Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương II: Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Chương III: Thực trạng ngành dét may Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Chương IV: Giải pháp nâng cao vị thế ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn câu CHUONG I: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về chuỗi gia trị toàn cau Với vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chuỗi giá trị toàn câu luôn là chủ đê nghiên cứu nóng bỏng, nhận được rât nhiêu sự quan tâm. Dưới đây là một sô nghiên cứu tiêu biêu về chuỗi giá tri toàn câu: Khái niệm chuỗi giá trị lần đầu được tác giả Michael Porter (1985) đề cập tới trong cuốn “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”, tac gia đã chi ra được về mặt cấu trúc, chuỗi giá tri gồm hai nhóm hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ. Trong đó, hoạt động chính bao gồm LogIstics đầu vào, vận hành, Logistics dau ra, Marketing — bán hàng va dich vu; hoạt động bồ trợ gồm thu mua, quản tri nguồn nhân lực, phát triển công nghệ và cơ sở hạ tầng.
Tiếp theo đó, hai tác giả Raphael Kaplinsky va Mike Morris (2000) trong cuốn “A handbook for Value chain research” của mình đã đưa ra những lý luận mới mẻ hơn về chuỗi giá trị khi đề cập tới hoạt động tái chế như một giai đoạn sau cùng. Hai tác giả cũng phân loại chuỗi giá trị thành ba hình thức bao gồm chuỗi giá trị giản đơn, chuỗi giá trị mở rộng và chuỗi giá trị kết hợp. Mô hình chuỗi giá trị của Raphael Kaplinsky và Mike Morris đã kế thừa được những ưu điểm của Michael Porter và làm hoàn thiện hơn, có tính ứng dụng thực tế cao hơn. Dé áp dụng khuôn khổ chuỗi giá trị vào nghiên cứu những chuyển đổi trong sản xuất, thương mại và chiến lược doanh nghiệp trong một ngành kinh tế cụ thé.
Tác giả Gary Gereffi và Olga Memedovic (2003) trong nghiên cứu “The Global Apparel Value Chain: What Prospects for Upgrading by Developing Countries?” da xay dung khai niệm chuỗi giá trị toàn cầu va ứng dụng giải thích những chuyền đổi trong sản xuất, thương mại và chiến lược doanh nghiệp đã thay đổi trong ngành công nghiệp may mặc. Hai tác giả cũng chi ra rằng chuỗi giá trị dét may được xác định là người mua định hướng, bao gôm ba loại công ty dân đâu là nhà bán lẻ, nhà tiêp thị và nhà sản xuât có thương hiệu, qua đó, đôi mới trong chuôi giá trị dệt may toàn câu chủ yêu găn liên với việc chuyên từ lap ráp sang sản xuât trọn gói, thay đôi cơ bản môi quan hệ giữa người mua và nhà sản xuât, trao quyên tự chủ nhiêu hơn cho công ty cung ứng. Tiếp tục làm rõ quan điểm chuỗi giá trị dệt may chủ yếu do người mua chỉ phối, tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (2006) trong nghiên cứu “Tim hiểu mô hình chuối giá trị dệt may toàn cau” đã cho thấy chuỗi giá trị dét may được tô chức theo 5 công đoạn chính: công đoạn cung cấp nguyên liệu thô như sợi tổng hợp và sợi tự nhiên; công đoạn cung cấp các phụ kiện như tơ, sợi từ các nhà máy dệt; công đoạn sản xuất hàng may mặc, hình thành mạng lưới sản xuất toàn cầu từ các nhà máy cho đến khi các nhà thầu phụ ở nhiều nước khác nhau; công đoạn xuất khẩu được hình thành bởi các đại lý thương mai; và mạng lưới marketing ở cấp độ bán lẻ. Ở mỗi công đoạn đều có những đặc điểm về tổ chức và kỹ thuật riêng, được tác giả trình bày một cách chỉ tiết và cụ thé.
Trên khía cạnh tác động của chuỗi giá trị toàn cầu đến thị trường lao động và người lao động của các nước đang phát triển, tác giả Kenta Goto (2011) trong nghiên cứu “Competitiveness and Decent Work in Global Value Chains: Substitutionary or Complementary” đã chi ra chuỗi giá trị toàn cầu là nguôồn việc làm quan trọng cho các nước dang phát triển. Ong đã cé gắng tìm kiếm cách nâng cấp kinh tế và điều kiện làm việc tốt khi các chuỗi giá trị toàn cầu có xu hướng gia tăng, bằng cách xem xét các quốc gia xuất khẩu hang may mặc ở chau A. Với lập luận rang trình độ, chi phí lao động cũng như các điều kiện kinh tế và thị trường lao động tại quốc gia đó có ý nghĩa quan trọng tới khả năng cạnh tranh của quốc gia. Với ý tưởng dựa trên mô hình đầu vào — dau ra giữa các quốc gia, dé đo lường nhất quán về quy mô cũng như độ dài của chuỗi giá trị, ba tác giả Ming Ye, Bo Meng và Shang-jin Wei (2012) với bài nghiên cứu “Measuring Smile Curve in Global Value Chains” đã sử dụng mô hình đường cong nu cười trong việc xác định và điêu tra ở cap quốc gia và cấp ngành bang cách sử dụng dữ liệu that.
Ý tưởng này cho phép sử dụng mô hình đường cong nụ cười tốt hơn cho các quốc gia và ngành công nghiệp theo vị trí và mức độ tham gia của họ trong một chuỗi giá trị khái niệm nhat định. Đề xác định mức độ tham gia cũng như vi thế của một quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, nhóm tác giả Robert Koopman, William Powers, Zhi Wang và Shang-Jin Wei (2010) trong bai nghiên cứu “Give credit where credit is due: Tracing Value added in Global Production Chains” đã đề xuất chi số tham gia chuỗi giá trị toàn cau va chi số vi thế khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của một quốc gia tham chiếu và ngành kinh tế cụ thé trong chuỗi giá trị toàn cầu. Bài báo này cung cấp cả khung khái niệm dé phân tích tong xuất khẩu của một quốc gia thành các thành phan giá trị gia tăng theo nguồn và co sở đữ liệu song phương mới về thương mại giá trị gia tăng, phân tích tích hợp tất cả các thước đo trước đây về chuyên môn hóa ngành dọc và thương mại giá trị gia tăng tại thời điêm đó. Dé làm rõ hơn các chỉ số tham gia và chỉ số vị thé của một quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, sinh viên đã tiếp cận theo ước tính “Thương mại giá trị gia tăng” được giải thích và làm rõ bởi Namid Ahmad (2013) trong bài nghiên cứu “Estimating trade in value-added: Why and how”.
Tác giả cho rằng chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành đặc điểm nổi trội của nền kinh tế toàn cầu, và dé nghiên cứu những số liệu xung quanh nó khi sử dụng các biện pháp thương mại truyền thống sẽ dé dẫn đến các sai lệch khi ghi nhận tông lưu lượng hàng hóa và dịch vụ mỗi khi chúng qua biên giới. Do đó, tác giả kiến nghị sử dụng cách tiếp cận Thương mai giá trị gia tăng dé tránh những kết qua sai lệch và dẫn đến những quyết định sai lầm. Những chỉ số tham gia và định vị trong chuỗi giá trị toàn cầu đã được hai tác giả Nguyễn Việt Khôi, Shashi Kant Chaudhary (2019) ứng dụng trong nghiên cứu “Vi thé của Việt Nam trong Chuỗi giá trị toàn cầu” với vai trò là một phương pháp tiếp cận nhằm xác định mức độ tham gia và định vi vi thé của Việt Nam khi tham gia vào Chuỗi giá tri toàn câu. Di cùng với phương pháp tiép cận nhu câu cuôi cùng, hai tác giả đã chỉ ra răng Việt Nam tham gia vào chuối giá trị theo kiêu liên kêt ngược chuyên về các hoạt động hạ nguôn của chuỗi giá tri, hiện đang ở công đoạn đáy của đường cong nụ cười và tạo ra giá trị gia tăng thấp và lợi nhuận ít.
Những nghiên cứu về ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Ngành dét may đã va đang đóng góp không nhỏ vào công cuộc phát trién đất nước, tạo việc làm, ôn định đời sống chính trị - xã hội Việt Nam. Với vi trí quan trọng trong nền kinh tế, trong hơn chục năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngành, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đang ngày càng 6n định vi thé của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu, ngành dệt may cũng được kì vọng tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn trong chuỗi giá trị dét may toàn cầu. Sau đây mà một số công trình tiêu biéu: Nhằm thúc đây tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, Đỗ Thị Loan (2008) và nhóm nghiên cứu trong đề tài “Đẩy mạnh việc tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu (global value chain - GVC) nham ndng cao nang luc cạnh tranh cua các doanh nghiệp dét may Việt Nam” đã chi ra những co hội va thách thức về khía cạnh năng lực cạnh tranh khi các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Bài nghiên cứu thông qua phân tích, đánh giá khả năng của các doanh nghiệp trong nước, đưa ra khả năng gia nhập và đề xuất các chính sách, giải pháp đây mạnh việc tham gia vào chuỗi giá trị dét may toàn cầu của các doanh nghiệp Việt Nam.
Đề đánh giá khả năng tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, tác giả Lương Thị Linh (2012) với luận văn “Chuối giá trị dệt may toàn cầu và kha năng tham gia của ngành dệt may Việt Nam” đã tìm ra những han chế và các rào cản ngăn Việt Nam gia nhập chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Từ đó đưa ra những giải pháp giúp nâng cao hiệu quả trong việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của ngành dệt may Việt Nam. Với mục đích định vi và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, tác giả Cao Xuân Hiếu (2010) với bài nghiên cứu “Dinh vị ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cau — Thực trạng và giải pháp” cùng tac giả Dang Thị Tuyết Nhung (2011) với nghiên cứu “Nâng cao giá trị và vị thé của ngành dệt may Việt Nam trong chuối giá trị dệt may toàn câu” đã áp dụng mô hình đường cong nụ cười vào xác định vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị đệt may toàn cầu. Hai bài nghiên cứu đều cho thấy răng ngành dệt may Việt Nam giai đoạn đó đang ở dưới đáy của đường cong (vùng hạ nguồn của chuỗi giá trị dét may toàn cầu), đây là giai đoạn có giá trị gia tăng thấp và lợi nhuận vô cùng ít.
Qua đó, hai tác giả cũng đã có những đề xuất nhăm mục dich dịch chuyên ngành dệt may Việt Nam tới những mắt xích, công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.