Chương 1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện 1. Khái niệm về bệnh viện Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế. chức năng của nó là chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới cả gia đình và môi trường cư trú.
Bệnh viện trung tâm còn là đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu sinh học xã hội ”[11]. Theo quan điểm hiện đại. bệnh viện là một hệ thống, một phức hợp và chức một tổ động: - Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm: Ban giám đốc, các phòng nghiệp vụ. các khoa lâm sàng, cận lâm sàng.
- Bệnh viện là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tổ có liên quan từ khám bệnh, người bệnh vào viện, chẩn đoán, điều trị. chăm sóc, phục hồi chức năng. Bệnh viện là một tổ chức động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị. thuốc cần có để chẩn đoán, điều trị.
Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe hoặc người bệnh tử vong [15]. Chức năng, nhiệm vụ của Bệnh viện đa khoa hạng II Bệnh viện đa khoa hạng II là cơ sở khám, chữa bệnh của tỉnh, thành phổ trực thuộc Trung Ương hoặc khu vực các huyện trong tỉnh và các Ngành, có đội ngũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và có trang thiết bị thích hợp đù khả năng hỗ trợ cho bệnh viện hạng III. Cấp cứu - Khám bệnh - Chữa bệnh Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc từ các cơ sờ y tể chuyển đến để cấp cứu. khám bệnh, chừa bệnh nội trú hoặc ngoại trú.
Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước. Có trách nhiệm giải quyết toàn bộ bệnh tật thông thường trong tỉnh và thành phố trực thuộc Trung Ương và các ngành. Tổ chức khám giám định sức khỏe khi hội đồng giám định y khoa tỉnh, thành phố hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu. Chuyển người bệnh lên tuyến trên khi vượt quá khả năng giải quyết của BV.
Đào tạo cán bộ y tế Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế chuyên khoa ở bậc đại học và trung học; đồng thời tham gia giảng dạy chuyên khoa ở bậc đại học và trung học. Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và tuyến dưới nâng cao trình độ chuyên khoa. Nghiên cứu khoa học về y học Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật về chuyên khoa ở cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp Cơ sở, chú trọng nghiên cứu y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc. Nghiên cứu triên khai dịch tề học cộng đồng thuộc lĩnh vực chuyên khoa để phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc chỉ đạo chuyên khoa tuyến dưới và những người hành nghề tư về chuyên khoa trong địa bàn được Sở Y tế phân công đê phát triên kĩ thuật trong chuyên khoa và nâng cao chât lượng câp cứu, khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa. Kết hợp với các cơ sở y tế thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu và các chương trình hoạt động chuyên khoa tại cộng đồng trong khu vực phân công. Phòng bệnh Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thực hiện thường xuyên nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch. Hợp tác quốc tế Hợp tác với các tổ chức hoặc cá nhân ở ngoài nước theo đủng quy định của Nhà nước.
Quản lý kinh tế y tế - Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nước cấp. - Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của bệnh viện. Từng bước hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh. - Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịnh vụ y tế: viện phí, bảo hiêm y te.
đầu tư của nước ngoài và các tồ chức kinh tế khác [5]. Phong cách lãnh đạo 1. Khái niệm về sự lãnh đạo và phong cách lãnh đạo 1. Sự lãnh đạo Lãnh đạo không phải là một vị trí trong tổ chức mà là một quá trình diễn ra trong tổ chức.
Sự lãnh đạo được nhìn nhận là đặc điểm hay đặc tính cùa một nhà lãnh đạo trong một tổ chức. Sự lãnh đạo không chỉ thuộc về những người có vị trí cao trong tồ chức mà là một quá trình trong đó có một người tác động đến những thành viên khác nhằm đạt được mục đích chung [9]. Phong cách lãnh đạo Là tổng hòa những quan niệm, cách thức tiến hành hoạt động quản lý, lãnh đạo được thực hiện thường xuyên tạo thành nét riêng biệt giữa từng cá nhân nhà lãnh đạo hay từng kiểu nhà lãnh đạo [9]. Phân loại phong cách lãnh đạo Nói đến phong cách lãnh đạo, Việt Nam có nhiều kiểu phân loại khác nhưng nhau thường tập trung một số phong cách lãnh đạo chính như sau: 7 - Phong cách lãnh đạo chuyên quyên-độc đoán: đây là phong cách mà nhà lãnh đạo.
nhà quản lý không cho phép và rất hạn chế cấp dưới tham gia vào việc quyết định. Thường giao việc cho cấp dưới chủ yếu bàng mệnh lệnh, điều hành công việc chủ yếu bằng sử dụng qui chế hoặc điều lệ. Có khi người lãnh đạo thực thi quyền hạn. chức trách của cấp dưới mà không trao đổi trước với cấp dưới.
Nhà lãnh đạo qui định nhiệm vụ. cách thức làm việc cho cấp dưới một cách chi tiết, ít dành khả năng sáng tạo. - Phong cách lãnh đạo dân chủ: Đây là phong cách lãnh đạo mà nhà lãnh đạo thường thông báo cho mọi thành viên biết được sự thay đổi liên quan và tranh thủ sự đồng tình của người dưới quyền trước khi thi hành một chủ trương, biện pháp. Khi giao nhiệm vụ cho cấp dưới, nhà lãnh đạo luôn dành cho họ điều kiện phát huy tính độc lập sáng tạo.
Nhà lãnh đạo luôn khuyến khích, động viên kịp thời những sáng kiến thành tích. - Phong cách lãnh đạo tự do - tản quyền: đối với phong cách này, nhà lãnh đạo thường buông lỏng cho mọi thành viên thực hiện nhiệm vụ được giao, giúp họ tự lựa chọn cách thức tiến hành công việc. Nhà lãnh đạo chỉ can thiệp vào công việc cấp dưới, người thừa hành khi họ thực sự sai lầm [9]. Quốc te phân loại PCLĐ dựa theo thuyết Bass và các cộng sự thành 3 loại: transformational leadership (thường được dịch là lãnh đạo chuyển đổi hoặc lãnh đạo mới về chất hay lãnh đạo truyền cảm hứng.
Chúng tôi dùng trong luận văn này là lãnh đạo truyền cảm hứng), transactional leadership (lãnh đạo qua nghiệp vụ/ thực dụng) và laisez - faire style (lãnh đạo tự do) và thiết lập bảng câu hỏi MLQ làm công cụ đo lường các phong cách này. Theo thuyết lãnh đạo của Bass thì lãnh đạo là vấn đề cốt lõi đối với nhân viên dưới quyên băng cách lãnh đạo nghiệp vụ/thực dụng hoặc đặt quyên lợi của các thuộc cấp lên trên quyền lợi tập thể, tổ chức hoặc xã hội bằng cách chuyển hóa lãnh đạo [20]. Ông đã tóm tắt sự khác biệt giữa các phong cách lãnh đạo như sau: Trong khi các nhà lãnh đạo truyền cảm hứng nâng cao tinh thẩn, động lực và đạo đức của nhân viên dưới quyền của họ, các nhà lãnh đạo nghiệp vụ/thực dụng chỉ nhắm đến quyền lợi trước mắt của nhân viên. 8 Lãnh đạo truyền cảm hứng (Transformational leadership): nhấn mạnh những gì bạn có thể làm cho đất nước của bạn.
nhà lãnh đạo qua nghiệp vụ/ thực dụng chỉ tập trung vào những gì bạn có thể làm cho bạn trong khi nhà lãnh đạo tự do lại hay tránh việc chịu trách nhiệm và thường vắng mặt khi cần thiết, thường hay trì hoãn các quyết định. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu. các biến quan sát được sử dụng để đo lường phong cách này chưa phù hợp nên đã bị loại sau khi chạy thử nghiệm bộ câu hòi. Vì vậy, trong nghiên cứu này không đề cập đến phong cách lãnh đạo tự do mà chỉ lựa chọn hai loại phong cách: phong cách truyền cảm hứng và phong cách nghiệp vụ/thực dụng của Bass làm nền tảng để phân tích và chúng tôi áp dụng thuyết này trong suốt quá trình phân tích phong cách lãnh đạo cho luận văn này.
Các thành phần của lãnh đạo truyền cảm hứng: Theo Bass lãnh đạo truyền cảm hửng có bốn thành phần: - Ảnh hưởng đến lý tưởng hóa phẩm chất và lý tưởng hóa hành vi (Idealized Attribute and Idealized behaviors): Mức độ nhà lãnh đạo truyền sự tự hào về tổ chức cho những người khác, họ thể hiện năng lực và lòng tin vào nhân viên. Họ chiếm được lòng tin của nhân viên bang việc luôn đặt nhu cầu của nhân viên lên trên nhu cầu cá nhân của bản thân họ. Họ chia sẻ rủi ro với nhân viên và luôn cư xử với những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức cao. Những nhà lãnh đạo này luôn được quần chúng ngưỡng mộ.
kính trọng và tin tưởng. - Tạo động lực, truyền cảm hứng (inspirational motivation): Khả năng của người lãnh đạo trong việc đưa ra một tầm nhìn hấp dẫn và những thách thức trong công việc của họ. Tinh thần tập thể và cá nhân ngày được nâng cao. Sự nhiệt tình và lạc quan luôn được thể hiện.
Nhà lãnh đạo luôn khuyến khích nhân viên xây dựng cho mình viễn cảnh về một tương lai sáng sủa. nhà lãnh đạo xây dựng nên viền cảnh cho tổ chức và cho chính bản thân họ. - Kích thích trí tuệ (intellectual stimulation): Nhà lãnh đạo khuyến khích nhân viên nồ lực sáng tạo bằng cách đặt ra câu hỏi đối với những giả định, xem đi xem lại những vấn đề, tiếp cận những tình huống cũ theo phương pháp mới. Hoàn toàn không có sự nhạo báng hay phê bình công khai những lồi lầm của cá nhân.
Những ý tưởng mới hoặc những giải pháp sáng tạo thu hút sự chú ý của các nhân viên vì họ đã được tham gia ngay từ trong quá trình nhận diện và giải quyết vấn đề. - Xem xét cá nhân (individualize consideration): nhà lãnh đạo chú ý đến nhu cầu của từng cá nhân trong những thành tích và sự tiến bộ của họ thông qua vai trò của một hướng dần hay một người cố vấn. Những nhân viên phải liên tục được phát triển đến những khả năng tiềm tàng cao nhất.