Lê trọng chung phân tích tình hình sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng tại khoa hô hấp bệnh viện 71 trung ương năm 2021 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi tại khoa hô hấp bệnh viện 71 trung ương năm 2021, luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Dược Sĩ Chuyên Khoa Cấp I

2021

81
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIÊM PHỔI MẮC PHẢI Ở CỘNG ĐỒNG

1.2. Nguyên nhân gây bệnh và các yếu tố nguy cơ

1.3. Triệu chứng và chẩn đoán

1.4. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG

1.5. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ VPMPCĐ

1.6. MỘT VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN 71 TRUNG ƯƠNG

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu, tiêu chuẩn lựa chọn, tiêu chuẩn loại trừ

2.2. Phương pháp nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu

2.3. Phương pháp thu thập số liệu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Khảo sát đặc điểm bệnh nhân và tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ tại khoa Hô Hấp - Bệnh viện 71 TW từ 01/01/2021 đến 31/12/2021

2.6. Phân tích tính phù hợp và hiệu quả điều trị của việc sử dụng kháng sinh điều trị VPCĐ

2.7. Một số định nghĩa và tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu

2.8. Phân loại mức độ nặng của bệnh nhân

2.9. Phân tích lựa chọn kháng sinh

2.10. Phân tích liều dùng và nhịp đưa thuốc

2.11. Đánh giá hiệu quả điều trị

2.12. Đánh giá tương tác thuốc gặp phải trong điều trị. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Khảo sát đặc điểm bệnh nhân và thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ

3.2. Đặc điểm bệnh nhân

3.3. Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ

3.4. Phân tích tính phù hợp của việc sử dụng kháng sinh và hiệu quả trong điều trị VPMPCĐ

3.5. Phân tích tính phù hợp sử dụng phác đồ kháng sinh ban đầu so với hướng dẫn của Bộ Y tế

3.6. Phân tích sự phù hợp về liều dùng và nhịp đưa thuốc kháng sinh

3.7. Phân tích các tương tác thuốc

3.8. Hiệu quả điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Bàn luận về đặc điểm bệnh nhân và thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ

4.2. Một số đặc điểm bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

4.3. Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi mắc phải tại cộng đồng. Bàn luận về tính hợp lý của việc sử dụng kháng sinh trong điều trị

4.4. Tính phù hợp của các phác đồ ban đầu so với HDĐT của Bộ Y tế

4.5. Tính phù hợp về liều dùng và nhịp đưa thuốc

4.6. Các tương tác thuốc trong mẫu nghiên cứu

4.7. Hiệu quả điều trị

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kháng Sinh Trong Điều Trị Viêm Phổi Mắc Phải Cộng Đồng

Viêm phổi mắc phải cộng đồng (VPMPCĐ) là một trong những bệnh lý hô hấp phổ biến, gây ra nhiều ca bệnh và tử vong trên toàn thế giới. Việc sử dụng kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát bệnh. Tuy nhiên, tình trạng lạm dụng kháng sinh đã dẫn đến sự gia tăng đề kháng kháng sinh, làm cho việc điều trị trở nên phức tạp hơn. Nghiên cứu tại Bệnh viện 71 Trung ương cho thấy tình hình sử dụng kháng sinh cần được đánh giá và điều chỉnh để nâng cao hiệu quả điều trị.

1.1. Định Nghĩa Và Tình Hình Viêm Phổi Mắc Phải Cộng Đồng

Viêm phổi mắc phải cộng đồng (VPMPCĐ) là tình trạng nhiễm trùng nhu mô phổi xảy ra ở cộng đồng, không phải trong bệnh viện. Tình trạng này có thể do nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau, bao gồm vi khuẩn, virus và nấm. Theo thống kê, VPMPCĐ ảnh hưởng đến khoảng 450 triệu người mỗi năm và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em và người cao tuổi.

1.2. Nguyên Nhân Và Các Yếu Tố Nguy Cơ Gây Viêm Phổi

Nguyên nhân gây VPMPCĐ thường gặp nhất là vi khuẩn Streptococcus pneumoniae. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi tác, tình trạng sức khỏe kém, và môi trường sống. Những người có bệnh lý nền như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tiểu đường, và suy giảm miễn dịch có nguy cơ cao hơn.

II. Vấn Đề Lạm Dụng Kháng Sinh Trong Điều Trị Viêm Phổi

Lạm dụng kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Việc kê đơn kháng sinh không hợp lý không chỉ làm giảm hiệu quả điều trị mà còn dẫn đến sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều bác sĩ vẫn kê đơn kháng sinh mặc dù không cần thiết, do áp lực từ bệnh nhân và sự thiếu hiểu biết về tình trạng bệnh.

2.1. Tình Hình Kháng Thuốc Của Vi Khuẩn Gây Viêm Phổi

Kháng thuốc là một trong những thách thức lớn trong điều trị VPMPCĐ. Các vi khuẩn như S. pneumoniae và H. influenzae đang ngày càng kháng lại nhiều loại kháng sinh. Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý đã dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ kháng thuốc, làm cho việc điều trị trở nên khó khăn hơn.

2.2. Hệ Lụy Của Việc Lạm Dụng Kháng Sinh

Hệ lụy của việc lạm dụng kháng sinh không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị mà còn làm tăng chi phí y tế và thời gian điều trị. Bệnh nhân có thể phải trải qua nhiều đợt điều trị khác nhau, dẫn đến sự mệt mỏi và lo lắng. Hơn nữa, sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc có thể gây ra các dịch bệnh mới.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tình Hình Sử Dụng Kháng Sinh

Nghiên cứu tại Bệnh viện 71 Trung ương được thực hiện nhằm khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án và phỏng vấn bác sĩ điều trị. Mục tiêu là đánh giá tính hợp lý trong việc kê đơn kháng sinh và hiệu quả điều trị.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu Và Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang, thu thập dữ liệu từ bệnh nhân điều trị VPMPCĐ tại khoa Hô Hấp. Dữ liệu được phân tích để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng kháng sinh và hiệu quả điều trị.

3.2. Đối Tượng Nghiên Cứu Và Tiêu Chí Lựa Chọn

Đối tượng nghiên cứu bao gồm tất cả bệnh nhân được chẩn đoán VPMPCĐ tại Bệnh viện 71 Trung ương trong năm 2021. Tiêu chí lựa chọn bao gồm bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, có hồ sơ bệnh án đầy đủ và đồng ý tham gia nghiên cứu.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Sử Dụng Kháng Sinh

Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ tại Bệnh viện 71 Trung ương còn nhiều bất cập. Tỷ lệ kê đơn kháng sinh không hợp lý cao, và nhiều bệnh nhân không nhận được phác đồ điều trị phù hợp. Điều này dẫn đến hiệu quả điều trị không đạt yêu cầu và gia tăng nguy cơ kháng thuốc.

4.1. Tình Hình Kê Đơn Kháng Sinh Tại Bệnh Viện

Tỷ lệ kê đơn kháng sinh tại Bệnh viện 71 Trung ương cho bệnh nhân VPMPCĐ là rất cao. Nhiều bác sĩ vẫn sử dụng kháng sinh phổ rộng mà không có chỉ định rõ ràng, dẫn đến tình trạng lạm dụng và kháng thuốc.

4.2. Đánh Giá Hiệu Quả Điều Trị

Hiệu quả điều trị VPMPCĐ tại Bệnh viện 71 Trung ương chưa đạt yêu cầu. Nhiều bệnh nhân không cải thiện triệu chứng sau khi điều trị, và một số trường hợp phải nhập viện lại do tình trạng bệnh không được kiểm soát.

V. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Kháng Sinh

Để nâng cao hiệu quả sử dụng kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ, cần có các giải pháp đồng bộ từ việc đào tạo bác sĩ đến việc nâng cao nhận thức của bệnh nhân. Việc áp dụng các phác đồ điều trị theo hướng dẫn của Bộ Y tế là rất cần thiết để giảm thiểu tình trạng kháng thuốc.

5.1. Đào Tạo Và Nâng Cao Nhận Thức Cho Bác Sĩ

Đào tạo liên tục cho bác sĩ về việc sử dụng kháng sinh hợp lý là rất quan trọng. Các bác sĩ cần được cập nhật kiến thức mới về kháng sinh và các phác đồ điều trị để đưa ra quyết định chính xác hơn.

5.2. Tăng Cường Giáo Dục Cho Bệnh Nhân

Giáo dục bệnh nhân về việc sử dụng kháng sinh đúng cách và những nguy cơ của việc lạm dụng kháng sinh là cần thiết. Bệnh nhân cần hiểu rõ về tình trạng bệnh của mình và tầm quan trọng của việc tuân thủ phác đồ điều trị.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị VPMPCĐ tại Bệnh viện 71 Trung ương đã chỉ ra nhiều vấn đề cần khắc phục. Việc sử dụng kháng sinh hợp lý không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn góp phần giảm thiểu tình trạng kháng thuốc. Tương lai cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để cải thiện tình hình này.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Sử Dụng Kháng Sinh Hợp Lý

Sử dụng kháng sinh hợp lý là yếu tố quyết định đến hiệu quả điều trị VPMPCĐ. Việc này không chỉ giúp bệnh nhân hồi phục nhanh chóng mà còn bảo vệ sức khỏe cộng đồng trước nguy cơ kháng thuốc.

6.2. Định Hướng Nghiên Cứu Trong Tương Lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu về tình hình sử dụng kháng sinh và hiệu quả điều trị tại các cơ sở y tế khác nhau. Các nghiên cứu này sẽ giúp đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng điều trị và kiểm soát tình trạng kháng thuốc.

14/08/2025
Lê trọng chung phân tích tình hình sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng tại khoa hô hấp bệnh viện 71 trung ương năm 2021 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIÊM PHỔI MẮC PHẢI Ở CỘNG ĐỒNG 1. Định nghĩa Viêm phổi mắc phải cộng đồng (VPMPCĐ) là tình trạng nhiễm trùng của nhu mô phổi xảy ra ở cộng đồng, bên ngoài bệnh viện, bao gồm viêm phế nang, ống và túi phế nang, tiểu phế quản tận hoặc viêm tổ chức kẽ của phổi. Đặc điểm chung có hội chứng đông đặc phổi và bóng mờ đông đặc phế nang hoặc tổn thương mô kẽ trên phim X quang phổi.

Bệnh thường do vi khuẩn, virus, nấm và một số tác nhân khác, nhưng không do trực khuẩn lao [4], [5]. Dịch tễ VPMPCĐ là một căn bệnh phổ biến ảnh hưởng đến khoảng 450 triệu người mỗi năm và xảy ra ở tất cả các nơi trên thế giới. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở các nhóm tuổi gây 4 triệu ca tử vong (7% tổng số tử vong trên thế giới) hàng năm. Tỷ lệ tử vong cao nhất ở trẻ em dưới năm tuổi và người lớn > 75 tuổi.

Theo WHO (2015) viêm phổi là căn nguyên gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau đột quỵ và nhồi máu cơ tim. Tỷ lệ mắc VPMPCĐ ở các nước đang phát triển cao hơn gấp 5 lần so với các nước phát triển [4]. Tỉ lệ mắc chung của viêm phổi mắc phải ở cộng đồng khoảng 5,1 - 6,1/1000 người trong năm, tử vong do VPMPCĐ hay gặp ở nhóm phải nhập viện điều trị, tỉ lệ tử vong chung lên tới 28% mỗi năm [5]. Trung bình, tỷ lệ mắc và tử vong ở người già cao hơn so với tỷ lệ mắc và tử vong ở người trưởng thành [20].

Một nghiên cứu gần đây ước tính tại Mỹ mỗi năm có hơn 1,5 triệu người trưởng thành phải nhập viện vì VPMPCĐ, 100000 ca tử vong xảy ra khi nhập viện và khoảng 1/3 bệnh nhân VPMPCĐ tử vong trong vòng 1 năm [32]. Bệnh có thể xảy ra ở tất cả các mùa, nhưng tập trung nhiều nhất là vào những tháng mùa xuân và mùa đông [21]. Nam gặp nhiều hơn nữ [5]. Nguy cơ mắc bệnh cao hơn ở những người suy giảm miễn dịch như HIV, ung thư…và mắc các bệnh mạn tính như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh tim mạch, nghiện rượu, đái tháo đường, hút thuốc lá.

3 Ở Việt Nam, VPMPCĐ là một bệnh lý nhiễm khuẩn thường gặp nhất trong các bệnh nhiễm khuẩn trên thực hành lâm sàng, chiếm 12% các bệnh phổi. Tại khoa Hô Hấp bệnh viện Bạch Mai từ theo thống kê từ 1996-2000: viêm phổi chiếm 9,57%, đứng hàng thứ tư sau các bệnh: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, lao, ung thư phổi [9]. Năm 2014, tỷ lệ mắc viêm phổi ở nước ta là 561/100.000 người dân, đứng hàng thứ hai sau tăng huyết áp, tỷ lệ tử vong do viêm phổi là 1,02/100.000 người dân, đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây tử vong [6]. Nguyên nhân gây bệnh và các yếu tố nguy cơ 1.

Nguyên nhân gây bệnh Nguyên nhân viêm phổi mắc phải ở cộng đồng tùy thuộc từng vùng địa lý, nhưng Streptococcus pneumoniae vẫn là vi khuẩn gây bệnh được phân lập nhiều nhất trên toàn thế giới ở tất cả các cơ sở điều trị [4], [5]. - Các vi khuẩn gây bệnh thường gặp gồm [7], [8]: + Nhóm tác nhân gây viêm phổi điển hình thường là: Streptococcuspneumoniae, Haemophilus influenzae. + Nhóm tác nhân gây viêm phổi không điển hình chính gồm: Legionellapneumoniae, Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia pneumoniae. + Một số tác nhân có có thể gây viêm phổi nặng: Staphylococcus aureus, Klebsiella pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa.

Các virus như virus cúm thông thường và một số virus mới xuất hiện như virus cúm gia cầm, SARS – corona virus… cũng có thể gây nên viêm phổi nặng, lây lan nguy hiểm. Theo nghiên cứu của Takahashi và cộng sự, tại Việt Nam H. Pneumoniae và virut cúm A là tác nhân gây bệnh chính [31]. - Nấm cũng là 1 trong số các căn nguyên gây bệnh: Cryptococcus spp., Histoplasma capsulatum, Coccidioides spp…[5].

Căn nguyên gây VPMPCĐ đang thay đổi, đặc biệt là khi hiện nay đã có vắc xin ngừa phế cầu và gia tăng vai trò của vi rút gây bệnh. Ngoài ra, các căn nguyên vi khuẩn kháng thuốc đang xuất hiện và lan tràn rộng rãi. Các căn nguyên này gồm có S.aureus kháng methicillin (MRSA) và Pseudomonas aeruginosa [33].Tác nhân thường gặp gây VPMPCĐ Mức độ nặng của bệnh Tác nhân gây bệnh Streptococcus pneumonia Mycoplasma pneumonia VPCĐ mức độ nhẹ Heamophilus influenza (điều trị ngoại trú) Chlamydophila pneumonia Các virus hô hấp Streptococcus pneumonia Mycoplasma pneumonia Heamophilus influenza Chlamydophila pneumonia VPCĐ mức độ trung bình Nhiễm trùng phối hợp (điều trị nội trú khoa hô hấp) Vi khuẩn Gram âm đường ruột Vi khuẩn kỵ khí (viêm phổi hít) Các virus hô hấp Legionella spp Streptococcus pneumonia Vi khuẩn Gram âm đường ruột VPCĐ mức độ nặng Staphylococcus aureus (điều trị nội trú khoa hồi sức tích Legionella spp cực) Mycoplasma pneumonia Các virus hô hấp Pseudomonas aeruginosae 1.2 Các yếu tố nguy cơ Tất cả các cá nhân đều có nguy cơ mắc bệnh viêm phổi. Tuy nhiên, một số cá nhân dễ bị viêm phổi hơn những người khác do các yếu tố nguy cơ bên trong và bên ngoài.

Đánh giá và điều chỉnh kịp thời các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi và làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong ở bệnh nhân VPMPCĐ người lớn, đặc biệt là ở người cao tuổi [16]. Các yếu tố nguy cơ bao gồm: 5 - Các bệnh kèm theo [16], [30]: + Nhiễm trùng đường hô hấp trên + COPD/viêm phế quản mãn tính, hen suyễn + Tiền sử VPMPCĐ + Các bệnh về răng miệng + Suy dinh dưỡng, suy giảm chức năng + Bệnh tim mãn tính + Bệnh gan mãn tính + Bệnh thận mãn tính + Đái tháo đường + Ung thư + Thần kinh + Suy giảm miễn dịch, HIV + Khó thở khi ngủ do tắc nghẽn + Chứng khó nuốt - Tình trạng của bệnh nhân [16], [30]: + Tuổi cao (thường gặp ở người ≥ 65 tuổi) + Suy dinh dưỡng + Tình trạng chức năng kém - Thói quen [16], [30]: + Hút thuốc (kể cả hút thuốc chủ động và thụ động) + Nghiện rượu. - Môi trường sống [16], [30]: + Môi trường ô nhiễm (kim loại, bụi, khói…) + Nhà đông đúc và thông gió kém, tình trạng kinh tế xã hội - Sử dụng thuốc [16], [30]: + Thuốc ức chế miến dịch + Các corticosteroid dùng đường hít + Thuốc ức chế bơm proton + Các thuốc an thần nhóm benzodiazepin 6 1. Tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây VPMPCĐ Trong các tác nhân gây VPMPCĐ, có khoảng 6% là các vi khuẩn đa kháng thuốc.

Vi khuẩn đa kháng thuốc thường gặp nhất là S. Nghiên cứu gần đây của châu Âu cho thấy có đến 3,3 – 7,6% căn nguyên đa kháng phân lập được từ các ca VPMPCĐ, trong đó phổ biến nhất là MRSA. Vì khuyến cáo hiện nay điều trị VPMPCĐ theo kinh nghiệm là sử dụng nhóm betalactam cùng nhóm macrolid hoặc nhóm quinolon, nhưng với MRSA thì không phù hợp nên các chẩn đoán vi sinh về căn nguyên gây bệnh là rất quan trọng cho việc chọn lựa kháng sinh phù hợp [18].aeruginosa không phải căn nguyên gây VPMPCĐ thường gặp nhưng ở những bệnh nhân VPMPCĐ phải điều trị tại các khoa hồi sức tích cực thì P.aeruginosa chiếm 1,8 – 8,3% và tỷ lệ gây tử vong là 50 – 100%. Sử dụng kháng sinh từ trước được cho là yếu tố nguy cơ đưa đến VPPMCĐ do P.aeruginosa đa kháng thuốc [14].

Trong hai thập kỷ gần đây, S.pneumoniae có sự gia tăng đề kháng với một số nhóm kháng sinh như cephalosporin, macrolid và fluoroquinolon. Nguyên nhân là từ việc đưa vắc xin phòng S.pneumoniae vào sử dụng, dẫn đến giảm các tuýp có vắc xin phòng bệnh nhưng các tuýp trước kia hiếm gặp lại trở nên phổ biến. Tỷ lệ kháng fluoroquinolon được báo cáo ở châu Âu (5,2%) cao hơn ở châu Á (2,4%) và ở Mỹ (1,2%). Trong nghiên cứu đa trung tâm SOAR cho thấy S.pneumoniae còn nhạy cảm cao (>70%) với penicillin tiêm [4].

Nguyên nhân gây VPMPCĐ ở Việt Nam Nghiên cứu tại ba bệnh viện gồm: Bệnh viện Nhiệt đới trung ương, bệnh viện đa khoa Đống Đa và bệnh viện Đức Giang, tiến hành trên 142 bệnh nhân VPCĐ cho thấy căn nguyên vi khuẩn thường gặp nhất là M. Và nghiên cứu khác trên 154 bệnh nhân VPCĐ tại bệnh viện Khánh Hòa lại thấy các tác nhân thường gặp là H. Còn các virus phát hiện được gồm có Influenza A virus, Influenza B virus, Rhinovirus, Adenovirus và RSV. 7 Các nghiên cứu được thực hiện chủ yếu dựa trên bằng chứng nuôi cấy nên chỉ phát hiện được các tác nhân có thể nuôi cấy được.

Có một nghiên cứu gần đây sử dụng kỹ thuật nuôi cấy và real-time PCR phát hiện tác nhân gây VPMPCĐ trên những bệnh nhân điều trị ngoại trú tại 4 bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả phân lập cho thấy nguyên nhân chủ yếu là H. Nhưng thử nghiệm PCR lại phát hiện được S.pneumoniae có tỷ lệ cao nhất (71,3%), và có 21,7% là các tác nhân virus (Rhinovirus, Influenza virus, Parainfluenza virus). Đáng chú ý là những trường hợp VPMPCĐ trong nghiên cứu này thấy một tỷ lệ rất lớn (76,4%) các trường hợp nhiễm đa tác nhân.

Nhìn chung, các nghiên cứu trên được tiến hành tại các bệnh viện trung ương hoặc tuyến tỉnh lớn và số lượng chủng thu thập được trong các nghiên cứu không đủ lớn để đại diện cho quần thể nguyên nhân gây VPMPCĐ. Hơn nữa, các kết quả vi sinh cũng phụ thuộc nhiều vào phương pháp làm kháng sinh đồ cũng như nhiều yếu tố khác. Vì vậy, kết quả nghiên cứu chưa thực sự phản ánh đúng về thực trạng nguyên nhân gây VPCĐ. Triệu chứng và chẩn đoán 1.

Triệu chứng lâm sàng [4], [5], [7], [8]: - Khởi phát đột ngột với sốt cao 39 – 40oC, rét run. - Đau ngực: thường có, đôi khi là triệu chứng nổi bật, đau bên tổn thương. - Ho mới xuất hiện, tăng dần, lúc đầu ho khan, về sau ho có đờm đặc, màu vàng, xanh hoặc máu gỉ sắt. Có khi nôn, chướng bụng, đau bụng.

- Khó thở: thở nhanh, tím môi đầu chi. - Khám: + Hội chứng nhiễm khuẩn: sốt cao, hơi thở hôi, môi khô lưỡi bẩn. + Hội chứng đông đặc ở phổi, ran ẩm, ran nổ bên tổn thương. + Dấu hiệu gợi ý viêm phổi do phế cầu: mụn Herpes ở mép, môi, cánh mũi… + Trường hợp đặc biệt: người nghiện rượu có thể có lú lẫn, trẻ con có co giật, người cao tuổi triệu chứng thường không rầm rộ, có khi bắt đầu bằng lú lẫn, mê sảng (tỷ lệ tử vong cao do suy hô hấp cấp, hạ nhiệt độ).

8 + Thể không điển hình: biểu hiện ho khan, nhức đầu, đau cơ. Khám thường không rõ hội chứng đông đặc; thấy rải rác ran ẩm, ran nổ. X-quang phổi tổn thương không điển hình (mờ không đồng đều, giới hạn không rõ hình thuỳ).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ