MỞ ĐẦU Trang 4 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. Khái niệm về nhà thầu chính Nhà TC trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng nhận thầu trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để thực hiện phần việc chính của một loại công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình (điều 3 Luật xây dựng 2003). Nhà TC là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu, đứng tên dự thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn (gọi là nhà thầu tham gia đấu thầu). Nhà thầu tham gia đấu thầu một cách độc lập gọi là nhà thầu độc lập.
Nhà thầu cùng với một hoặc nhiều nhà thầu khác tham gia đấu thầu trong một đơn dự thầu thì gọi là nhà thầu liên danh (điều 3 Luật đấu thầu 2006). Khái niệm về thầu phụ Nhà TP trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng với nhà TC hoặc tổng thầu xây dựng để thực hiện một phần công việc của nhà TC hoặc tổng thầu xây dựng (điều 3 Luật xây dựng 2003). Nhà TP là nhà thầu thực hiện một phần công việc của gói thầu trên cơ sở thỏa thuận hoặc hợp đồng được ký với nhà TC. Nhà TP không phải là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu (điều 3 Luật xây dựng 2003).
Quan hệ hợp tác Hợp tác là phương pháp mà hai hay nhiều đơn vị cùng thực hiện nhằm đạt một số mục tiêu bằng cách tối ưu hóa hiệu quả làm việc, các tài nguyên của các đơn vị tham gia. Theo Loraine (1995) quan hệ hợp tác là mối quan hệ mà trong bất cứ mức độ, thời gian nào đó, nó chủ động làm giảm sự đối kháng và thúc đẩy sự hợp tác vì cho lợi ích chung. Quan hệ hợp tác theo đề tài này là mối quan hệ trong công việc mà thầu chính cố gắng duy trì để tất cả các thầu phụ có thể phát huy tối đa hiệu để cùng CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN Trang 5 nhau hoàn thành dự án. Theo Bennett (1991) , Bennett và Jayes (1995), điều này có thể đạt được bằng cách thực hiện công việc cùng các nhà thầu trong thời gian dài, đó là mối quan hệ hợp tác (hay mối quan hệ trong công việc) lâu dài.
Khảo giá (Bid shopping) Theo Poage, 1990; Degn & Miller, 2003, khảo giá, ép giá (hay bid shopping) được định nghĩa là hành động phi đạo đức khi một TC công khai giá thầu của một nhà thầu hoặc nhà TP cho các TP khác để đạt được giá thấp hơn. Hành động khảo giá có thể được thực hiện trước hoặc sau giai đoạn đấu thầu dự án (hoặc công trình). Theo Mojica, 2008 có một số lý do để TC tiến hành khảo giá, ép giá: đầu tiên là do TC có quyền không giao gói thầu cho TP sau khi thắng thầu tuy nhiên TP phải chịu ràng buộc khi nộp giá thầu cho TC. Lý do thứ hai là TC muốn rút ngắn thời gian chuẩn bị hồ sơ thầu.
Các lý do khác gồm có tiết kiệm chi phí sau khi đã thắng thầu hoặc dự phòng cho các rủi ro, sai lầm, các thiếu sót do thiết kế, biến động giá và các hạng mục báo giá thấp. Lý do cuối cùng, do một số công ty liều lĩnh nhận thầu vì họ muốn duy trì nhân sự, nhân lực mà họ đã gầy dựng và tránh sự sụp đổ công ty vì lý do tài chính. Quyền thu mua thiết bị Điều khoản này cho phép thầu chính quyền sở hữu và sử dụng các thiết bị của TP khi TP không còn khả năng thực hiện công việc. thông thường là khi thầu phụ phá sản.
Việc này giúp thầu chính có thể tiếp tục công việc của TP khi TP mất khả năng thực hiện. Tuy nhiên TP có thể nghi ngờ khả năng TC cố tình gây khó khăn để buộc thầu phụ mất quyền sở hữu thiết bị của chính mình. Hủy ngang hợp đồng Điều này cho phép thầu chính được quyền hủy hợp đồng với thầu phụ mà không cần bất kỳ lý do nào. Khi TC áp dụng điều này TP có thể cảm thấy không công bằng, và rơi vào tình trạng khó khăn vì khối lượng công việc đã thực hiện có thể không đủ phần lợi nhuận thậm chí không thể thu hồi đủ phần vốn mà mình đã đầu tư.
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN Trang 6 2. Bảo lảnh Bảo lãnh hay bảo lãnh ngân hàng chính là ngân hàng hay đơn vị thứ ba cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ hưởng của hợp đồng khoản đền bù trong phạm vi của số tiền được nêu rõ trong giấy bảo lãnh nếu bên đối tác không thực hiện được trách nhiệm của mình. Một số dạng bảo lãnh : - Bảo lãnh dự thầu - Bảo lãnh bảo hành - Bảo lãnh thực hiện hợp đồng - Bảo lãnh thanh toán - Bảo lãnh nhận hàng Điều khoản này thường được sử dụng để giúp thầu chính giảm bớt rủi ro khi thầu phụ không thể hoặc không muốn thực hiện công việc của mình. Sơ lược các nghiên cứu đã công bố trước đây 2.
Các nghiên cứu nước ngoài Theo MOHAMMAD S. EL-MASHALEH, 2011: Mặc dù việc sử dụng TP đã có từ hơn 2 thập kỷ và sự ảnh hưởng quan trọng của TP đến sự thành công dự án đã được nhận thấy, tuy nhiên lại có ít các nghiên cứu về TP để giúp TC tìm ra các nhân tố quan trọng khi lựa chọn TP. Mối quan hệ TC và TP cũng không được đề cập nhiều. Trong các báo cáo trước đây, vấn đề lựa chọn TP thường lấy giá cả làm tiêu chí lựa chọn quan trọng nhất.
Cụ thể trong báo cáo của Latham (1994), ông công nhận rằng việc lựa chọn nhà TP phải dựa trên cơ sở giá cả, tuy nhiên chất lượng cũng là một yếu tố quan trọng trong tiêu chí lựa chọn TP. Sau đây là một số nghiên cứu nước ngoài về mối quan hệ TC và TP : - Hinze, J. (1994), The Contractor‐Subcontractor Relationship: The Subcontractor's View. Nghiên cứu tìm hiểu rõ hơn về mối quan hệ này và các biện pháp cải thiện.
Theo đó “mối quan hệ giữa CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN Trang 7 các TP và TC, các thông tin có được từ quá trình đấu thầu, hợp đồng TP, quá trình điều hành, qui trình thanh toán và dừng dự án. Nghiên cứu cũng cấp các thông tin mà TC dùng để đưa TP vào các rủi ro. - Jason D Matthews (1996) – A Project partnering approach to the main contractor – subcontractor relationship. Nghiên cứu tìm hiểu về những yếu tố mà TC muốn thấy ở TP, những yêu tố mà TP cần TC phải có.
Nghiên cứu đưa ra các yếu tố ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ trên góc nhìn TP, bao gồm các yếu tố sau : o Thanh toán o Quản lý công trường o Báo giá và chọn lựa TP o Sự hiểu biết và thông cảm với TP. o Hợp đồng TC – TP. Ngoài ra còn có các yếu tố ảnh hưởng tốt đến mối quan hệ hợp tác như : o Quản lý công trường tốt o Quan hệ hỗ trợ tốt, suy nghĩ tích cực. o Tổ chức và kế hoạch tốt o Thanh toán đủ và đúng hạn o Cung cấp thông tin đủ, chính xác Hai phần ba các TP cho rằng họ sẽ có những ưu đãi cho các nhà TC.
Nhưng sự ưu đãi này còn tùy vào sự thể hiện, sự thanh toán và công bằng trước đây của TC.Proctor (1996) - Golden Rule of Contractor-Subcontractor Relations. Mối liên hệ giữa TC và TP thường bị ràng buộc và căng thẳng đến các cuộc tranh cãi vì sự nhận thức kém về sự công bằng và hiểu lầm nhu cầu của nhau. Tuy nhiên các tranh cãi xảy ra vì TC thiếu kiến thức không hiểu về các điều kiện đặc biệt hoặc do kế hoạch thi công và tiến độ. Các TC có tiếng về công bằng và xem xét về nhu cầu TP thường được quan CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN Trang 8 tâm bởi các TP chất lượng và giá cạnh tranh.
Các tranh cãi có thể tránh, thời gian có thể rút ngắn lúc thương lượng hợp đồng TP, nếu TP nhận thức được các điều kiện mà họ sẽ chịu khi thi công. Để điều phối một cách hiệu quả các công việc của các TP, TC bải biết rõ chi tiết các công việc đó. Sự trao đổi thông tin hiệu quả giữa giám sát TC và TP ở công trường, các cuộc họp tiến độ thường xuyên là yếu tố cần thiết. Thanh toán nhanh là yếu tố quan trọng đối với cả TP lẫn TC và là nhân tố cần thiết cho mối quan hệ hợp tác và thi công dự án thành công - Bruce Henry Lambert, Kazune Funato and Aimee Poor, 1996 - the construction industry in japan and its subcontracting relationships.
Công nghiệp xây dựng ở Nhật và mối quan hệ TP., (1998) - Impact of Subcontracting on site Productivity: Lessons Learned in Taiwan. Ảnh hưởng của hợp đồng phụ đến năng suất công trường: bài học từ Đài Loan. (2005) - Issues in Subcontracting Practice. Nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề thường xảy ra giữa TC và phụ, quan niệm của họ về các vấn đề đó.
Theo Arditi, TP là rất quan trọng đối với sự thành công của hầu hết các dự án xây dựng, nhưng nhiều vấn đề liên quan đến việc khoán thầu hiếm khi được biết đến. Nghiên cứu chỉ ra rằng những vấn đề này bao gồm : o Tính kịp thời của các khoản thanh toán của TC o Quá trình lựa chọn nhà TP o Bảo lãnh của TP, bảo hiểm xây dựng, o Vấn đề an toàn trên công trường o Thỏa thuận hợp đồng các bên khác nhau, o Và các vấn đề năng suất. Mehmet Haksever, Ismail H. Demir and Omer Giran - Assessing the benefits of long-term relationships between contractors and CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN Trang 9 subcontractors in the UK.
Đánh giá lợi ích của mối quan hệ lâu dài giữa TC và TP ở Anh. - Patrick James Mccord, Luận văn thạc sĩ 2010 - subcontractor perspectives: factors that most affect their relationships with general contractors - a pacific northwest study. Từ góc độ nhà TP, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng mối quan hệ với TC – TP trường hợp áp dụng ở bờ tây bắc Thái Bình Dương, Hoa Kỳ. Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mối quan hệ hợp tác TC và phụ theo thứ tự sau: 1) Bid shopping (khảo giá) 2) Năng lực của giám đốc dự án (nhà TC) 3) Sự công bằng của giám đốc dự án.
4) Cán bộ quản lý trực tiếp 5) Thời gian thanh toán 6) Vấn đề an toàn 7) Năng lực tài chính 8) Hành động giữ tiền 9) Các tranh cãi trước đây 10) Điều khoản Pay when paid (hay trả khi được trả) 11) Điều khoản bồi thường 12) Điều khoản phạt lại 13) Bảo hiểm 14) Bảo lãnh 15) Thu mua thiết bị 16) Hủy ngang hợp đồng 2.