Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc các bệnh lý nhiễm khuẩn chiếm 16,7% tổng số ca bệnh nội trú, đứng thứ hai chỉ sau các bệnh lý tim mạch (18,4%). Thực trạng này dẫn đến việc sử dụng kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách y tế, dao động từ 34% đến 38,1% tổng chi phí tiền thuốc tại các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện. Tình trạng lạm dụng và kê đơn kháng sinh phổ rộng không đúng chỉ định đang đẩy mức độ kháng thuốc lên mức báo động, đe dọa trực tiếp đến hiệu quả điều trị và an toàn của người bệnh.

Luận văn chuyên khoa cấp I ngành Dược lý - Dược lâm sàng của dược sĩ Dương Quang Trung thực hiện tại Trường Đại học Dược Hà Nội tập trung giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: Khảo sát thực trạng tiêu thụ kháng sinh nội trú giai đoạn 2020 - 2021 và phân tích tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phế quản cấp nội trú tại Trung tâm Y tế huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.

Nghiên cứu được triển khai tại cơ sở khám chữa bệnh hạng II tuyến huyện trong phạm vi thời gian từ ngày 03/01/2022 đến 03/05/2022, trích xuất dữ liệu tiêu thụ dược phẩm trong 24 tháng (2020 - 2021) và phân tích chuyên sâu 90 hồ sơ bệnh án năm 2021. Kết quả nghiên cứu xác lập bức tranh toàn cảnh về mức độ tiêu thụ thuốc với mật độ trung bình toàn viện đạt 42,4 DDD/100 ngày nằm viện, đồng thời phát hiện 38,9% ca bệnh viêm phế quản cấp được chỉ định kháng sinh chưa thỏa mãn hướng dẫn chuyên môn. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng chuẩn xác làm nền tảng triển khai Chương trình Quản lý sử dụng kháng sinh (AMS) theo Quyết định 5631/QĐ-BYT của Bộ Y tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng Chương trình Quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện theo Quyết định số 5631/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 và Quyết định số 772/QĐ-BYT ngày 04/03/2016 của Bộ Y tế. Mô hình này thiết lập các trụ cột giám sát tiêu thụ dược phẩm định kỳ, kiểm soát nhiễm khuẩn và can thiệp dược lâm sàng nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học (ATC) kết hợp Đơn vị liều xác định hàng ngày (Defined Daily Dose - DDD) do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chuẩn hóa. Các khái niệm và mô hình chuyên ngành then chốt được vận hành bao gồm:

  • Chỉ số DDD/100 ngày nằm viện: Thước đo chuẩn hóa cường độ tiêu thụ kháng sinh, phản ánh số liều dùng chuẩn trên 100 ngày điều trị nội trú.
  • Kháng sinh nhóm 2 cần theo dõi và giám sát: Danh mục các thuốc phổ rộng có nguy cơ kháng thuốc cao như Fluoroquinolon, Aminoglycosid, Cephalosporin thế hệ 3 và thế hệ 4.
  • Đánh giá tính hợp lý của phác đồ: Đối chiếu chỉ định, liều dùng, đường dùng, tương tác thuốc và chống chỉ định theo Hướng dẫn sử dụng kháng sinh ban hành kèm Quyết định 708/QĐ-BYT ngày 02/03/2015 và Dược thư Quốc gia Việt Nam năm 2020.
  • Bệnh học viêm phế quản cấp: Nhiễm trùng cấp tính niêm mạc phế quản với hơn 60% căn nguyên do virus, đa phần tự giới hạn và chỉ dùng kháng sinh khi có bằng chứng nhiễm khuẩn rõ ràng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu kết hợp hai nhánh phương pháp:

Nhánh định lượng tiêu thụ: Thu thập hồi cứu toàn bộ số liệu xuất nhập kho dược và dữ liệu ngày nằm viện thực tế từ phần mềm quản lý thông tin bệnh viện tại tất cả các khoa lâm sàng nội trú (loại trừ khoa Nhi) trong giai đoạn từ 01/01/2020 đến 31/12/2021. Phương pháp phân tích DDD/100 ngày nằm viện được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc triệt tiêu sai số do quy mô giường bệnh biến động và cho phép so sánh khách quan với các bệnh viện trong nước và quốc tế.

Nhánh đánh giá lâm sàng: Chọn mẫu toàn thể gồm 90 bệnh án bệnh nhân người lớn (từ 16 tuổi trở lên) được chẩn đoán viêm phế quản cấp trong vòng 48 giờ sau nhập viện và có kê đơn kháng sinh trong năm 2021. Tiêu chuẩn loại trừ chặt chẽ áp dụng cho bệnh nhân nằm viện dưới 3 ngày, chuyển tuyến, tử vong hoặc đồng nhiễm từ 2 vị trí nhiễm khuẩn trở lên nhằm bảo đảm tính đồng nhất của mẫu.

Toàn bộ dữ liệu được quản lý và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010. Các biến số liên tục có phân phối chuẩn được trình bày dưới dạng giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn, trong khi các biến phân hạng định tính được biểu diễn bằng tần số và tỷ lệ phần trăm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mức tiêu thụ kháng sinh nội trú có xu hướng gia tăng qua hai năm nghiên cứu. Tổng mật độ tiêu thụ toàn viện tăng từ 40,2 DDD/100 ngày nằm viện (năm 2020) lên 44,8 DDD/100 ngày nằm viện (năm 2021), đạt mức trung bình 42,4 DDD/100 ngày nằm viện. Nhóm Cephalosporin chiếm ưu thế tuyệt đối với 22,6 DDD/100 ngày nằm viện (chiếm 53,3% tổng tiêu thụ), tiếp theo là Penicillin đạt 10,2 DDD/100 ngày nằm viện. Trong phân nhóm Cephalosporin, các hoạt chất thế hệ 3 (C3G) có mức tiêu thụ gấp 6 đến 7 lần so với thế hệ 1 và thế hệ 2.

Khoa lâm sàng có mật độ sử dụng kháng sinh cao nhất lần lượt là Hồi sức tích cực - Chống độc (tăng mạnh từ 46,2 lên 59,9 DDD/100 ngày nằm viện), Ngoại tổng hợp - Chuyên khoa (tăng từ 56,0 lên 58,0 DDD/100 ngày nằm viện) và Phụ sản (giảm từ 60,0 xuống 53,1 DDD/100 ngày nằm viện). Hai hoạt chất có mật độ sử dụng cao nhất toàn viện giai đoạn 2020 - 2021 là Amoxicilin đường uống (7,7 DDD/100 ngày nằm viện) và Cefoperazon đường tiêm (6,7 DDD/100 ngày nằm viện).

Khảo sát 90 bệnh nhân viêm phế quản cấp (tuổi trung bình 56,3 ± 15,7 tuổi, nữ giới chiếm 66,7%, bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm 50,0%) cho thấy thời gian nằm viện trung bình là 7,7 ± 1,7 ngày và thời gian dùng kháng sinh là 6,4 ± 1,7 ngày. Tỷ lệ bệnh nhân có bệnh nền mạn tính mắc kèm là 57,8%, phổ biến nhất là tăng huyết áp (18,9%), đau thắt ngực (7,8%) và đái tháo đường (5,6%). Có 31,1% bệnh nhân từng dùng kháng sinh trước khi nhập viện.

Đánh giá tính hợp lý chỉ định theo Hướng dẫn của Bộ Y tế ghi nhận 61,1% bệnh nhân (55 ca) thỏa mãn tiêu chuẩn dùng kháng sinh (trong đó 45,6% do khạc đờm mủ/vàng/xanh, 7,8% có bệnh lý mạn tính, 6,7% người cao tuổi có yếu tố nguy cơ). Tuy nhiên, có tới 38,9% bệnh án (35 ca) không thỏa mãn các tiêu chí hướng dẫn nhưng vẫn được bác sĩ chỉ định kháng sinh điều trị.

Cơ cấu kê đơn trong điều trị viêm phế quản cấp tập trung vào nhóm Cephalosporin với 59/126 lượt kê (chiếm 46,8%, riêng Cephalosporin thế hệ 3 chiếm 41,3%), Macrolid đạt 21,4%, Penicillin chiếm 18,3% và Quinolon chiếm 12,1%. Kháng sinh đường tiêm truyền tĩnh mạch chiếm tỷ lệ áp đảo 62,7% (79 lượt). Phác đồ đơn độc chiếm 60,0% (54 bệnh nhân, đứng đầu là Ampicillin/Sulbactam 17,8% và Cefoperazon 13,3%), trong khi phác đồ phối hợp 2 kháng sinh chiếm 40,0% (36 bệnh nhân, dẫn đầu là Cefoperazon kết hợp Azithromycin 11,1%).

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua các biểu đồ xu hướng biến thiên 24 tháng và bảng cơ cấu phối hợp thuốc. Việc nhóm Cephalosporin thế hệ 3, đặc biệt là Cefoperazon tiêm, chiếm tỷ trọng cao phản ánh thói quen điều trị bao vây tại tuyến y tế cơ sở. Điều này bắt nguồn từ tâm lý e ngại diễn tiến nặng trên người bệnh cao tuổi (50,0%) và bệnh nhân có bệnh mắc kèm (57,8%).

Thực trạng 38,9% ca viêm phế quản cấp được chỉ định kháng sinh không thỏa mãn tiêu chuẩn hướng dẫn của Bộ Y tế phản ánh khoảng trống lớn trong thực hành lâm sàng. Viêm phế quản cấp phần lớn do virus gây ra, nhưng áp lực điều trị triệu chứng và thói quen kê đơn theo kinh nghiệm khi chưa có kết quả xét nghiệm vi sinh tại chỗ đã thúc đẩy việc lạm dụng thuốc.

So sánh với các nghiên cứu trong nước, kết quả này tương đồng với nghiên cứu đa trung tâm của Trương Anh Thư khi Cephalosporin chiếm 70,2% và gần một phần ba bệnh nhân sử dụng kháng sinh chưa hợp lý. Trên bình diện quốc tế, khảo sát tại 248 bệnh viện ở Úc ghi nhận 24,3% kê đơn không tuân thủ hướng dẫn. Sự phụ thuộc quá mức vào kháng sinh đường tiêm (62,7%) và tỷ lệ phối hợp thuốc lên tới 40,0% trong viêm phế quản cấp tại Yên Lập nhấn mạnh sự cần thiết phải kiểm soát chặt chẽ danh mục thuốc để hạn chế nguy cơ chọn lọc chủng vi khuẩn kháng thuốc.

Đề xuất và khuyến nghị

Kiện toàn Ban Quản lý sử dụng kháng sinh và ban hành quy định sử dụng kháng sinh nội bộ: Hội đồng Thuốc và Điều trị phối hợp cùng Tổ Dược lâm sàng xây dựng phác đồ điều trị nhiễm trùng hô hấp chuẩn hóa cho tuyến huyện. Mục tiêu giảm tỷ lệ chỉ định kháng sinh không đúng hướng dẫn trong viêm phế quản cấp từ 38,9% xuống dưới 15% trong vòng 12 tháng.

Thiết lập quy trình phê duyệt trước đối với kháng sinh cần giám sát nhóm 2: Áp dụng phiếu yêu cầu hội chẩn chuyên môn trước khi cấp phát các hoạt chất thuộc nhóm Fluoroquinolon, Aminoglycosid và Cephalosporin thế hệ 3 đường tiêm. Khoa Dược và các khoa lâm sàng Hồi sức cấp cứu, Ngoại, Nội phối hợp thực hiện nhằm cắt giảm tổng lượng tiêu thụ Cefoperazon và Ciprofloxacin ít nhất 20% sau 6 tháng áp dụng.

Triển khai chương trình xuống thang và chuyển đổi từ đường tiêm sang đường uống (IV-to-PO switch): Bác sĩ điều trị và Dược sĩ lâm sàng thực hiện đánh giá người bệnh sau 48 đến 72 giờ nhập viện. Nếu triệu chứng lâm sàng cải thiện và chức năng tiêu hóa ổn định, chuyển ngay sang kháng sinh đường uống thích hợp. Mục tiêu hạ tỷ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm từ 62,7% xuống dưới 40%, rút ngắn thời gian dùng kháng sinh trung bình từ 6,4 ngày xuống 5,0 ngày trong lộ trình 18 tháng.

Tăng cường năng lực vi sinh và tập huấn dược lâm sàng định kỳ: Phòng Kế hoạch tổng hợp phối hợp Khoa Xét nghiệm đầu tư trang thiết bị nhuộm soi và nuôi cấy vi khuẩn, phấn đấu đạt tỷ lệ xét nghiệm vi sinh trên 30% ca nhiễm khuẩn nội trú nặng. Đồng thời tổ chức đào tạo liên tục mỗi 6 tháng cho 100% bác sĩ kê đơn về Dược lý học, hiệu chỉnh liều theo độ thanh thải creatinin và tương tác thuốc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Dược sĩ lâm sàng và cán bộ Khoa Dược tại các bệnh viện tuyến huyện: Tài liệu hướng dẫn chi tiết quy trình tính toán chỉ số DDD/100 ngày nằm viện theo chuẩn WHO, cung cấp biểu mẫu thu thập bệnh án phục vụ công tác giám sát sử dụng thuốc định kỳ.

Bác sĩ điều trị chuyên khoa Nội, Hồi sức cấp cứu, Ngoại và Phụ sản: Tài liệu lâm sàng hữu ích giúp nhận diện các sai sót thường gặp trong kê đơn viêm phế quản cấp, hỗ trợ lựa chọn kháng sinh đúng căn nguyên và hạn chế các phối hợp thuốc trùng lặp phổ kháng khuẩn.

Ban Giám đốc và Hội đồng Thuốc & Điều trị các cơ sở y tế: Khung tham chiếu thực tiễn để xây dựng và đánh giá hiệu quả hoạt động của Ban Quản lý sử dụng kháng sinh theo Quyết định 5631/QĐ-BYT, giúp kiểm soát ngân sách thuốc và chi phí bảo hiểm y tế.

Học viên sau đại học và sinh viên ngành Dược, Y khoa: Nguồn dữ liệu thực chứng và phương pháp luận chuẩn mực trong thiết kế nghiên cứu đánh giá sử dụng thuốc (Drug Utilization Evaluation - DUE) và phân tích dược tễ học.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số DDD/100 ngày nằm viện có ý nghĩa gì trong quản lý dược bệnh viện? Chỉ số DDD/100 ngày nằm viện là công cụ đo lường chuẩn hóa của WHO, phản ánh số liều dùng xác định hàng ngày trên 100 ngày điều trị nội trú. Chỉ số này giúp triệt tiêu sự khác biệt về quy mô giường bệnh và biến động giá thuốc, cho phép so sánh mức độ tiêu thụ kháng sinh chính xác giữa các khoa phòng và giữa các cơ sở y tế.

Tại sao Cephalosporin thế hệ 3 lại có mức tiêu thụ cao vượt trội tại tuyến huyện? Cephalosporin thế hệ 3, tiêu biểu là Cefoperazon, có phổ kháng khuẩn rộng trên vi khuẩn Gram âm và tiện dụng trong điều trị theo kinh nghiệm. Tại tuyến y tế cơ sở, do hạn chế về xét nghiệm vi sinh định danh vi khuẩn và áp lực điều trị trên người bệnh có nhiều bệnh nền, bác sĩ thường có xu hướng chỉ định thuốc phổ rộng để bao vây nhiễm trùng.

Khi nào bệnh nhân viêm phế quản cấp nội trú có chỉ định dùng kháng sinh? Theo Quyết định 708/QĐ-BYT của Bộ Y tế, kháng sinh chỉ được chỉ định trong viêm phế quản cấp khi có triệu chứng lâm sàng không cải thiện, ho khạc đờm mủ/vàng/xanh, người bệnh có bệnh lý mạn tính phối hợp (tim, phổi, thận, suy giảm miễn dịch) hoặc bệnh nhân trên 65 tuổi có từ hai yếu tố nguy cơ trở lên.

Tác hại của việc lạm dụng kháng sinh đường tiêm và phối hợp thuốc không cần thiết là gì? Việc sử dụng kháng sinh đường tiêm chiếm tới 62,7% và phối hợp thuốc 40,0% không đúng chỉ định làm tăng chi phí điều trị, kéo dài ngày nằm viện, tăng nguy cơ tai biến tiêm truyền và phản ứng có hại của thuốc (ADR). Nghiêm trọng hơn, thực hành này thúc đẩy nhanh quá trình chọn lọc các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc trong môi trường bệnh viện.

Chương trình quản lý sử dụng kháng sinh theo Quyết định 5631/QĐ-BYT yêu cầu thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm nào? Quyết định 5631/QĐ-BYT quy định 6 nhiệm vụ cốt lõi: Thành lập Ban quản lý sử dụng kháng sinh; ban hành các quy định và hướng dẫn điều trị nội bộ; giám sát định kỳ mức độ tiêu thụ và tình hình đề kháng kháng sinh; triển khai các can thiệp dược lâm sàng (duyệt thuốc, chuyển đổi tiêm - uống, xuống thang); đào tạo tập huấn cho nhân viên y tế; đánh giá và phản hồi thông tin kê đơn.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã cung cấp bức tranh định lượng toàn diện về mức độ tiêu thụ kháng sinh tại Trung tâm Y tế huyện Yên Lập giai đoạn 2020 - 2021 với chỉ số trung bình toàn viện đạt 42,4 DDD/100 ngày nằm viện, trong đó nhóm Cephalosporin chiếm tỷ trọng chi phối 53,3%.
  • Phát hiện thực trạng đáng lưu tâm với 38,9% bệnh án viêm phế quản cấp được chỉ định kháng sinh chưa thỏa mãn tiêu chí hướng dẫn của Bộ Y tế, phản ánh sự lạm dụng điều trị theo kinh nghiệm.
  • Ghi nhận tỷ lệ sử dụng kháng sinh đường tiêm (62,7%) và phác đồ phối hợp hai thuốc (40,0%) còn ở mức cao, chủ yếu tập trung vào Cephalosporin thế hệ 3 kết hợp Macrolid.
  • Đề tài đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng và phương pháp luận vững chắc giúp củng cố hoạt động của Ban Quản lý sử dụng kháng sinh và chuẩn hóa phác đồ điều trị nhiễm khuẩn hô hấp tại tuyến cơ sở.
  • Các bệnh viện tuyến huyện cần nhanh chóng thiết lập hệ thống giám sát phê duyệt kháng sinh phổ rộng, triển khai chiến lược chuyển đổi tiêm sang uống và nâng cao vai trò can thiệp của dược sĩ lâm sàng để bảo vệ hiệu lực kháng sinh bền vững.