Tổng quan nghiên cứu

Kháng thuốc kháng sinh đang là một trong những thách thức y tế toàn cầu nghiêm trọng nhất, cướp đi sinh mạng của khoảng 700.000 người mỗi năm theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới. Việc sử dụng kháng sinh quá mức và không hợp lý là nguyên nhân cốt lõi làm gia tăng tốc độ xuất hiện của các chủng vi khuẩn đa kháng. Tại các cơ sở khám chữa bệnh ban đầu, đặc biệt là bệnh viện đa khoa hạng II với quy mô 650 giường bệnh và phục vụ hơn 100.000 người có thẻ bảo hiểm y tế như Bệnh viện Đa khoa Đông Anh, kinh phí dành cho kháng sinh thường chiếm tới 20% tổng ngân sách thuốc toàn viện.

Nghiên cứu được triển khai nhằm giải quyết vấn đề cấp bách trong tối ưu hóa liệu pháp kháng sinh tại tuyến y tế cơ sở. Đề tài tập trung vào hai mục tiêu cốt lõi: phân tích thực trạng tiêu thụ kháng sinh toàn viện giai đoạn 2020 - 2021 và đánh giá tính phù hợp trong chỉ định kháng sinh điều trị viêm phổi mắc phải ở cộng đồng trên bệnh nhân nội trú từ tháng 06/2021 đến tháng 09/2021.

Nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn thông qua việc định lượng chính xác mức tiêu thụ thuốc với chỉ số 46,10 liều xác định trong ngày trên 100 ngày nằm viện, đồng thời cung cấp bằng chứng lâm sàng trực tiếp trên 146 hồ sơ bệnh án. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học tin cậy giúp Hội đồng Thuốc và Điều trị, Ban Quản lý sử dụng kháng sinh của bệnh viện xây dựng các can thiệp dược lâm sàng trọng điểm, kiểm soát chi phí điều trị, hạn chế tối đa nguy cơ kháng thuốc và nâng cao tỷ lệ điều trị thành công cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết dịch tễ dược học và quản lý dược lâm sàng hiện đại, kết hợp các quy chuẩn chuyên môn do Bộ Y tế Việt Nam và các hiệp hội quốc tế ban hành.

Khung phân tích định lượng áp dụng hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học và đơn vị liều xác định trong ngày (ATC/DDD) theo chuẩn của Trung tâm Hợp tác Thống kê Dược phẩm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHOCC 2018). Đây là tiêu chuẩn vàng toàn cầu cho phép so sánh mức độ sử dụng thuốc độc lập với sự biến động về giá cả và dạng bào chế.

Khung quản lý sử dụng kháng sinh được chuẩn hóa theo Quyết định số 5631/QĐ-BYT năm 2020 của Bộ Y tế, xác định hệ thống chỉ số giám sát bắt buộc như liều xác định trong ngày trên 100 ngày nằm viện (DDD/100 ngày nằm viện), tỷ lệ kê đơn và mô hình đề kháng vi sinh vật.

Đánh giá tính phù hợp trong điều trị viêm phổi cộng đồng dựa trên hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tại Quyết định số 4815/QĐ-BYT của Bộ Y tế, kết hợp khuyến cáo liên hiệp của Hội Lồng ngực Hoa Kỳ và Hội Bệnh nhiễm trùng Hoa Kỳ (ATS/IDSA 2019). Các khái niệm then chốt bao gồm: phân tầng mức độ nặng theo thang điểm CURB-65, nhận diện yếu tố nguy cơ nhiễm trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa), đánh giá dược động học/dược lực học (PK/PD) và ước tính độ thanh thải creatinin (Clcr) theo công thức Cockcroft-Gault nhằm cá thể hóa liều dùng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu, chia làm hai cấu phần độc lập nhằm bao quát từ cấp độ vĩ mô toàn viện đến vi mô trên từng ca bệnh.

Ở mục tiêu 1, nguồn dữ liệu bao gồm toàn bộ hồ sơ xuất kho, phần mềm quản lý thông tin bệnh viện (HIS) và thống kê ngày giường điều trị nội trú của tất cả các khoa lâm sàng trong 24 tháng (từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2021). Nhóm nghiên cứu loại trừ dữ liệu của khoa Nhi để đảm bảo tính chuẩn xác cho công thức liều xác định trong ngày dành cho người lớn.

Ở mục tiêu 2, phương pháp chọn mẫu thuận tiện lấy toàn bộ 146 hồ sơ bệnh án nội trú thỏa mãn tiêu chuẩn: bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên, chẩn đoán ra viện mang mã ICD-10 là J18 (viêm phổi không xác định căn nguyên), có chỉ định kháng sinh trong vòng 48 giờ đầu nhập viện và thời gian điều trị từ 3 ngày trở lên trong giai đoạn từ ngày 01/06/2021 đến 30/09/2021. Các trường hợp nhập viện trong vòng 30 ngày trước đó, đồng nhiễm khuẩn khác hoặc mắc viêm phổi do COVID-19 đều được loại trừ nghiêm ngặt.

Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan thói quen kê đơn thực tế không bị ảnh hưởng bởi yếu tố can thiệp, tạo cơ sở thực chứng vững chắc để đo lường tính hợp lý của phác đồ. Toàn bộ số liệu được nhập liệu và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và SPSS.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng mức tiêu thụ kháng sinh toàn viện duy trì ở mức ổn định với 43,70 DDD/100 ngày nằm viện trong năm 2020 và 43,30 DDD/100 ngày nằm viện trong năm 2021, đạt trị số bình quân 46,10 DDD/100 ngày nằm viện cho cả giai đoạn. Phân tích theo nhóm tác dụng dược lý ghi nhận nhóm cephalosporin chiếm tỷ trọng cao nhất với 21,40 DDD/100 ngày nằm viện (tương đương 46,4% tổng lượng kháng sinh tiêu thụ), tiếp theo là fluoroquinolon đạt 8,70 DDD/100 ngày nằm viện và penicilin đạt 7,70 DDD/100 ngày nằm viện. Hai hoạt chất có mật độ sử dụng cao nhất toàn viện là cefazolin (16,67 DDD/100 ngày nằm viện) và ceftriaxon (15,42 DDD/100 ngày nằm viện).

Khảo sát trên mẫu 146 bệnh nhân viêm phổi cộng đồng người lớn cho thấy người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) chiếm tỷ lệ áp đảo 71,2%, trong đó 64,4% bệnh nhân có ít nhất một bệnh mắc kèm như tăng huyết áp (42,5%) và đái tháo đường (12,3%). Đáng chú ý, 30,8% bệnh nhân có ít nhất một yếu tố nguy cơ nhiễm trực khuẩn mủ xanh.

Phác đồ kháng sinh kinh nghiệm ban đầu ghi nhận 53,4% ca sử dụng phối hợp hai kháng sinh và 45,9% ca dùng đơn trị liệu. Cặp phối hợp phổ biến nhất là cephalosporin thế hệ 3 kết hợp fluoroquinolon (30,8%). Về đường dùng, truyền tĩnh mạch chiếm ưu thế vượt trội với 73,3% tổng số lượt chỉ định, trong khi đường uống chỉ chiếm 15,7%. Thời gian điều trị kháng sinh trung bình là 9,2 ngày, mang lại kết quả điều trị khả quan với 35,6% khỏi bệnh và 60,3% đỡ giảm, không có ca nào tử vong.

Thảo luận kết quả

Mức tiêu thụ kháng sinh 46,10 DDD/100 ngày nằm viện tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 79,9 DDD/100 ngày nằm viện tại các bệnh viện khu vực phía Bắc được báo cáo trong mạng lưới giám sát VINARES. Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc thù của một bệnh viện đa khoa tuyến huyện, nơi tiếp nhận phần lớn các ca nhiễm khuẩn ở mức độ nhẹ đến trung bình.

Dữ liệu tiêu thụ theo thời gian được mô hình hóa qua biểu đồ xu hướng hàng tháng, cho thấy mức độ sử dụng cephalosporin biến thiên mạnh theo mùa bệnh lý hô hấp, dao động từ 31,4 đến 44,4 DDD/100 ngày nằm viện. Ngược lại, việc biểu diễn phân bố tiêu thụ thuốc qua bảng so sánh giữa các khoa lâm sàng chỉ ra sự tập trung rất cao của cephalosporin tại khoa Chấn thương chỉnh hình và khoa Hồi sức tích cực, trong khi nhóm penicilin lại chủ yếu được kê đơn tại khoa Phụ sản.

Mặc dù 100% bệnh nhân được xét nghiệm nồng độ creatinin huyết thanh để đánh giá mức lọc cầu thận, việc lạm dụng đường tiêm truyền (chiếm trên 84% tổng lượt dùng) và tỷ lệ phối hợp kháng sinh phổ rộng ngay từ đầu còn khá cao ở nhóm viêm phổi nhẹ. Tỷ lệ sử dụng cephalosporin thế hệ 3 lên đến 43,1% và fluoroquinolon đạt 25,5% cho thấy thói quen kê đơn bao vây vi khuẩn còn phổ biến. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, phản ánh thực tế các bác sĩ thường có xu hướng chỉ định phác đồ mạnh hơn mức cần thiết do lo ngại diễn biến xấu ở bệnh nhân cao tuổi có nhiều bệnh nền.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và kiểm soát nguy cơ đề kháng kháng sinh, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm khuyến nghị hành động cụ thể:

Thứ nhất, Ban Giám đốc cùng Hội đồng Thuốc và Điều trị cần ban hành hướng dẫn sử dụng kháng sinh nội bộ cập nhật cho từng khoa lâm sàng trong quý 1 năm tới. Mục tiêu cụ thể là chuẩn hóa quy trình phân tầng nguy cơ theo CURB-65 và tiêu chuẩn của Hội đồng Thuốc, phấn đấu giảm 15% tỷ lệ kê đơn cephalosporin thế hệ 3 không đúng chỉ định trong vòng 6 tháng đầu triển khai.

Thứ hai, Khoa Dược chủ trì xây dựng và áp dụng chương trình chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống (IV-to-PO switch) có tiêu chí rõ ràng đối với các hoạt chất có sinh khả dụng cao như levofloxacin, ciprofloxacin và azithromycin. Hoạt động này hướng đến mục tiêu nâng tỷ lệ dùng thuốc đường uống trong điều trị nội trú từ 15,7% hiện nay lên mức tối thiểu 30% trong thời gian 12 tháng, giúp giảm áp lực tiêm truyền và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn huyết liên quan đến đường truyền.

Thứ ba, Dược sĩ lâm sàng cần tăng cường giám sát đơn thuốc hằng ngày tại khoa Nội tổng hợp và khoa Hồi sức tích cực, trực tiếp tham gia hội chẩn để hiệu chỉnh liều lượng và nhịp đưa thuốc dựa trên độ thanh thải creatinin cho 100% bệnh nhân suy thận, đặt chỉ tiêu nâng tỷ lệ phù hợp về liều và khoảng cách dùng thuốc lên trên 90% trong vòng 9 tháng.

Thứ tư, Phòng Công nghệ thông tin phối hợp cùng Khoa Dược tích hợp các quy tắc cảnh báo tương tác thuốc, kiểm tra giới hạn liều tối đa và nhắc nhở thời gian điều trị trên phần mềm quản lý bệnh viện trong vòng 12 tháng, bảo đảm việc kiểm soát chỉ định được thực hiện tự động theo thời gian thực.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm bác sĩ điều trị nội trú và bác sĩ cấp cứu: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về phân tầng bệnh nhân viêm phổi cộng đồng, hướng dẫn nhận diện nhanh các yếu tố nguy cơ nhiễm trực khuẩn mủ xanh và các tiêu chuẩn nhập khoa hồi sức tích cực để đưa ra quyết định kê đơn kinh nghiệm chuẩn xác trong 48 giờ đầu.

Nhóm dược sĩ lâm sàng và quản trị dược bệnh viện: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về cách tính toán, phân tích chỉ số DDD/100 ngày nằm viện theo chuẩn quốc tế, làm công cụ đo lường thực tế để thiết lập các can thiệp dược lý và tối ưu hóa chi phí thuốc.

Nhóm lãnh đạo bệnh viện và Hội đồng Thuốc và Điều trị các cơ sở y tế tuyến quận, huyện: Là tài liệu tham khảo giá trị để xây dựng, kiện toàn và đánh giá hiệu quả hoạt động của Ban Quản lý sử dụng kháng sinh theo đúng tinh thần của Quyết định 5631/QĐ-BYT.

Nhóm học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Dược lý - Dược lâm sàng và Y học nội khoa: Nguồn tài liệu học thuật tiêu chuẩn về thiết kế nghiên cứu dịch tễ dược học hồi cứu, phương pháp xử lý dữ liệu tiêu thụ thuốc và quy trình đánh giá tính hợp lý của phác đồ điều trị nhiễm khuẩn hô hấp.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số DDD/100 ngày nằm viện tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh phản ánh điều gì về thực trạng dùng thuốc? Chỉ số 46,10 DDD/100 ngày nằm viện cho thấy mức tiêu thụ kháng sinh toàn viện ở mức trung bình thấp so với mức 79,9 của khu vực phía Bắc. Con số này phản ánh mô hình bệnh tật tuyến huyện chủ yếu điều trị nhiễm khuẩn mức độ nhẹ và vừa.

Vì sao nhóm kháng sinh cephalosporin lại chiếm tỷ trọng tiêu thụ cao nhất toàn viện? Nhóm cephalosporin đạt 21,40 DDD/100 ngày nằm viện (chiếm 46,4%) do cefazolin được dùng phổ biến trong dự phòng ngoại khoa tại khoa Ngoại, Chấn thương chỉnh hình và ceftriaxon được chỉ định rộng rãi trong điều trị theo kinh nghiệm các bệnh lý nhiễm trùng hô hấp, tiêu hóa tại khối Nội.

Việc phân tầng nguy cơ nhiễm trực khuẩn mủ xanh có ý nghĩa thế nào trong điều trị viêm phổi cộng đồng? Nghiên cứu ghi nhận 30,8% bệnh nhân có yếu tố nguy cơ nhiễm trực khuẩn mủ xanh, chủ yếu do tiền sử nằm viện dùng kháng sinh tĩnh mạch trong 90 ngày hoặc mắc bệnh phổi mạn tính. Nhận diện đúng giúp bác sĩ lựa chọn kháng sinh phổ đặc hiệu như ceftazidim, piperacilin/tazobactam thay vì các phác đồ thông thường.

Tại sao cần thực hiện xét nghiệm creatinin để tính độ thanh thải cho toàn bộ bệnh nhân cao tuổi? Với 71,2% bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên và hơn 40% có suy giảm chức năng thận từ mức độ trung bình đến nặng (Clcr dưới 60 ml/phút), việc tính độ thanh thải theo Cockcroft-Gault là bắt buộc để hiệu chỉnh liều, tránh nguy cơ tích lũy thuốc gây độc cho thận và hệ thần kinh.

Tại sao luận văn khuyến nghị tăng cường chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống? Hiện tại đường tiêm truyền chiếm tới 84,3% tổng lượt dùng, trong khi đường uống chỉ chiếm 15,7%. Chuyển đổi sang đường uống khi bệnh nhân ổn định lâm sàng giúp giảm biến chứng nhiễm khuẩn dây truyền, rút ngắn ngày nằm viện và tiết kiệm đáng kể chi phí điều trị.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập bức tranh toàn diện về sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh với tổng mức tiêu thụ bình quân đạt 46,10 DDD/100 ngày nằm viện giai đoạn 2020 - 2021.
  • Cephalosporin và fluoroquinolon là hai nhóm thuốc chủ lực, trong đó cefazolin (16,67 DDD/100 ngày nằm viện) và ceftriaxon (15,42 DDD/100 ngày nằm viện) có lượng tiêu thụ dẫn đầu toàn viện.
  • Khảo sát 146 bệnh nhân viêm phổi cộng đồng khẳng định hiệu quả điều trị khả quan với tỷ lệ hồi phục và cải thiện đạt 95,9%, thời gian nằm viện trung bình là 9,2 ngày.
  • Nghiên cứu nhận diện rõ các khoảng trống thực hành lâm sàng, bao gồm việc lạm dụng kháng sinh tiêm truyền (84,3%) và tỷ lệ phối hợp kháng sinh phổ rộng còn cao ở nhóm bệnh nhân viêm phổi nhẹ.
  • Cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để bệnh viện hoàn thiện quy trình giám sát sử dụng kháng sinh và hiệu chỉnh liều theo chức năng thận trong lộ trình 6 đến 12 tháng tới.

Các nhà quản lý y tế, bác sĩ lâm sàng và dược sĩ hãy chủ động áp dụng các giải pháp phân tầng nguy cơ và giám sát chỉ số tiêu thụ thuốc trong luận văn này nhằm nâng cao chất lượng điều trị và chung tay bảo vệ hiệu lực của kháng sinh cho tương lai.