Tổng quan nghiên cứu

Dịch bệnh HIV/AIDS tiếp tục là thách thức y tế cộng đồng lớn tại Việt Nam; riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 đã ghi nhận 2.970 trường hợp nhiễm mới và 312 ca tử vong, nâng tổng số người nhiễm còn sống lên hơn 48.000 người. Đứng trước sự chuyển dịch cơ chế tài chính khi các nguồn tài trợ quốc tế cắt giảm dần và chuyển giao sang quỹ Bảo hiểm Y tế (BHYT), việc bảo đảm nguồn cung ứng thuốc liên tục kết hợp triển khai dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) đóng vai trò quyết định trong việc khống chế tỷ lệ lây nhiễm trong cộng đồng dưới mức 0,3%.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề quản trị dược lâm sàng tại tuyến y tế cơ sở thông qua hai mục tiêu cụ thể: mô tả cơ cấu danh mục thuốc ARV và thuốc PrEP đã sử dụng, đồng thời phân tích thực trạng kê đơn thuốc ARV ngoại trú theo các quy định chuyên môn của Bộ Y tế. Không gian nghiên cứu được thực hiện tại Phòng khám ngoại trú thuộc Trung tâm Y tế Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh – đơn vị đang quản lý và điều trị cho hơn 1.700 người nhiễm HIV/AIDS – trong khung thời gian trọn vẹn từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ qua việc chuẩn hóa dữ liệu tiêu thụ thuốc với tổng giá trị hơn 5,1 tỷ đồng. Kết quả phân tích cung cấp cơ sở bằng chứng để nâng cao chất lượng kê đơn, tối ưu hóa chi phí điều trị, hạn chế biến cố bất lợi do thuốc và ngăn ngừa nguy cơ thất bại điều trị, góp phần hiện thực hóa mục tiêu 90-90-90 và duy trì tỷ lệ bệnh nhân đạt tải lượng virus dưới ngưỡng ức chế trên 95%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng liệu pháp kháng retrovirus hoạt tính cao (HAART) với nguyên tắc phối hợp tối thiểu 3 hoạt chất ARV từ ít nhất 2 nhóm dược lý khác nhau nhằm ức chế tối đa sự nhân bản của virus HIV. Khung lý thuyết tích hợp các hướng dẫn chuyên môn y tế bao gồm Quyết định số 5456/QĐ-BYT năm 2019 của Bộ Y tế về điều trị và chăm sóc HIV/AIDS, Thông tư số 52/2017/TT-BYT và Thông tư số 18/2018/TT-BYT về kê đơn thuốc ngoại trú, cùng Thông tư số 28/2018/TT-BYT quy định quản lý điều trị người nhiễm HIV tại cơ sở y tế.

Hệ thống lý thuyết vận dụng các khái niệm cốt lõi:

  • Thuốc ARV và cơ chế tác dụng của các nhóm ức chế men sao chép ngược nucleoside (NRTI), non-nucleoside (NNRTI), ức chế men tích hợp (INSTI) và ức chế protease (PI).
  • Dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) bằng phác đồ chứa Tenofovir giúp giảm nguy cơ lây nhiễm HIV từ 96% đến 99%.
  • Thất bại điều trị gồm thất bại lâm sàng, thất bại miễn dịch (CD4 giảm dưới 250 tế bào/mm3) và thất bại virus học (tải lượng HIV từ 1.000 bản sao/ml trở lên sau 6 tháng điều trị liên tục).
  • Bộ chỉ số đánh giá thực hành kê đơn hợp lý theo chuẩn Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 1993).

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu dựa trên số liệu quản lý dược và hồ sơ bệnh án điện tử eClinica trong năm 2020, được tiến hành phân tích từ tháng 01/2022 đến tháng 05/2022.

Quy trình chọn mẫu và thu thập dữ liệu được phân định cụ thể theo từng mục tiêu:

  • Đối với cơ cấu thuốc: Thu thập toàn bộ 14 khoản mục thuốc ARV và PrEP xuất hiện trong các báo cáo xuất nhập tồn định kỳ hàng tháng của Khoa Dược năm 2020.
  • Đối với thực trạng kê đơn: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính tỷ lệ với mức ý nghĩa alpha 0,1 (độ tin cậy 90%, Z = 1,65), sai số tuyệt đối d = 0,05 và tỷ lệ ước lượng P = 0,1, xác định cỡ mẫu tối thiểu là 98 bệnh án. Đề tài lựa chọn 100 bệnh án ngoại trú từ tổng thể 1.700 bệnh án đủ tiêu chuẩn thông qua kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu k = 17 và số ngẫu nhiên ban đầu r = 10. Từ 100 bệnh án này, toàn bộ 709 đơn thuốc (gồm 1.058 lượt kê thuốc) trong năm 2020 được đưa vào phân tích.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel là khả năng đối chiếu định lượng trực tiếp các chỉ tiêu hành chính và chỉ định chuyên môn với các giá trị chuẩn của Bộ Y tế và WHO, bảo đảm tính xác thực và khả năng tái lập của nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cơ cấu cung ứng và tiêu thụ thuốc: Cơ sở đã sử dụng 12 loại thuốc với tổng giá trị tiêu thụ đạt hơn 5,1 tỷ đồng. Thuốc viên kết hợp Tenofovir/Lamivudine/Dolutegravir (TLD 300/300/50mg) chiếm tỷ trọng tiêu thụ lớn nhất với 402.999 viên (chiếm 43,0% tổng số lượng), trong khi thuốc PrEP Tenofovir/Emtricitabine 300/200mg đạt 75.811 viên. Về nguồn cung ứng, quỹ BHYT chi trả lớn nhất với 63,7% giá trị, nguồn Quỹ Toàn cầu chiếm 35,0% đến 45,0%, nguồn Pepfar cung ứng thuốc PrEP chiếm 5,8%, và nguồn ngân sách nhà nước chỉ chiếm 1,2%.

Thứ hai, về nguồn gốc và dạng bào chế: Thuốc ngoại nhập chiếm tỷ trọng áp đảo lên đến 98,0% giá trị tiêu thụ (trong đó Ấn Độ chiếm 9 trên 14 tên biệt dược, Đức chiếm 2 loại và Indonesia chiếm 1 loại). Thuốc sản xuất trong nước chỉ chiếm 2,0% giá trị với 2 hoạt chất đơn lẻ là Jimenez TDF 300mg và Lamivudine 150mg. Dạng thuốc đa thành phần phối hợp liều cố định chiếm 66,7% danh mục (8 loại thuốc), trong khi dạng đơn thành phần chiếm 33,3% (4 loại thuốc).

Thứ ba, về tuân thủ quy chế kê đơn: Khảo sát 709 đơn thuốc cho thấy 100% đơn thuốc thực hiện đúng mẫu đơn, ghi đầy đủ họ tên, tuổi, giới tính và chẩn đoán bệnh. Về chỉ định điều trị, phác đồ ưu tiên bậc 1 TLD (TDF/3TC/DTG) chiếm 73,8% (523 đơn), tiếp theo là phác đồ bậc 2 chứa Lopinavir/Ritonavir chiếm 10,3% (73 đơn).

Thứ tư, về các chỉ số hạn chế trong kê đơn: Tỷ lệ ghi đầy đủ nồng độ, hàm lượng thuốc chỉ đạt 50,0% trên tổng số 1.058 lượt kê. Tỷ lệ đơn thuốc có sửa chữa chiếm 4,1% (29 đơn), trong đó chỉ 2,4% (17 đơn) có chữ ký xác nhận của bác sĩ bên cạnh phần sửa. Sai sót chỉ định nhầm nguồn cung ứng thuốc giữa BHYT và viện trợ xảy ra ở 2,2% số lượt kê (23 lượt). Tỷ lệ thay đổi phác đồ trong mẫu nghiên cứu chiếm 7,8% (55 đơn), gồm đổi phác đồ 1 lần chiếm 5,1% và đổi 2 lần chiếm 2,7%.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu nguồn cung ứng tại Trung tâm Y tế Quận 4 phản ánh sự chuyển dịch thành công sang cơ chế tài chính BHYT (chiếm 63,7%), phù hợp với định hướng giảm dần phụ thuộc viện trợ quốc tế của Chính phủ. Dữ liệu này có thể được trình bày rõ ràng qua biểu đồ tròn phân bố nguồn tài chính và biểu đồ cột so sánh giá trị giữa thuốc nhập khẩu (98,0%) và thuốc sản xuất trong nước (2,0%). Sự chênh lệch quá lớn về nguồn gốc thuốc chỉ ra điểm nghẽn của công nghiệp dược nội địa khi chưa sản xuất được các thuốc ARV phối hợp 3 hoạt chất liều cố định, buộc cơ sở phải sử dụng thuốc ngoại nhập có giá thành cao hơn từ 8 đến 10 lần.

Tỷ lệ chỉ định phác đồ bậc 1 TLD đạt 73,8% thể hiện sự cập nhật nhanh chóng theo Quyết định 5456/QĐ-BYT năm 2019. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Hoa năm 2018 tại Hòa Bình (68,2% dùng phác đồ TDF/3TC/EFV) và nghiên cứu của Đặng Thị Bích Hòa năm 2018 tại Gò Vấp (69,1% dùng TDF/3TC/EFV). Việc chuyển đổi từ hoạt chất Efavirenz sang Dolutegravir mang lại hiệu quả vượt trội trong việc giảm biến cố bất lợi trên hệ thần kinh trung ương và hạn chế đột biến kháng thuốc.

Tỷ lệ thay đổi phác đồ ở mức 7,8% phản ánh thực tế tối ưu hóa điều trị khi chuyển sang phác đồ TLD và xử trí các trường hợp gặp tác dụng không mong muốn. Tuy nhiên, việc chỉ có 50,0% lượt kê ghi đầy đủ hàm lượng và 2,2% nhầm lẫn nguồn thuốc cho thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin qua phần mềm khám chữa bệnh ngoại trú vẫn còn những lỗ hổng kỹ thuật cần được can thiệp đồng bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa phần mềm quản lý bệnh án điện tử và kê đơn ngoại trú: Nâng cấp tính năng kiểm soát lỗi tự động trên hệ thống eClinica, thiết lập trường dữ liệu bắt buộc về nồng độ, hàm lượng và khóa định danh nguồn thuốc (BHYT, Quỹ Toàn cầu, Pepfar) theo từng đối tượng bệnh nhân. Mục tiêu nâng tỷ lệ ghi đúng hàm lượng từ 50,0% lên 100% và giảm tỷ lệ sai sót nguồn thuốc từ 2,2% về mức 0% trong vòng 6 tháng, do Tổ Công nghệ thông tin phối hợp với Khoa Dược thực hiện.

  2. Tối ưu hóa quy trình lập kế hoạch dự trù và cung ứng thuốc: Thực hiện nghiêm ngặt quy trình lập nhu cầu thuốc ARV và PrEP theo Thông tư số 08/2018/TT-BYT trước ngày 10/3 hàng năm. Thiết lập định mức tồn kho an toàn cho 12 loại thuốc chủ lực, đặc biệt là nhóm thuốc viên kết hợp TLD, bảo đảm chuỗi cung ứng không bị đứt gãy do Ban Giám đốc Trung tâm Y tế Quận 4 và Khoa Dược chủ trì định kỳ mỗi quý.

  3. Tăng cường đào tạo và giám sát quy chế chuyên môn dược: Tổ chức tối thiểu 02 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm cho đội ngũ bác sĩ và dược sĩ về Thông tư 52/2017/TT-BYT, quy chế quản lý thuốc kiểm soát đặc biệt (chiếm 17% danh mục) và quy trình xử trí đơn thuốc sửa chữa nhằm đưa tỷ lệ ký xác nhận đơn sửa từ 2,4% lên 100%, do Hội đồng Thuốc và Điều trị chịu trách nhiệm giám sát.

  4. Phát triển chính sách khuyến khích sản xuất thuốc ARV trong nước: Kiến nghị Cục Quản lý Dược và Bộ Y tế tạo điều kiện chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc ARV đa thành phần liều cố định cho các doanh nghiệp dược nội địa, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng sử dụng thuốc nội từ 2,0% lên 15% đến 20% trong giai đoạn 2023-2025 nhằm tiết kiệm 30% đến 50% chi phí ngân sách y tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Bác sĩ và nhân viên y tế tại các phòng khám ngoại trú điều trị HIV/AIDS: Tham khảo dữ liệu thực tế từ 709 đơn thuốc để nắm vững mô hình tối ưu hóa phác đồ bậc 1 TLD (chiếm 73,8%), kỹ năng theo dõi phản ứng có hại của thuốc và các biện pháp giảm thiểu sai sót hành chính khi kê đơn.
  • Dược sĩ bệnh viện và cán bộ quản lý cung ứng dược: Áp dụng phương pháp phân tích cơ cấu 14 danh mục thuốc, kỹ thuật tính toán tồn kho và kinh nghiệm điều phối 4 nguồn thuốc khác nhau khi chuyển đổi sang cơ chế BHYT chi trả 63,7%.
  • Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý y tế: Cung cấp bằng chứng thực tế cho Sở Y tế TP.HCM, Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (HCDC) và Cục Phòng, chống HIV/AIDS trong việc định hướng mua sắm tập trung, phân bổ nguồn lực hơn 5,1 tỷ đồng và xây dựng chính sách ưu tiên thuốc nội.
  • Học viên sau đại học, giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Dược: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu, công thức chọn mẫu hệ thống (k = 17) và hệ thống biến số kinh tế - dược lâm sàng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao phác đồ TDF/3TC/DTG lại chiếm tỷ lệ kê đơn cao nhất với 73,8%? Phác đồ TDF/3TC/DTG được Bộ Y tế ưu tiên hàng đầu theo Quyết định số 5456/QĐ-BYT năm 2019 nhờ hiệu quả ức chế virus nhanh, rào cản kháng thuốc cao và ít độc tính trên thần kinh hơn phác đồ chứa Efavirenz. Tại Quận 4, có 523 trên 709 đơn thuốc áp dụng phác đồ này giúp bệnh nhân dung nạp tốt và duy trì điều trị lâu dài.

  2. Tỷ lệ thuốc ARV sản xuất trong nước tại phòng khám là bao nhiêu và nguyên nhân do đâu? Thuốc sản xuất trong nước chỉ chiếm 2,0% giá trị tiêu thụ với 2 sản phẩm đơn chất là Jimenez TDF 300mg và Lamivudine 150mg. Tỷ lệ này thấp vì các công ty dược trong nước chưa sản xuất được dạng phối hợp 3 hoạt chất trong một viên, dẫn đến việc 98,0% chi phí phải phụ thuộc vào thuốc nhập khẩu từ Ấn Độ và Đức.

  3. Việc chuyển dịch nguồn cung ứng sang quỹ BHYT tại cơ sở đạt kết quả ra sao? Nguồn chi trả từ quỹ BHYT đã trở thành nguồn chủ lực, chiếm 63,7% tổng giá trị tiêu thụ thuốc tại phòng khám năm 2020. Sự chuyển đổi này giúp bù đắp sự sụt giảm nguồn viện trợ quốc tế, bảo đảm nguồn thuốc liên tục cho hơn 1.700 bệnh nhân mà không gây gián đoạn quá trình điều trị.

  4. Những sai sót chính được ghi nhận trong quá trình kê đơn thuốc ngoại trú là gì? Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ ghi đúng và đủ nồng độ, hàm lượng thuốc chỉ đạt 50,0%, có 2,2% số lượt kê nhầm giữa nguồn thuốc BHYT và nguồn viện trợ, cùng với 2,4% đơn thuốc có sửa chữa nhưng thiếu chữ ký xác nhận của bác sĩ theo quy định Thông tư 52/2017/TT-BYT.

  5. Hiệu quả triển khai chương trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) được ghi nhận thế nào? Trong năm 2020, cơ sở đã cấp phát 75.811 viên thuốc PrEP Tenofovir/Emtricitabine 300/200mg từ nguồn Pepfar (chiếm 5,8% cơ cấu thuốc). Các dữ liệu dịch tễ khẳng định việc tuân thủ PrEP hàng ngày giúp giảm nguy cơ lây nhiễm HIV qua đường tình dục từ 96% đến 99% cho các nhóm có nguy cơ cao.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ cấu 12 loại thuốc ARV và PrEP với tổng giá trị hơn 5,1 tỷ đồng, trong đó quỹ BHYT đóng vai trò chủ chốt khi chi trả 63,7% kinh phí.
  • Khẳng định tính cập nhật chuyên môn cao khi phác đồ tối ưu bậc 1 TLD (TDF/3TC/DTG) chiếm tỷ trọng áp đảo 73,8% trong 709 đơn thuốc khảo sát.
  • Phản ánh thực trạng phụ thuộc sâu sắc vào nguồn dược phẩm nhập khẩu chiếm 98,0% giá trị, mở ra yêu cầu cấp thiết về việc tự chủ sản xuất thuốc ARV trong nước.
  • Đánh giá khách quan chất lượng thực hành kê đơn từ 100 bệnh án ngoại trú, ghi nhận 100% tuân thủ các thủ tục hành chính cơ bản nhưng cần khắc phục tỷ lệ 50,0% đơn thiếu hàm lượng và 2,2% kê sai nguồn.
  • Xác định tỷ lệ thay đổi phác đồ điều trị ở mức 7,8%, chứng minh hiệu quả duy trì đáp ứng thuốc ổn định của bệnh nhân nhiễm HIV tại Trung tâm Y tế Quận 4.

Về đóng góp khoa học, luận văn là tài liệu thực chứng giá trị về mô hình quản trị dược tại tuyến y tế quận huyện trong giai đoạn chuyển đổi BHYT. Về kế hoạch tiếp theo, cơ sở y tế cần triển khai nâng cấp phần mềm kê đơn trong 6 tháng đầu năm và duy trì giám sát định kỳ hàng quý trong lộ trình 2023-2025. Bạn đọc có thể liên hệ hoặc tra cứu toàn văn luận văn tại Thư viện Trường Đại học Dược Hà Nội để khai thác chi tiết bộ dữ liệu và áp dụng các giải pháp quản lý dược vào đơn vị của mình.