Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty phân phối điện" do nghiên cứu sinh Trần Tuệ Quang thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (năm 2023), thuộc ngành Quản lý kinh tế, chuyên ngành Quản lý công (Mã số: 9310110), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đỗ Thị Hải Hà và TS. Nguyễn Việt Long.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong những năm qua, ngành điện lực Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện năng bình quân khoảng 10%/năm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Ngành điện vận hành theo mô hình tích hợp dọc gồm bốn khâu: phát điện, truyền tải điện, phân phối điện và bán lẻ điện. Các công ty phân phối điện (CTPPĐ) hiện đảm nhận đồng thời hai chức năng phân phối và bán lẻ điện. Mặc dù tỷ lệ điện khí hóa nông thôn đã đạt trên 99,4% số hộ dân, ngành điện đang đối mặt với áp lực lớn trong việc thu xếp vốn đầu tư, quản lý vận hành hạ tầng kỹ thuật và đảm bảo cung ứng điện ổn định trong khi phải duy trì giá bán lẻ ở mức chấp nhận được.

Luật Điện lực năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đặt nền tảng pháp lý cho lộ trình tái cơ cấu ngành điện theo hướng thị trường. Trong cấu trúc ngành điện, khâu phân phối điện có tính chất độc quyền tự nhiên do chi phí đầu tư hạ tầng cố định lớn và hàm chi phí có tính cộng tính dưới (subadditivity). Khi chuyển đổi từ cơ chế điều tiết theo chi phí dịch vụ truyền thống sang cơ chế điều tiết theo hiệu quả hoạt động (Performance-Based Regulation - PBR), cơ quan quản lý nhà nước cần xác định giá hoặc doanh thu đầu chu kỳ điều tiết ($P_0$) và hệ số biến đổi năng suất ($X$) dựa trên việc so sánh chuẩn (benchmarking) hiệu quả kỹ thuật và năng suất giữa các đơn vị. Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu định lượng về hiệu quả kỹ thuật, năng suất và các nhân tố môi trường tác động đến khâu phân phối điện hầu như chưa được thực hiện, tạo ra khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mục tiêu tổng quát: Phân tích hiệu quả hoạt động (bao gồm hiệu quả kỹ thuật và năng suất) theo quan điểm quản lý ngành điện và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các CTPPĐ.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Mục tiêu 1: Tổng quan nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các CTPPĐ, về phương pháp phân tích đo lường hiệu quả kỹ thuật và năng suất của CTPPĐ, và về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các CTPPĐ, từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu.
    • Mục tiêu 2: Phân tích cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các CTPPĐ.
    • Mục tiêu 3: Lựa chọn mô hình tính toán điểm số hiệu quả kỹ thuật và năng suất của các CTPPĐ, phân tích các nhân tố quyết định chủ yếu đến hiệu quả kỹ thuật của các CTPPĐ với số liệu điển hình từ các CTPPĐ khu vực phía Nam.
    • Mục tiêu 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các CTPPĐ nêu trên thông qua mô hình kinh tế lượng.
    • Mục tiêu 5: Đề xuất các hàm ý chính sách quản lý nhà nước đối với khâu phân phối điện tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động của các CTPPĐ (gồm hiệu quả kỹ thuật và năng suất), các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và cơ chế quản lý điều tiết đối với các CTPPĐ.
  • Phạm vi nội dung: Đánh giá hiệu quả kỹ thuật tổng thể (OTE), hiệu quả kỹ thuật thuần túy (PTE), hiệu quả quy mô (SE), phân tích biến động năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) qua chỉ số Malmquist và ước lượng ảnh hưởng của các biến môi trường đến hiệu quả kỹ thuật.
  • Phạm vi không gian: 21 CTPPĐ trực thuộc Tổng công ty Điện lực miền Nam (TCTĐLMN - EVN SPC), phụ trách địa bàn 21 tỉnh/thành phố phía Nam (An Giang, Bạc Liêu, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Lâm Đồng, Long An, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long).
  • Phạm vi thời gian: Chuỗi dữ liệu thứ cấp hàng năm giai đoạn 2011–2020 (10 năm).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu chính được tổng quan

Văn bản luận án tổng hợp hệ thống nghiên cứu quốc tế và trong nước xoay quanh bốn nhóm chủ đề:

  1. Nghiên cứu về cơ chế điều tiết theo hiệu quả hoạt động (PBR) và độc quyền tự nhiên:

    • Johan den Hertog (2010), Ricketts (2006), Braeutigam (1989), Chick (2004) phân tích bản chất độc quyền tự nhiên, tính cộng tính dưới của hàm chi phí trong ngành mạng lưới và cơ sở của can thiệp điều tiết kinh tế nhằm hạn chế tổn thất phúc lợi xã hội.
    • Coglianese và cộng sự (2003), OECD (2022), Ontario Energy Board staff (1999), Sappington và cộng sự (2001), Joskow (2006, 2014) làm rõ cơ chế điều tiết theo giá trần $P = P_0 \times (1 + \text{RPI} - X)$, chỉ ra ưu thế của PBR so với điều tiết chi phí cộng thêm (cost-of-service) trong việc giảm thiểu bất cân xứng thông tin và rủi ro đạo đức.
    • Weyman-Jones (2001), Wang và cộng sự (2007), Newton Lowry và Woolf (2016) nghiên cứu thực tiễn áp dụng cơ chế PBR tại Anh, Hoa Kỳ và các nước phát triển.
  2. Nghiên cứu đo lường hiệu quả hoạt động của các CTPPĐ:

    • Jamasb và Pollitt (2001, 2008), Zhang (2015), Kuosmanen và cộng sự (2013) so sánh các phương pháp đo lường: phương pháp công ty tham chiếu kỹ thuật (NPAM tại Thụy Điển, Chile, Tây Ban Nha) và phương pháp so sánh chuẩn biên hiệu quả (DEA, SFA, COLS). Các tác giả chỉ ra DEA có ưu thế không cần giả định dạng hàm sản xuất và xử lý tốt mô hình đa đầu vào, đa đầu ra.
    • Các công trình thực nghiệm áp dụng DEA: Edvardsen và Førsund (2003) (Bắc Âu và Hà Lan), Korhonen và Syrjänen (2003) (Phần Lan), Kinnunen (2005) (Bắc Âu), Giannakis và cộng sự (2005) (Anh), Von Hirschhausen và cộng sự (2006) (307 CTPPĐ Đức), Cullmann và von Hirschhausen (2008) (Ba Lan, Séc, Slovakia, Hungary), Pérez-Reyes và Tovar (2009, 2021) (Peru), Ramos-Real và cộng sự (2009) (Brazil), Santos và cộng sự (2011) (Bồ Đào Nha), Cheng và cộng sự (2014) (Na Uy), Mirza và cộng sự (2021) (Pakistan), Medeiros và cộng sự (2022) (Brazil).
  3. Nghiên cứu về biến động năng suất nhân tố tổng hợp (TFP):

    • Hjalmarsson và Veiderpass (1992) (Thụy Điển), Abbott (2006) (Úc), Pombo và Taborda (2006) (Colombia), Miguéis và cộng sự (2012) (Na Uy), Ajayi và cộng sự (2021) (Anh) sử dụng chỉ số Malmquist để phân tách tăng trưởng năng suất thành tiến bộ công nghệ và thay đổi hiệu quả kỹ thuật.
  4. Nghiên cứu về các nhân tố môi trường tác động đến hiệu quả:

    • Çelen (2013), Von Hirschhausen và cộng sự (2006), Pombo và Taborda (2006) khảo sát mật độ khách hàng.
    • Kinnunen (2005), Von Hirschhausen và cộng sự (2006) phân tích tỷ lệ cáp ngầm hóa.
    • Filippini và cộng sự (2004), Kumbhakar và cộng sự (2015) phân tích quy mô doanh nghiệp.
  5. Các nghiên cứu tại Việt Nam:

    • Các nghiên cứu hiệu quả hoạt động trong ngành ngân hàng, nông nghiệp, sản xuất chế tạo: Nguyen và Giang (2009), Le và Harvie (2010), Nguyen và cộng sự (2013), Le và cộng sự (2018).
    • Trong lĩnh vực phân phối điện, chỉ có các bài báo chuẩn bị cho luận án của Trần Tuệ Quang (2022) và Trần Tuệ Quang và cộng sự (2022).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  • Thiếu vắng các nghiên cứu định lượng đánh giá đồng thời hiệu quả kỹ thuật và năng suất của các CTPPĐ trong bối cảnh tái cơ cấu ngành điện tại Việt Nam.
  • Chưa có mô hình kinh tế lượng kiểm định ảnh hưởng của các biến số đặc thù địa bàn (mật độ khách hàng, mật độ dân số, tỷ trọng công nghiệp, tỷ lệ ngầm hóa, cấu trúc khách hàng, quy mô) đến hiệu quả kỹ thuật của các CTPPĐ tại Việt Nam.
  • Chưa có cơ sở định lượng để đề xuất khung chính sách điều tiết kinh tế theo hiệu quả hoạt động (PBR) cho cơ quan quản lý nhà nước trong khâu phân phối điện Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  1. Lý thuyết điều tiết kinh tế (Economic Regulation): Phân tích trường phái lý thuyết lợi ích công (khắc phục thất bại thị trường) và lý thuyết lợi ích cá nhân (bất cân xứng thông tin, rủi ro đạo đức, lựa chọn đối nghịch) theo Johan den Hertog (2010) và Joskow (2014).
  2. Lý thuyết độc quyền tự nhiên và cấu trúc thị trường: Dựa trên điều kiện hàm chi phí có tính cộng tính dưới ($C(\sum q_i) < \sum C(q_i)$), tính kinh tế theo quy mô (economies of scale) và tính kinh tế theo phạm vi (economies of scope) của Ricketts (2006).
  3. Mô hình Cấu trúc - Hành vi - Hiệu quả hoạt động (SCP): Phát triển từ Mason (1939, 1949), Bain (1959), Carlton và Perloff (2015), Lipczynski và cộng sự (2017) để định vị hiệu quả hoạt động như một thước đo phản ánh hiệu quả sản xuất, hiệu quả phân bổ và tiến bộ công nghệ.
  4. Lý thuyết hiệu quả sản xuất và năng suất: Khái niệm hiệu quả kỹ thuật theo Farrell (1957), mô hình DEA-CCR hiệu quả không đổi theo quy mô (Charnes, Cooper, Rhodes, 1978), mô hình DEA-BCC hiệu quả thay đổi theo quy mô (Banker, Charnes, Cooper, 1984) và chỉ số năng suất Malmquist (Caves, Christensen, Diewert, 1982; Färe và cộng sự, 1994).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án áp dụng quy trình phân tích định lượng hai giai đoạn (Two-stage DEA):

[Dữ liệu đầu vào, đầu ra của 21 CTPPĐ (2011-2020)]
      [Giai đoạn 1: Đo lường DEA & Malmquist]
      [Giai đoạn 2: Hồi quy mô hình Tobit]
                            Tỷ lệ ngầm hóa, Tỷ trọng CN, Quy mô CTPPĐ
  • Giai đoạn 1 (Đo lường hiệu quả và năng suất):
    • Sử dụng mô hình DEA hướng đầu vào (input-oriented DEA) với giả định CRS (đo lường OTE) và VRS (đo lường PTE). Điểm hiệu quả quy mô được tính bằng $SE = \frac{OTE}{PTE}$.
    • Sử dụng chỉ số Malmquist để tính mức tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp ($TFPCH$), phân tách thành thay đổi hiệu quả kỹ thuật ($EFFCH$) và thay đổi công nghệ ($TECHCH$).
  • Giai đoạn 2 (Phân tích nhân tố ảnh hưởng):
    • Sử dụng mô hình hồi quy Tobit (censored regression model) do biến phụ thuộc là điểm số hiệu quả kỹ thuật tổng thể ($OTE$) có giá trị bị giới hạn trong khoảng $[0, 1]$.

Biến số và nguồn dữ liệu

Dữ liệu thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của 21 CTPPĐ thuộc Tổng công ty Điện lực miền Nam và Niên giám thống kê của 21 tỉnh/thành phố giai đoạn 2011–2020.

Nhóm biến số Tên biến Ký hiệu / Đơn vị Định nghĩa / Vai trò trong mô hình
Đầu vào DEA Lao động Lao động (người) Tổng số lao động bình quân trong năm của CTPPĐ
Chiều dài đường dây Chiều dài (km) Tổng chiều dài đường dây phân phối (trung thế và hạ thế)
Dung lượng máy biến áp Dung lượng (MVA) Tổng dung lượng trạm biến áp phân phối đang vận hành
Đầu ra DEA Sản lượng điện thương phẩm SLĐTP (tr. kWh) Tổng sản lượng điện phân phối và bán lẻ cho khách hàng
Số lượng khách hàng Khách hàng (khách hàng) Tổng số khách hàng ký hợp đồng mua bán điện
Biến môi trường (Tobit) Mật độ khách hàng MĐKH (KH/km) Tỷ số giữa số lượng khách hàng và tổng chiều dài đường dây
Mật độ dân số MĐDS (người/km²) Dân số trung bình chia cho diện tích tự nhiên của tỉnh
Cấu trúc khách hàng CTKH (%) Tỷ lệ khách hàng sinh hoạt trên tổng số khách hàng
Tỷ lệ ngầm hóa TLNH (%) Tỷ lệ chiều dài cáp ngầm trên tổng chiều dài đường dây
Tỷ trọng công nghiệp TTCN (%) Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp trong GRDP tỉnh
Quy mô CTPPĐ Quy mô (tr. kWh) Quy mô sản lượng điện thương phẩm của CTPPĐ

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa quá trình tái cơ cấu và các mô hình điều tiết ngành điện tại các quốc gia tiêu biểu:

  • Vương quốc Anh: Tư nhân hóa năm 1990, chuyển đổi 12 công ty điện lực khu vực (RECs) sang cơ chế giá trần RPI-X dưới sự giám sát của OFFER (sau này là Ofgem).
  • Cộng hòa Liên bang Đức: Chuyển từ cơ chế thỏa thuận tự điều tiết sang áp dụng Chỉ thị 2003/54/EC của EU, thiết lập cơ quan điều tiết liên bang và cơ chế điều tiết theo số liệu dự báo (ex-ante) từ tháng 7/2005.
  • Hoa Kỳ: Cấu trúc hỗn hợp gồm các công ty IOU (do nhà đầu tư sở hữu, phục vụ 75% dân số) chịu sự điều tiết của tiểu bang, các công ty COU (do người tiêu dùng sở hữu) và vai trò liên bang của FERC; áp dụng rộng rãi cơ chế PBR tại 16 tiểu bang.
  • Na Uy và Thụy Điển: Na Uy áp dụng doanh thu trần kết hợp mô hình DEA do NVE quản lý từ năm 1991; Thụy Điển phát triển mô hình công ty mạng lưới tham chiếu (NPAM) do Ei quản lý từ năm 2003.

Chương này cũng tổng kết các phương pháp đo lường hiệu quả (tham số và phi tham số), xác định 6 nhân tố môi trường thường được sử dụng trong các nghiên cứu quốc tế, đồng thời chỉ rõ sự thiếu vắng các nghiên cứu định lượng tương tự đối với các CTPPĐ tại Việt Nam.

Chương 2. Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty phân phối điện

Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế và cơ sở lý luận quản lý công:

  • Trình bày đặc điểm kỹ thuật - kinh tế của ngành điện: tính không thể lưu trữ quy mô lớn, tính thời điểm đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng, chi phí chìm lớn.
  • Phân tích tính độc quyền tự nhiên của khâu phân phối điện dựa trên tính cộng tính dưới của hàm chi phí.
  • So sánh cơ chế điều tiết chi phí dịch vụ truyền thống (dẫn đến phi hiệu quả loại X do rủi ro đạo đức) với cơ chế điều tiết theo hiệu quả hoạt động (PBR) qua công thức $P = P_0 \times (1 + \text{RPI} - X)$, trong đó $P_0$ là giá cơ sở đầu chu kỳ và $X$ là hệ số biến đổi năng suất.
  • Phân định các khái niệm: hiệu quả hoạt động theo mô hình SCP, hiệu quả kỹ thuật tổng thể ($OTE$), hiệu quả kỹ thuật thuần túy ($PTE$), hiệu quả quy mô ($SE$) và năng suất nhân tố tổng hợp ($TFP$).
  • Tổng kết kinh nghiệm quản lý ngành ở cấp độ vĩ mô và cấp độ doanh nghiệp tại các quốc gia phát triển, rút ra bài học cho Việt Nam về việc áp dụng phương pháp so sánh chuẩn biên hiệu quả để khắc phục bất cân xứng thông tin.

Chương 3. Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế phương pháp luận nghiên cứu:

  • Mô tả bối cảnh và đặc điểm vận hành của 21 CTPPĐ trực thuộc TCTĐLMN trên địa bàn 21 tỉnh/thành phía Nam.
  • Thiết lập mô hình toán học DEA-CCR và DEA-BCC hướng đầu vào để giải bài toán quy hoạch tuyến tính tính toán các chỉ số $OTE, PTE, SE$.
  • Xây dựng mô hình chỉ số năng suất Malmquist phân kỳ theo chuỗi thời gian 2011–2020.
  • Thiết lập phương trình hồi quy Tobit dạng cắt xén: $$OTE_{it}^* = \beta_0 + \beta_1 MĐKH_{it} + \beta_2 MĐDS_{it} + \beta_3 CTKH_{it} + \beta_4 TLNH_{it} + \beta_5 TTCN_{it} + \beta_6 QuyMo_{it} + \varepsilon_{it}$$ $$\text{với } OTE_{it} = \begin{cases} 0 & \text{nếu } OTE_{it}^* \le 0 \ OTE_{it}^* & \text{nếu } 0 < OTE_{it}^* < 1 \ 1 & \text{nếu } OTE_{it}^* \ge 1 \end{cases}$$
  • Thống kê mô tả các biến số đầu vào, đầu ra và các biến môi trường của 21 CTPPĐ trong giai đoạn 10 năm nghiên cứu.

Chương 4. Phân tích hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty phân phối điện

Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả tính toán định lượng từ mẫu dữ liệu của 21 CTPPĐ phía Nam:

  1. Kết quả phân tích hiệu quả kỹ thuật (mô hình DEA):
    • Điểm số hiệu quả kỹ thuật tổng thể ($OTE$) trung bình của các CTPPĐ trong giai đoạn 2011–2020 ở mức chưa đạt tối ưu tuyệt đối.
    • Khi phân tách $OTE$ thành $PTE$ (hiệu quả kỹ thuật thuần túy) và $SE$ (hiệu quả quy mô), kết quả cho thấy $PTE$ trung bình đạt mức cao hơn đáng kể so với $SE$. Điểm số $OTE$ chưa đạt tối đa chủ yếu xuất phát từ sự không hiệu quả về quy mô ($SE$) của một số CTPPĐ có địa bàn hoạt động nhỏ hoặc phụ tải phân tán.
    • Nhóm các công ty nằm trên đường biên hiệu quả ($OTE = 1.000$) duy trì vai trò làm tập hợp tham chiếu (reference set) cho các đơn vị chưa hiệu quả trong cùng khu vực.
Chỉ số hiệu quả (DEA) Điểm trung bình Nguyên nhân chính dẫn đến phi hiệu quả
Hiệu quả kỹ thuật tổng thể (OTE) < 1,000 Tồn tại khoảng cách so với đường biên thực hành tốt nhất
Hiệu quả kỹ thuật thuần túy (PTE) Mức cao Công tác quản lý vận hành nội bộ đạt mức tương đối tốt
Hiệu quả quy mô (SE) Mức thấp hơn PTE Quy mô sản xuất kinh doanh chưa đạt mức tối ưu kỹ thuật
  1. Kết quả phân tích hồi quy mô hình Tobit:

    • Mật độ khách hàng theo chiều dài đường dây: Có tương quan dương (cùng chiều) có ý nghĩa thống kê với $OTE$. Mật độ khách hàng cao giúp tối ưu hóa chi phí đầu tư trên mỗi đơn vị sản lượng.
    • Mật độ dân số trên địa bàn: Tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến $OTE$.
    • Tỷ lệ ngầm hóa lưới điện: Có tác động có ý nghĩa thống kê đến $OTE$.
    • Tỷ trọng công nghiệp trong GRDP: Tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến $OTE$ do phụ tải công nghiệp có hệ số phụ tải cao và tiêu thụ tập trung.
    • Quy mô CTPPĐ: Tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến $OTE$, khẳng định các CTPPĐ quy mô lớn có lợi thế kinh tế theo quy mô.
    • Cấu trúc khách hàng: Không có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến $OTE$ (kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Çelen (2013) tại Thổ Nhĩ Kỳ).
  2. Kết quả phân tích năng suất (Chỉ số Malmquist):

    • Tăng trưởng chỉ số năng suất nhân tố tổng hợp ($TFP$) của các CTPPĐ phía Nam giai đoạn 2011–2020 được thúc đẩy chủ yếu bởi thành phần tiến bộ công nghệ ($TECHCH$ - sự dịch chuyển của đường biên hiệu quả ra phía ngoài nhờ hiện đại hóa lưới điện và ứng dụng công nghệ thông tin), trong khi thành phần thay đổi hiệu quả kỹ thuật ($EFFCH$ - nỗ lực bắt kịp đường biên) đóng góp mức khiêm tốn hơn.

Chương 5. Thảo luận kết quả và hàm ý chính sách

Chương 5 thảo luận sâu về kết quả nghiên cứu và đề xuất 4 nhóm hàm ý chính sách quản lý nhà nước:

  • Khẳng định sự cần thiết điều tiết khâu phân phối điện: Đề xuất cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Cục Điều tiết Điện lực) sớm ban hành và hoàn thiện khung pháp lý về giá sử dụng dịch vụ lưới phân phối điện độc lập với giá bán lẻ điện.
  • Áp dụng cơ chế điều tiết theo hiệu quả hoạt động (PBR): Chuyển đổi mô hình điều tiết chi phí cộng thêm sang cơ chế giá trần hoặc doanh thu trần có so sánh chuẩn hiệu quả ($P_0 \times (1 + \text{RPI} - X)$), tạo động lực kinh tế để các CTPPĐ tự chủ cắt giảm chi phí vận hành.
  • Điều chỉnh sai biệt điều kiện môi trường: Khi xác định định mức chi phí và mục tiêu hiệu quả, cơ quan quản lý cần đưa các biến môi trường (mật độ khách hàng, tỷ lệ ngầm hóa, tỷ trọng công nghiệp) vào mô hình chuẩn hóa nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các đơn vị hoạt động ở địa bàn khó khăn.
  • Hàm ý cho các CTPPĐ và tái cơ cấu quy mô: Các CTPPĐ cần xây dựng lộ trình nâng cao hiệu quả kỹ thuật dựa trên các đơn vị tham chiếu. Do quy mô có tác động cùng chiều đến hiệu quả, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có thể xem xét phương án nghiên cứu sáp nhập một số CTPPĐ có quy mô nhỏ để tối ưu hóa hiệu quả theo quy mô ($SE$).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và học thuật

  • Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng phối hợp phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) và phân tích năng suất Malmquist để đo lường hiệu quả kỹ thuật tổng thể, hiệu quả kỹ thuật thuần túy, hiệu quả quy mô và năng suất của các CTPPĐ.
  • Xây dựng khung phân tích kinh tế lượng hai giai đoạn (DEA - Tobit) phù hợp với đặc thù quản lý ngành và khâu phân phối điện tại một quốc gia đang phát triển.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Xác định mức độ hiệu quả kỹ thuật và nguồn gốc tăng trưởng năng suất của 21 CTPPĐ khu vực phía Nam trong chuỗi thời gian 10 năm (2011–2020).
  • Kiểm định định lượng và chứng minh thực nghiệm ảnh hưởng của 5 nhân tố môi trường (mật độ khách hàng theo chiều dài đường dây, mật độ dân số, tỷ lệ ngầm hóa lưới điện, tỷ trọng công nghiệp và quy mô doanh nghiệp) đối với hiệu quả kỹ thuật tổng thể.
  • Phát hiện cấu trúc khách hàng không có tác động có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả kỹ thuật của CTPPĐ, đồng thời chỉ ra tiến bộ công nghệ là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng năng suất ($TFP$).
  • Chỉ ra nguyên nhân chính khiến các CTPPĐ chưa đạt điểm hiệu quả tối đa là do chưa tối ưu về mặt quy mô ($SE$), cung cấp bằng chứng định lượng cho các đề xuất tái cơ cấu, sáp nhập doanh nghiệp phân phối điện.

Đề xuất chính sách và giải pháp thực thi

  1. Hoàn thiện quy định về giá dịch vụ phân phối điện tách bạch với khâu bán lẻ điện theo lộ trình thị trường điện cạnh tranh.
  2. Thiết lập cơ chế điều tiết theo hiệu quả hoạt động (PBR) với công thức trần chi phí/giá dựa trên so sánh chuẩn biên hiệu quả.
  3. Chuẩn hóa việc đánh giá hiệu quả bằng cách loại trừ các yếu tố bất lợi về điều kiện địa bàn, mật độ phụ tải mà CTPPĐ không thể kiểm soát.
  4. Tối ưu hóa tổ chức sản xuất và xem xét tái cấu trúc quy mô các đơn vị phân phối điện nhằm khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Về phạm vi không gian và mẫu số liệu: Nghiên cứu mới tập trung phân tích 21 CTPPĐ thuộc Tổng công ty Điện lực miền Nam (TCTĐLMN), chưa bao gồm các CTPPĐ thuộc Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVNCPC), Tổng công ty Điện lực TP. Hà Nội (EVNHANOI) và Tổng công ty Điện lực TP. Hồ Chí Minh (EVNHCMC).
  • Về việc tích hợp các chỉ tiêu chất lượng dịch vụ: Nghiên cứu tập trung vào các biến số đầu vào kỹ thuật và đầu ra sản lượng/khách hàng; chưa tích hợp trực tiếp các biến số đo lường độ tin cậy cung cấp điện (như chỉ số thời gian mất điện trung bình SAIDI, chỉ số số lần mất điện trung bình SAIFI) vào mô hình DEA đo lường hiệu quả do hạn chế về chuỗi dữ liệu đồng bộ dài hạn.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Mở rộng phạm vi khảo sát cho toàn bộ các công ty phân phối điện trên phạm vi cả nước; bổ sung các mô hình DEA có gắn yếu tố chất lượng dịch vụ và tác động môi trường trong các chu kỳ điều tiết tiếp theo.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Cục Điều tiết Điện lực - ERAV): Cung cấp cơ sở khoa học và phương pháp luận định lượng để thiết kế cơ chế điều tiết theo hiệu quả hoạt động (PBR), xác định hệ số $P_0$ và $X$, đồng thời xây dựng quy định về giá sử dụng dịch vụ phân phối điện minh bạch.
  • Đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các Tổng công ty Điện lực: Cung cấp công cụ so sánh chuẩn (benchmarking) nội bộ nhằm nhận diện các đơn vị thực hành tốt nhất, xác định tiềm năng tiết giảm đầu vào (lao động, hạ tầng) và định hướng phương án sắp xếp, sáp nhập CTPPĐ theo quy mô tối ưu.
  • Đối với giới nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công, Kinh tế năng lượng: Tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm kết hợp DEA - Malmquist - Tobit trong phân tích kinh tế các ngành mạng lưới hạ tầng độc quyền tự nhiên. Phần Chương 3 (Phương pháp nghiên cứu) và Chương 4 (Phân tích thực nghiệm) là phần đáng tham khảo nhất về mặt kỹ thuật xử lý dữ liệu.

Câu hỏi thường gặp

1. Hiệu quả hoạt động của công ty phân phối điện trong luận án được cấu thành từ những yếu tố nào?

Theo khung lý thuyết quản lý công và điều tiết kinh tế mà tác giả sử dụng, hiệu quả hoạt động của CTPPĐ gồm hai thành phần cơ bản: hiệu quả kỹ thuật (khả năng tối thiểu hóa đầu vào gồm lao động, đường dây, trạm biến áp với mức đầu ra xác định) và năng suất nhân tố tổng hợp (được phân tách thành nỗ lực bắt kịp đường biên hiệu quả và sự chuyển dịch biên do tiến bộ công nghệ). Hai thành phần này là căn cứ để xác định giá đầu chu kỳ ($P_0$) và hệ số biến đổi năng suất ($X$) trong mô hình điều tiết PBR.

2. Luận án sử dụng những công cụ kinh tế lượng định lượng nào để đo lường và đánh giá?

Luận án áp dụng phương pháp định lượng hai giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Sử dụng phương pháp Phân tích bao dữ liệu (DEA) với mô hình CCR (CRS) và BCC (VRS) để tính điểm số OTE, PTE, SE; kết hợp phương pháp phân tích chỉ số Malmquist để đo lường biến động năng suất TFP.
  • Giai đoạn 2: Sử dụng mô hình hồi quy Tobit (với biến phụ thuộc OTE bị chặn trong khoảng $[0, 1]$) để ước lượng tác động của 6 biến môi trường bên ngoài.

3. Những nhân tố môi trường nào thực sự có ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của 21 CTPPĐ phía Nam?

Kết quả ước lượng mô hình Tobit tại Chương 4 xác nhận 5 nhân tố có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả kỹ thuật tổng thể gồm: mật độ khách hàng theo chiều dài lưới điện (tác động cùng chiều), mật độ dân số trên địa bàn (tác động cùng chiều), tỷ lệ ngầm hóa lưới điện, quy mô công ty phân phối điện (tác động cùng chiều) và tỷ trọng công nghiệp trong GRDP (tác động cùng chiều). Nhân tố cấu trúc khách hàng không có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê.

4. Nguyên nhân chính dẫn đến sự chưa tối ưu về hiệu quả kỹ thuật tổng thể của các CTPPĐ là gì?

Phân tích phân tách hiệu quả kỹ thuật tại Chương 4 chỉ ra rằng điểm hiệu quả kỹ thuật thuần túy ($PTE$) của các đơn vị đạt mức tương đối cao, trong khi điểm hiệu quả quy mô ($SE$) thấp hơn. Điều này chứng minh sự chưa tối ưu về hiệu quả kỹ thuật tổng thể ($OTE$) chủ yếu do các CTPPĐ chưa đạt được quy mô vận hành tối ưu, tạo cơ sở cho khuyến nghị nghiên cứu sáp nhập đơn vị.

5. Thành phần nào đóng vai trò quyết định đối với tăng trưởng năng suất của các CTPPĐ trong giai đoạn 2011–2020?

Kết quả phân tích chỉ số Malmquist cho thấy tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp ($TFP$) của các CTPPĐ khu vực phía Nam chủ yếu nhờ vào thành phần tiến bộ công nghệ ($TECHCH$ - việc đưa công nghệ mới, tự động hóa và hiện đại hóa lưới điện), trong khi đóng góp từ việc cải thiện hiệu quả kỹ thuật ($EFFCH$) ở mức thấp hơn.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Tuệ Quang đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về việc đánh giá hiệu quả hoạt động và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khâu phân phối điện tại 21 tỉnh/thành phố phía Nam giai đoạn 2011–2020. Bằng việc ứng dụng phương pháp định lượng hai giai đoạn (DEA - Malmquist và hồi quy Tobit), công trình đã cung cấp hệ thống bằng chứng thực nghiệm về tác động của mật độ khách hàng, mật độ dân số, tỷ trọng công nghiệp, tỷ lệ ngầm hóa và quy mô doanh nghiệp đến hiệu quả kỹ thuật, đồng thời khẳng định vai trò chủ đạo của tiến bộ công nghệ đối với tăng trưởng năng suất. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học và thực tiễn cao cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoạch định chính sách điều tiết theo hiệu quả hoạt động (PBR) và cơ chế giá dịch vụ phân phối điện tại Việt Nam.