CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về ngành điện và khâu phân phối điện 1. Tổng quát về ngành điện và khâu phân phối điện Newbery (2000), Von Hirschhausen và cộng sự (2006), RAP (2011), Mydland và cộng sự (2018), Söderberg (2011) đã mô tả ngành điện và quá trình tái cơ cấu ngành điện tại các quốc gia.
Trước khi tái cơ cấu, ngành điện tại các quốc gia có đặc điểm chung là một ngành tích hợp dọc trong dây chuyền sản xuất điện gồm các khâu chủ yếu là phát điện, truyền tải điện, PPĐ để cung cấp cho hộ sử dụng điện cuối cùng. Khâu PPĐ bao gồm cả bán lẻ điện là khâu sản xuất kinh doanh cuối cùng của ngành điện cung cấp điện tới khách hàng (KH) sử dụng điện. Quá trình tái cơ cấu ngành điện của các quốc gia được khởi đầu từ Vương quốc Anh sau đó lan rộng đến các quốc gia khác trên thế giới. Việc ban hành các đạo luật cải cách ngành điện ở các quốc gia đã thúc đẩy tái cơ cấu, tự do hóa ngành điện và phân tách các khâu của ngành điện tích hợp dọc.
Việc cải cách ngành điện ở các quốc gia đã thúc đẩy thành lập cơ quan điều tiết có trách nhiệm điều tiết các khâu có tính độc quyền tự nhiên như truyền tải điện và PPĐ, thúc đẩy thiết lập thị trường điện (TTĐ) ở các khâu phát điện và bán lẻ điện. Điều tiết kinh tế được sử dụng để kiểm soát sức mạnh thị trường hiện có trong các ngành cụ thể. Điều tiết kinh tế thường nhắm vào giá của sản phẩm hoặc dịch vụ. Điều này có thể được thực hiện bằng cách trực tiếp điều chỉnh giá tiêu dùng cho sản phẩm cuối cùng hoặc bằng cách điều chỉnh giá để tiếp cận cơ sở hạ tầng trong trường hợp bên thứ ba tiếp cận.
Trước cải cách, khâu PPĐ ở các quốc gia thuộc công ty tích hợp dọc các khâu của ngành điện hoặc bao gồm các CTPPĐ riêng tự điều tiết. Trong quá trình cải cách ngành điện ở các quốc gia, do khâu PPĐ có tính độc quyền tự nhiên, việc điều tiết khâu PPĐ là một hình thức quản lý ngành cần thiết của nhà nước để đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng. Ngành điện và khâu phân phối điện tại một số quốc gia * Ngành điện và khâu phân phối điện tại Anh Quá trình tái cơ cấu ngành điện của Vương quốc Anh đã được mô tả bởi Newbery (2000). Luật Điện lực năm 1989 đã chia tách 74 nhà máy điện và lưới điện quốc gia luan an 7 thuộc công ty CEGB của Anh và xứ Wales thành 4 công ty.
Khoảng 60% công suất khâu phát điện truyền thống gồm 40 nhà máy phát điện có công suất 29.486MW được chuyển giao cho Công ty Điện lực Quốc gia (National Power), và 40% hay 23 nhà máy có công suất 19.802MW còn lại được chuyển giao cho Công ty PowerGen. 12 nhà máy điện hạt nhân với công suất 7.973MW đã được chuyển giao cho Công ty Điện hạt nhân (Nuclear Electric). Lưới điện cao áp cùng với 2.000MW thủy điện tích năng được chuyển giao cho Công ty Lưới điện Quốc gia (NGC). Bốn công ty này được thành lập là công ty trách nhiệm hữu hạn đại chúng vào ngày 31 tháng 3 năm 1990, cùng lúc với 12 công ty phân phối, ngày nay được gọi là Công ty Điện lực Khu vực (RECs).
NGC được chuyển giao cho quyền sở hữu chung của REC, và REC được bán cho công chúng vào tháng 12 năm 1990. Sáu mươi phần trăm National Power và PowerGen sau đó đã được bán cho công chúng vào tháng 3 năm 1991, với số dư còn lại được bán ra cho công chúng vào tháng 3 năm 1995. Các CTPPĐ khu vực REC đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán phải tuân thủ cơ chế điều tiết được giám sát bởi Cơ quan điều tiết điện lực (OFFER). Cơ chế điều tiết cho 12 CTPPĐ ở Anh và xứ Wales có đặc điểm chính là áp dụng giá trần RPI- X, trong đó cơ quan điều tiết quy định mức tăng giá tối đa (hoặc mức giảm giá tối thiểu) mà REC có thể áp cho KH tiêu thụ (Robinson và Taylor, 1998; Weyman-Jones, 2001).
Theo Weyman-Jones (2001), do việc PPĐ thường được tổ chức thông qua các nhượng quyền thương mại độc quyền trong khu vực, cơ quan điều tiết có ý tưởng sử dụng các phép so sánh thước đo để xem xét các biện pháp kiểm soát giá áp dụng cho các công ty như vậy. Khi xác định hệ số X cho cơ chế giá trần, cơ quan điều tiết xem xét HQHĐ ở mức quốc gia trong tăng trưởng năng suất đa yếu tố bên ngoài ngành để xác định cơ chế khuyến khích ban đầu. Áp lực của KH cũng có khả năng làm cho các công ty phải tập trung đến HQHĐ. Cơ quan điều tiết sau đó phải chuẩn bị để so sánh hiệu quả và năng suất giữa các công ty và sử dụng những thông số này để xác định phương thức điều chỉnh giá trần.
Việc thiết kế cơ chế ít chú ý đến vấn đề liệu các khuyến khích trong cơ chế điều tiết RPI-X có hấp dẫn đối với các nhà quản lý như đối với chủ sở hữu của các công ty liên quan hay không. Cơ chế điều tiết RPI – X được thiết kế để khắc phục vấn đề rủi ro đạo đức do các CTPPĐ không nỗ lực cắt giảm chi phí. Theo quan điểm của các cổ đông, cổ đông là những người yêu cầu bồi thường cho tất cả các khoản tiết kiệm hiệu quả và tiết kiệm hiệu quả là cách duy nhất để tạo ra các khoản thưởng bổ sung; vì vậy, cơ chế điều tiết RPI-X có tiềm năng trở thành một hình thức điều tiết khuyến khích hiệu quả. * Ngành điện và khâu phân phối điện tại Đức luan an 8 Quá trình hình thành điều tiết ngành điện của Đức được mô tả tại Von Hirschhausen và cộng sự (2006).
Do tiến độ tự do hóa chậm ở hầu hết các quốc gia thành viên, vào năm 2003 Liên minh châu Âu đã ban hành Chỉ thị 2003/54/EC để thúc đẩy tăng tốc tự do hóa và phân tách các khâu của ngành điện tích hợp dọc. Chỉ thị 2003/54/EC cũng kêu gọi tăng cường giám sát điều tiết và thành lập một cơ quan điều tiết rõ ràng, chịu trách nhiệm điều tiết khâu PPĐ ở mỗi quốc gia. Chỉ thị 2003/54/EC yêu cầu phân tách các CTPPĐ có hơn 100.000 KH đấu nối và tạo ra các đơn vị thương mại độc lập hợp pháp để phát điện, truyền tải và phân phối. Ngành điện ở Đức áp dụng hình thức điều tiết theo số liệu dự báo (ex-ante).
Trước khi thực hiện Chỉ thị 2003/54/EC, Đức đã áp dụng mô hình tiếp cận thỏa thuận, đàm phán trong ngành điện; do đó ngành điện là tự điều tiết. Ngành điện và các KH tiêu thụ điện lớn được tự do thỏa thuận giá và điều kiện đấu nối lưới trong thỏa thuận đấu nối. Do có lợi thế về thông tin của ngành điện so với KH, cơ chế tự điều tiết đã không thành công trong việc giảm giá dịch vụ hoặc tạo ra mức độ cạnh tranh đáng kể. Luật năng lượng mới của Đức, có hiệu lực từ tháng 7 năm 2005, đã quy định thành lập cơ quan điều tiết và yêu cầu áp dụng cơ chế điều tiết theo dự báo (ex-ante regulation) đối với lưới điện.
* Ngành điện và khâu phân phối điện tại Hoa Kỳ Tổng quan ngành điện và cơ chế điều tiết tại Hoa Kỳ được mô tả ở Báo cáo của RAP (2011). Ngành điện Hoa Kỳ bao gồm hơn 3.000 công ty điện lực thuộc khu vực công, khu vực tư nhân và hợp tác xã, hơn 1.000 đơn vị phát điện độc lập, ba hệ thống điện đồng bộ khu vực, tám hội đồng độ tin cậy điện, khoảng 150 đơn vị điều độ kiểm soát theo khu vực, và hàng nghìn cơ quan điều tiết về kỹ thuật, kinh tế, môi trường và sử dụng đất. Khoảng 75% dân số Hoa Kỳ được phục vụ bởi các công ty điện lực do nhà đầu tư sở hữu (IOU). Đây là các công ty tư nhân, chịu sự điều tiết của cấp tiểu bang và nguồn tài chính được kết hợp giữa vốn cổ đông và nợ trái phiếu.
Hầu hết các IOU đều lớn về mặt tài chính và nhiều IOU có cung cấp nhiều loại dịch vụ như điện và khí đốt tự nhiên. Một số ít IOU được tổ chức dưới dạng công ty mẹ với nhiều công ty con hoặc có các công ty liên kết được kiểm soát bởi một tập đoàn mẹ chung. Các công ty điện lực do người tiêu dùng sở hữu (COU), phục vụ khoảng 25% dân số Hoa Kỳ, bao gồm cả các thành phố và nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Loại hình này bao gồm: các công ty điện lực do thành phố sở hữu được quản lý bởi hội đồng thành phố hoặc một ủy ban dân cử của thành phố; các công ty điện lực do quận là các cơ quan chính phủ chỉ hoạt động công ích, được điều hành bởi một hội đồng do cử tri bầu ra trong lãnh thổ cung cấp dịch vụ; các hợp tác xã, chủ yếu ở các vùng nông thôn, là các luan an 9 tổ chức phi lợi nhuận tư nhân được điều hành bởi một hội đồng do KH của hợp tác xã điện lực bầu chọn.
Các công ty điện lực tích hợp dọc chịu trách nhiệm phát điện, truyền tải điện và PPĐ cho các KH bán lẻ. Trong nhiều trường hợp, công ty điện lực tích hợp dọc sở hữu toàn bộ hoặc một số nhà máy điện và đường dây tải điện, nhưng công ty cũng có thể mua điện thông qua hợp đồng từ đơn vị khác, mang lại cho công ty quyền tương đương với việc sở hữu nhà máy điện. Nhiều công ty điện lực không tích hợp dọc và chỉ cung cấp dịch vụ PPĐ. Các công ty điện lực chỉ cung cấp dịch vụ PPĐ phần lớn là những công ty điện lực nhỏ thuộc sở hữu của người tiêu dùng.
Ở các bang đã tái cấu trúc ngành điện, một số công ty điện lực chỉ cung cấp dịch vụ PPĐ là những công ty thuộc sở hữu của nhà đầu tư lớn. Ủy ban Điều tiết Năng lượng Liên bang (FERC) chịu trách nhiệm điều tiết liên bang về lĩnh vực năng lượng, cụ thể trong các lĩnh vực cấp phép thủy điện, truyền tải điện giữa các tiểu bang và bán buôn điện. Ủy ban Điều tiết cấp tiểu bang chịu trách nhiệm điều tiết các tiêu chuẩn xây dựng cho các cơ sở phân phối bán lẻ điện hạ áp, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ, giá và điều khoản dịch vụ điện cung cấp bởi các IOU. Ủy ban Điều tiết cấp tiểu bang cũng chịu trách nhiệm điều tiết các công ty điện lực do người tiêu dùng sở hữu COU ở một số tiểu bang.