi đang mắc bệnh đái tháo đường vào năm 2016. Đái tháo đường là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu. Năm 2019, trên toàn thế giới có 463 triệu người lớn (độ tuổi 20-79) tương đương 1 trong 11 người trưởng thành đang sống với bệnh đái tháo đường. Dự đoán vào năm 2045, con số này sẽ tăng tới khoảng 700 triệu người, hay nói cách khác 1 người trong 10 người lớn sẽ có bệnh đái tháo đường.
Tuy nhiên, gần một nửa số người đang sống với bệnh đái tháo đường (độ tuổi 20-79) không được chẩn đoán (46,5%), tỷ lệ này ở khu vực Tây Thái Bình Dương là 52. Ước tính hơn 4 triệu người trong độ tuổi từ 20-79 đã tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến đái tháo đường trong năm 2019. Bệnh đái tháo đường gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, và cắt cụt chi [1]. Đáng lưu ý, có tới 70% trường hợp ĐTĐ týp 2 có thể dự phòng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh bằng tuân thủ lối sống lành mạnh (dinh dưỡng hợp lý, luyện tập thể dục…) [26].
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang phải gánh chịu áp lực từ 3 sự gia tăng rõ rệt người mắc bệnh ĐTĐ trong cộng đồng. Tại Việt Nam, năm 1990 của thế kỷ trước, tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1% (ở thành phố Hà Nội), 2,52% (ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (ở thành phố Huế), thì nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy: tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,42%, tỷ lệ đái tháo đường chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6%. Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 7,3%, rối loạn glucose huyết lúc đói 1,9% (toàn quốc năm 2003). Tỷ lệ người mắc ĐTĐ tăng nhanh và ngày càng trẻ hóa, hầu hết trong số này là ĐTĐ týp 2.
ĐTĐ được xếp vào một trong ba bệnh gây tàn phế và tử vong nhất (xơ vữa động mạch, ung thư, ĐTĐ). Trong đó, bệnh đái tháo đường týp 2 chiếm 85 - 95% [1]. Đây đều là những con số đáng kinh ngạc cho thấy ĐTĐ đã và đang trở thành một vấn đề lớn của Y tế toàn cầu. Tất cả các quốc gia dù giàu hay nghèo đều đang phải chịu tác động không hề nhỏ của căn bệnh này và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ.
Phân loại đái tháo đường Có nhiều cách phân loại bệnh đái tháo đường, nhưng theo phân loại mới của WHO dựa theo týp bệnh căn hiện đang được sử dụng rộng rãi. Bệnh đái tháo đường được phân thành 4 loại chính như sau[1]: Đái tháo đường týp 1: Do tế bào β của tuyến tụy bị phá hủy, dẫn đến thiếu hụt insulin tuyệt đối Đái tháo đường týp 2: Do quá trình giảm chức năng của tế bào beta tụy tiến triển trên nền tảng đề kháng insulin. Đái tháo đường thai kỳ: là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ týp 1, týp 2 trước đó). Các loại ĐTĐ đặc biệt do các nguyên nhân khác như ĐTĐ sơ sinh hoặc đái tháo đường do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô… 4 Đặc điểm và cơ chế bệnh sinh Đái tháo đường týp 1 Đặc trưng của ĐTĐ typ 1 là sự thiếu hụt insulin tuyệt đối.
Các tế bào β tuyến tụy chủ yếu bị phá hủy bởi chất trung gian miễn dịch, hiếm trường hợp là ĐTĐ typ 1 vô căn hoặc tự phát [42]. ĐTĐ typ 1 thường xuất hiện ở những người có hệ gen nhạy cảm, 90% các trường hợp dương tính với kháng nguyên HLA-DR3 và HLA- DR4 [34]. Các dấu hiệu nhận biết bệnh gồm có: các tự kháng thể kháng tế bào đảo tụy, tự kháng thể kháng insulin, tự kháng thể kháng glutamic acid decarboxylase (GAD), tự kháng thể kháng tyrosin phosphatase IA -2 và IA 2β [23]. Đái tháo đường týp 2 Có 2 yếu tố cơ bản đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ typ 2 là kháng insulin và rối loạn tiết insulin kết hợp với nhau : Rối loạn tiết insulin: tế bào β đảo tụy bị rối loạn về khả năng sản xuất insulin bình thường về mặt số lượng cũng như chất lượng để đảm bảo cho chuyển hóa glucose bình thường.
Các rối loạn gồm: Bất thường về nhịp tiết và động học bài tiết insulin. Bất thường về số lượng tiết insulin [3]. Tình trạng kháng insulin có thể được thấy ở hầu hết các đối tượng ĐTĐ typ 2 và tăng glucose máu xảy ra khi khả năng bài xuất insulin của các tế bào β đảo tụy không đáp ứng thỏa đáng nhu cầu chuyển hóa [25]. Tình trạng kháng insulin cũng rất phong phú bao gồm, giảm khả năng ức chế sản xuất glucose (gan), giảm khả năng thu nạp glucose (ở mô ngoại vi) và giảm khả năng sử dụng glucose (ở các cơ quan) [3].
Chẩn đoán Theo các Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ - ADA và Liên đoàn ĐTĐ quốc tế IDF đều đồng thuận: tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường týp dựa vào một trong các tiêu chí: Glucose huyết tương lúc đói ≥7,0mmol/l (≥126mg/dl) hoặc: 5 Glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống. Hoặc: Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl) [29], [48].1 Sơ đồ chẩn đoán đái tháo đường 6 Điều trị đái tháo đường týp 2 Nguyên tắc Điều trị đái tháo đường theo các nguyên tắc sau đây [1]: – Lập kế hoạch toàn diện, tổng thể, lấy người bệnh làm trung tâm, cá nhân hóa cho mỗi người mắc đái tháo đường, phát hiện và dự phòng sớm, tích cực các yếu tố nguy cơ, giảm các tai biến và biến cố. – Đánh giá tổng thể và quyết định điều trị dựa trên cơ sở: Tình trạng sức khỏe chung, bệnh lý đi kèm, các chức năng trong hoạt động thường ngày, thói quen sinh hoạt, điều kiện kinh tế, xã hội, yếu tố tâm lý, tiên lượng sống, cá thể hóa mục tiêu điều trị.