Tổng quan nghiên cứu

Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu, chiếm khoảng 19% tổng số ca tử vong ở nhóm tuổi này theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới. Tại Việt Nam, mỗi năm ghi nhận khoảng 2,9 triệu ca mắc mới và gần 4.000 trẻ dưới 5 tuổi tử vong do viêm phổi. Vi khuẩn vẫn là căn nguyên phổ biến nhất, khiến việc sử dụng kháng sinh trở thành liệu pháp điều trị mang tính quyết định. Tuy nhiên, tình trạng lạm dụng kháng sinh, sử dụng sai liều lượng và chỉ định chưa chuẩn xác đang thúc đẩy nhanh chóng quá trình đề kháng kháng sinh, làm suy giảm nghiêm trọng hiệu quả điều trị nhiễm khuẩn hô hấp.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết bài toán cấp thiết trong thực hành lâm sàng thông qua hai mục tiêu trọng tâm: khảo sát đặc điểm dịch tễ, bệnh lý của bệnh nhi từ 2 tháng đến 5 tuổi mắc viêm phổi cộng đồng và phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh về tính hợp lý, chế độ liều cũng như nhịp đưa thuốc. Đề tài được triển khai tại Khoa Nhi thuộc Bệnh viện đa khoa thị xã Phú Thọ, thu thập dữ liệu nội trú trong giai đoạn 6 tháng đầu năm 2021 với quy mô 141 hồ sơ bệnh án. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng giá trị, hỗ trợ các nhà quản lý y tế và dược sĩ lâm sàng xây dựng hướng dẫn điều trị tại chỗ, tối ưu hóa danh mục thuốc và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho bệnh nhi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng dược lý học lâm sàng và nguyên lý dược động học kết hợp dược lực học của các nhóm kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới. Khung lý thuyết tập trung vào các thông số tối ưu hóa hiệu quả diệt khuẩn như tỷ lệ phần trăm thời gian nồng độ thuốc vượt quá nồng độ ức chế tối thiểu đối với kháng sinh phụ thuộc thời gian như nhóm Beta-lactam, và tỷ số giữa nồng độ đỉnh huyết thanh trên nồng độ ức chế tối thiểu đối với kháng sinh phụ thuộc nồng độ như nhóm Aminosid.

Các khái niệm chính được sử dụng bao gồm:

  • Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng: Tổn thương viêm cấp tính ở nhu mô phổi xuất hiện ngoài môi trường bệnh viện hoặc trong vòng 48 giờ đầu sau khi nhập viện.
  • Phân loại mức độ bệnh: Phân định thành viêm phổi, viêm phổi nặng và viêm phổi rất nặng dựa trên các dấu hiệu lâm sàng như nhịp thở nhanh theo lứa tuổi, rút lõm lồng ngực và các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
  • Liệu pháp kháng sinh theo kinh nghiệm: Quyết định lựa chọn kháng sinh ban đầu khi chưa có kết quả định danh vi sinh vật và kháng sinh đồ.
  • Tính hợp lý của phác đồ: Đánh giá mức độ tuân thủ dựa trên các tài liệu chuẩn quốc gia và quốc tế gồm Hướng dẫn sử dụng kháng sinh năm 2015 của Bộ Y tế, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em năm 2015, Dược thư Quốc gia Việt Nam 2018 cùng khuyến cáo của Hội Lồng ngực Anh và Hội Bệnh nhiễm Hoa Kỳ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu toàn bộ dữ liệu từ hệ thống quản lý bệnh án điện tử của Bệnh viện đa khoa thị xã Phú Thọ. Thời gian thu thập và phân tích dữ liệu chuyên sâu diễn ra từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2022 tại Trường Đại học Dược Hà Nội.

Đối tượng nghiên cứu gồm 141 bệnh án của bệnh nhi từ 2 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán xác định viêm phổi cộng đồng theo mã bệnh quốc tế từ J15 đến J18, có chỉ định kháng sinh và điều trị nội trú từ 3 ngày trở lên trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2021 đến ngày 30/06/2021. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm loại bỏ sai số lựa chọn và phản ánh chân thực mô hình kê đơn tại khoa phòng. Tiêu chuẩn loại trừ chặt chẽ áp dụng cho các trường hợp xuất hiện viêm phổi sau 48 giờ nhập viện hoặc hồ sơ bệnh án thiếu dữ liệu trọng yếu. Các biến số nghiên cứu được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn để đánh giá mức độ tương thích so với phác đồ chuẩn của Bộ Y tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ trẻ nam mắc bệnh chiếm 58,16% cao hơn so với trẻ nữ chiếm 41,84%. Phân bố theo lứa tuổi cho thấy nhóm từ 12 đến 24 tháng tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 39,01%, tiếp đến là nhóm từ 2 đến 12 tháng tuổi với 34,75%, sau đó giảm dần xuống mức thấp nhất ở nhóm từ 48 đến 60 tháng tuổi chỉ chiếm 3,55%. Về mức độ bệnh lý, thể viêm phổi thông thường chiếm đa số tuyệt đối với 96,45%, trong khi viêm phổi nặng chỉ chiếm 3,55% và không ghi nhận trường hợp viêm phổi rất nặng. Đáng chú ý, có 35,46% bệnh nhi có từ 1 đến 3 bệnh mắc kèm, phổ biến nhất là rối loạn chức năng tiêu hóa chiếm 13,48% và viêm amidan cấp chiếm 4,96%.

Khảo sát tiền sử sử dụng thuốc phát hiện 85,12% bệnh nhi đã được gia đình cho sử dụng kháng sinh trước khi nhập viện, trong đó 85,29% trường hợp tự điều trị tại nhà không ghi nhớ rõ tên thuốc. Tại khoa Nhi, có 9 hoạt chất kháng sinh được chỉ định với tổng cộng 226 lượt kê đơn. Nhóm Cephalosporin chiếm ưu thế vượt trội với 74,34% tổng số lượt dùng, tiêu biểu là Cefoperazon chiếm 42,04%, Ceftizoxim chiếm 21,24% và Cefepim chiếm 10,62%. Nhóm Aminosid đứng thứ hai chiếm 23,89% với đại diện chủ lực là Amikacin chiếm 22,12%. Kháng sinh đường tiêm tĩnh mạch chiếm tỷ trọng chủ đạo lên tới 75,22% lượt chỉ định.

Về phác đồ điều trị ban đầu, phương pháp đơn trị liệu chiếm 87,24%, trong đó Cephalosporin thế hệ 3 đơn độc chiếm 81,56%. Phác đồ phối hợp kháng sinh ban đầu chỉ chiếm 12,76%, chủ yếu là phối hợp Cephalosporin thế hệ 3 với Aminosid chiếm 11,34%. Trong quá trình điều trị nội trú, có 58,86% bệnh nhân duy trì ổn định phác đồ ban đầu, trong khi 41,14% phải thay đổi phác đồ với nguyên nhân chính là bệnh tiến triển chậm hoặc có xu hướng nặng hơn chiếm 26,95%. Hoạt động thay đổi phác đồ phần lớn là bổ sung thêm Aminosid chiếm 50,70% tổng số lượt chuyển đổi. Thời gian dùng kháng sinh trung bình toàn đợt là 8,56 ± 0,9 ngày. Tỷ lệ điều trị thành công đạt mức cao với 49,65% bệnh nhi khỏi bệnh hoàn toàn và 49,65% thuyên giảm rõ rệt trước khi xuất viện, chỉ có 0,70% chuyển tuyến trên.

Khi đối chiếu với Hướng dẫn sử dụng kháng sinh năm 2015 của Bộ Y tế, có 100% phác đồ ban đầu và phác đồ thay thế được đánh giá là chưa phù hợp do ưu tiên sử dụng Cephalosporin thế hệ 3 đường tiêm thay vì Penicillin A đường uống hoặc tiêm. Về chế độ liều dùng trong 24 giờ trên bệnh nhân có chức năng thận bình thường, tỷ lệ kê liều phù hợp đạt 62,39%, liều cao hơn khuyến cáo chiếm 27,88% tập trung ở Cefepim, và liều thấp hơn khuyến cáo chiếm 9,73% tập trung ở Amikacin chiếm 7,96%. Về nhịp đưa thuốc, có 97,79% lượt chỉ định đạt mức độ phù hợp cao theo khuyến cáo chuẩn.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ mắc bệnh tập trung nhiều nhất ở lứa tuổi dưới 2 tuổi có sự tương đồng rõ nét với các công bố khoa học trước đây. Một nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang ghi nhận nhóm trẻ từ 2 đến 12 tháng tuổi chiếm 52,6%, và nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình cũng chỉ ra tỷ lệ này là 52,41%. Cấu trúc giải phẫu đường thở của trẻ nhỏ ngắn, lòng phế quản hẹp cùng hệ miễn dịch chưa hoàn thiện là nguyên nhân khiến nhiễm khuẩn dễ lan tỏa và tiến triển nhanh. Sự vượt trội của tỷ lệ mắc ở trẻ nam có thể phản ánh đặc tính phơi nhiễm hoặc cơ cấu nhân khẩu học tại địa phương.

Nguyên nhân chính dẫn đến việc 100% phác đồ ban đầu chưa trùng khớp với hướng dẫn chuẩn của Bộ Y tế bắt nguồn từ thực trạng 85,12% trẻ đã dùng kháng sinh tại cộng đồng trước khi nhập viện. Tình trạng tự mua thuốc không đơn khiến vi khuẩn gây bệnh có nguy cơ cao kháng lại các kháng sinh bậc một như Amoxicilin hay Ampicilin. Điều này buộc các bác sĩ lâm sàng phải đưa ra quyết định an toàn là nâng bậc điều trị ngay từ đầu sang Cephalosporin thế hệ 3 đường tiêm như Cefoperazon. Mô hình kê đơn này tương đồng với nghiên cứu tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh khi tỷ lệ chỉ định Cephalosporin đơn độc cũng vượt trên 50%, nhưng có sự khác biệt nhất định so với mô hình điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương nơi tỷ lệ sử dụng Penicillin A kết hợp chất ức chế men vẫn được duy trì ở mức cao.

Việc dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột phân bố cơ cấu kháng sinh và bảng phân tích liều lượng giúp làm rõ khoảng cách giữa lý thuyết hướng dẫn và thực tế điều trị. Điểm cần lưu ý là có 7,96% lượt kê Amikacin thấp hơn liều khuyến cáo. Vì Aminosid là nhóm kháng sinh diệt khuẩn phụ thuộc nồng độ đỉnh, việc dùng liều thấp không chỉ làm giảm tỷ số hiệu quả diệt khuẩn mà còn gia tăng áp lực chọn lọc chủng vi khuẩn kháng thuốc. Bên cạnh đó, việc duy trì đường tiêm kéo dài trung bình 8,56 ngày mà không chuyển sang đường uống khi lâm sàng cải thiện là điểm hạn chế cần được tối ưu trong thực hành Dược lâm sàng.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Xây dựng và ban hành phác đồ điều trị viêm phổi cộng đồng tại chỗ: Hội đồng Thuốc và Điều trị phối hợp cùng Khoa Nhi và Khoa Dược hoàn thiện hướng dẫn điều trị đặc thù cho bệnh viện hạng II trong Quý I năm 2023, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ lạm dụng Cephalosporin thế hệ 3 tiêm ban đầu xuống dưới 40% và nâng tỷ lệ chỉ định chuẩn theo bậc điều trị lên trên 75%.
  • Tăng cường giám sát Dược lâm sàng và cá thể hóa liều dùng: Đội ngũ Dược sĩ lâm sàng triển khai kiểm soát đơn thuốc hàng ngày từ đầu năm 2023, tập trung hiệu chỉnh liều Amikacin đạt chuẩn 15 đến 20 mg/kg/ngày và kiểm soát liều Cefepim, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ kê đơn đúng liều chuẩn từ 62,39% lên trên 85%.
  • Áp dụng liệu pháp kháng sinh xuống thang: Các bác sĩ Khoa Nhi đẩy mạnh chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm sang đường uống sau 48 đến 72 giờ khi trẻ cắt sốt và tiến triển tốt, phấn đấu đạt tỷ lệ chuyển đổi đường dùng 35% từ Quý II năm 2023 nhằm rút ngắn ngày nằm viện xuống dưới 7 ngày và giảm thiểu nguy cơ tai biến tiêm truyền.
  • Siết chặt quản lý bán thuốc kê đơn và truyền thông cộng đồng: Trung tâm Y tế và Phòng Y tế thị xã tăng cường thanh kiểm tra các quầy thuốc trên địa bàn trong 6 tháng cuối năm 2023, đồng thời đẩy mạnh giáo dục sức khỏe nhằm kéo giảm tỷ lệ phụ huynh tự ý cho trẻ dùng kháng sinh trước nhập viện từ 85,12% xuống dưới 50%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Bác sĩ chuyên khoa Nhi và Bác sĩ Đa khoa: Cung cấp bằng chứng thực hành kê đơn, hỗ trợ đánh giá diễn biến lâm sàng để đưa ra quyết định lựa chọn kháng sinh ban đầu và kháng sinh thay thế chuẩn xác cho bệnh nhi.
  • Dược sĩ lâm sàng và Cán bộ quản lý Dược bệnh viện: Tài liệu tham khảo giá trị để thiết lập quy trình duyệt kháng sinh, giám sát chế độ liều, kiểm soát tương tác thuốc và tối ưu hóa chi phí điều trị tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh và tuyến huyện.
  • Giảng viên, Học viên sau đại học và Sinh viên Y Dược: Nguồn tài liệu học thuật hoàn chỉnh về phương pháp nghiên cứu Dược lâm sàng, phân tích số liệu dịch tễ học và đánh giá sử dụng thuốc theo các tiêu chuẩn quốc tế.
  • Cán bộ hoạch định chính sách y tế: Dữ liệu thực tế phục vụ công tác xây dựng chương trình quản lý sử dụng kháng sinh quốc gia và kiểm soát tình trạng bán thuốc không kê đơn ngoài cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao nhóm trẻ từ 12 đến 24 tháng tuổi lại chiếm tỷ lệ mắc viêm phổi cao nhất trong nghiên cứu? Nhóm tuổi này chiếm 39,01% do đây là giai đoạn kháng thể thụ động nhận từ mẹ suy giảm mạnh trong khi hệ miễn dịch chủ động chưa hoàn thiện. Đồng thời, trẻ bắt đầu gia tăng tiếp xúc với môi trường xung quanh và đường thở có khẩu kính nhỏ, niêm mạc dễ phù nề khi bị virus hoặc vi khuẩn tấn công.

  • Lý do nào khiến toàn bộ phác đồ kháng sinh ban đầu bị đánh giá là chưa phù hợp theo hướng dẫn của Bộ Y tế? Có tới 85,12% bệnh nhi đã sử dụng kháng sinh tại nhà trước khi vào viện. Khi tiếp nhận, các bác sĩ lo ngại thất bại điều trị nên chỉ định ngay kháng sinh phổ rộng Cephalosporin thế hệ 3 đường tiêm như Cefoperazon chiếm 42,04% thay vì khởi đầu bằng Penicillin A theo khuyến cáo lý thuyết.

  • Việc kê liều Amikacin thấp hơn khuyến cáo gây ra những rủi ro gì trên lâm sàng? Trong nghiên cứu có 7,96% lượt kê Amikacin thấp hơn mức chuẩn 15 đến 20 mg/kg/ngày. Do Amikacin diệt khuẩn phụ thuộc nồng độ đỉnh, liều thấp sẽ không đạt được tỷ số nồng độ đỉnh trên nồng độ ức chế tối thiểu cần thiết, làm giảm khả năng tiêu diệt vi khuẩn và kích thích vi khuẩn đột biến sinh đề kháng.

  • Thời gian sử dụng kháng sinh trung bình của bệnh nhi tại bệnh viện kéo dài bao lâu? Thời gian điều trị kháng sinh trung bình là 8,56 ± 0,9 ngày, trong đó nhóm viêm phổi thông thường điều trị trung bình 8,60 ngày và nhóm viêm phổi nặng là 7,4 ngày. Khoảng thời gian này hoàn toàn tương thích với khuyến cáo điều trị nội trú chuẩn từ 5 đến 10 ngày của Bộ Y tế.

  • Hiệu quả điều trị thực tế của các phác đồ tại Khoa Nhi đạt được như thế nào? Dù phác đồ kinh nghiệm có sự khác biệt so với hướng dẫn lý thuyết, kết quả lâm sàng ghi nhận tỷ lệ thành công rất cao với 49,65% khỏi bệnh hoàn toàn và 49,65% thuyên giảm rõ rệt. Tổng tỷ lệ đáp ứng tích cực đạt 99,30%, chỉ có 0,70% trường hợp diễn tiến nặng phải chuyển viện.

Kết luận

  • Nghiên cứu phản ánh thực trạng bệnh nhi viêm phổi tập trung chủ yếu ở nhóm dưới 24 tháng tuổi chiếm 73,76% và có tới 85,12% trẻ đã dùng kháng sinh trước khi nhập viện.
  • Kháng sinh nhóm Cephalosporin thế hệ 3 tiêm tĩnh mạch là lựa chọn phổ biến nhất chiếm 74,34%, trong khi phác đồ phối hợp với Aminosid chiếm 23,89%.
  • Toàn bộ phác đồ ban đầu chưa bám sát hướng dẫn của Bộ Y tế do áp lực tiền sử dùng thuốc ngoài cộng đồng, tuy nhiên độ phù hợp về liều lượng đạt 62,39% và nhịp đưa thuốc đạt 97,79%.
  • Hiệu quả can thiệp lâm sàng tại bệnh viện đạt tỷ lệ hồi phục và cải thiện ấn tượng lên đến 99,30% với thời gian điều trị trung bình 8,56 ngày.
  • Đề tài khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng hướng dẫn sử dụng kháng sinh nội bộ, đẩy mạnh hoạt động Dược lâm sàng và kiểm soát chặt chẽ việc bán thuốc không kê đơn ngoài cộng đồng.