CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nội dung tổng quan 1. Các công trình nghiên cứu liên quan của một số nước đang phát triển Mark Anner (2020) đã chỉ ra tác động tàn khốc của cuộc khủng hoảng do đại dịch Covid 19 đối với ngành may mặc ở Bangladesh. Việc hủy đơn đặt hàng, thiếu thanh toán và từ chối thanh toán của người mua khiến các nhà cung cấp bị ảnh hưởng nặng nề va phải tạm ngừng hoạt động của mình.
Điều này còn khiến hàng triệu công nhân may mặc ở Bangladesh bị sa thải và mắt việc làm mà không có trợ cấp thôi việc. Qua đó, tác giả cũng đã đưa ra một vài giải pháp từ phía chính phủ và các nhà cung cấp doanh nghiệp nhằm giúp cho ngành dệt may ở Bangladesh có thể thoát khỏi cuộc khủng hoảng này. Báo cáo của ILO (2020) đã khái quát toàn bộ tác động của dich Covid 19 đối với ngành công nghiệp dệt may, da, dày trên toàn thế giới ở các khía cạnh như doanh thu, sản xuất, thương mại buôn bán, việc làm và điều kiện làm việc của người lao động. Báo cáo đưa ra một số giải pháp và hành động cấp thiết từ phía chính phủ, các tổ chức sử dụng lao động quốc tế và bản thân người lao động trong ngành dệt may, da, dày này nhằm kích thích nền kinh tế và nhu cầu lao động, hỗ trợ doanh nghiệp việc làm và thu nhập, bảo vệ người lao động tại nơi làm việc.
Báo cáo cua Asian Development Bank (2020 đã chỉ ra ảnh hưởng tiêu cực của Covid 19 đối với ngành hàng may sẵn (RMG) tại Bangladesh, nơi mà nền kinh tế có sự phụ thuộc nhiều vào ngành công nghiệp quần áo may sẵn này trong nhiều khía cạnh như tạo việc làm, tăng dự trữ ngoại hối, trao quyền cho phụ nữ.Đồng thời chỉ ra những nỗ lực của chính phủ trong việc chống lai su sụp đồ của Covid 19 như đưa ra gói kích cầu trị giá 956 tỷ Tk (11,2 tỷ USD), củng cô mạng lưới an sinh xã hội, các doanh nghiệp vừa và nhỏ và một số lĩnh vực ưu tiên khác. Ngân hàng phát trién Châu A (ADB) cũng đã và đang hỗ trợ chính phủ Bangladesh trong các chương trình đào tạo, nâng cao kỹ năng nhân lực trong ngành sản xuất hàng may sẵn. (2020) đã chỉ ra nguyên nhân của sự thiếu bền vững về mặt xã hội trong chuỗi cung ứng quan áo đang hoạt động ở các nước Nam A là do sức mạnh chi phối của một số thương hiệu lớn trong chuỗi cung ứng quan áo. Ngoài ra, việc sản xuất quần áo theo hợp đồng phụ trái phép và sử dụng lao động theo hợp đồng của các nhà cung cấp là những nguyên nhân chính gây nên ảnh hưởng đến an sinh xã hội trong các chuỗi cung ứng quần áo ở Nam Á.
Từ đó đề xuất một số giải pháp như: áp dung mô hình tìm nguồn cung ứng bên vững kết hợp các hợp đồng chia sẻ rủi ro gián đoạn giữa thương hiệu và nhà cung cấp (Post Covid 19); Loại bỏ hợp đồng phụ trái phép sản xuất quần áo; Các thương hiệu cũng nên khuyến khích các nhà cung cấp sử dụng lực lượng lao động thường xuyên bằng cách điều chỉnh chính sách lựa chọn nhà cung cấp và phân bé đơn hàng. Xue Jiang (2020) phân tích sự phát triển của xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc trong bối cảnh dịch bệnh Covid 19 và đưa ra một số chiến lược đối phó cho các doanh nghiệp tham gia thương mại xuất khâu hàng dệt may trong nước như sau: Xây dựng thương hiệu riêng dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống của Trung Quốc; ứng dụng sự tiến bộ của khoa học công nghệ cao trong sản xuất, bán hàng; dịch chuyền va hỗ trợ hàng hóa xuất khẩu dé bán trong thị trường nội dia. Samit Chakraborty, Manik Chandra Biswas (2020) đã khám phá và thảo luận những điểm chính liên quan đến sự gián đoạn chuỗi cung ứng của ngành dét may và sản xuất thời trang và ảnh hưởng của nó đến sản xuất, xuất nhập khâu, GDP, việc làm và tiêu dùng toàn cầu. Ngoài ra, tác giả đã đưa ra nghiên cứu điển hình cho thấy đại dịch anh hưởng đáng kể đến việc quản lý chuỗi cung ứng của ngành hàng may mặc sẵn ở Bangladesh.
Từ đó, đề xuất một số giải pháp giúp ngành dệt may và sản xuất thời trang có thể phục hồi sau đại dịch Covid 19 như: tái cấu trúc hệ thống chuỗi cung ứng của ngành đê cải thiện ngành sản xuât và bán lẻ trong tương lai gân; các công ty nên phát triên mô hình chuỗi cung ứng tinh gọn thuận tiện cho việc sản xuât cả quân áo may san và quân áo bảo hộ. Jo’raev Ilhomjon Kamolidinovich, Mahmudov Nosir Mahmudovich (2021) thảo luận về những cải cách hiện tại và thay đổi cơ cau trong ngành dệt may cũng như các van đề về tiềm năng xuất khẩu của Uzbekistan thông qua việc sử dụng hiệu quả năng lực sản xuất trong ngành dệt may. Qua đó đưa ra các đề xuất nhằm đây mạnh cải cách ngành dệt may trong nước và nâng cao tiềm năng xuất khẩu như: tăng tỷ trọng của ngành dệt may trong nền kinh tế, tăng khối lượng và chất lượng sản phẩm dệt may trong nước; sửa đổi căn bản hệ thống quản lý ngành dệt may; áp dụng rộng rãi công nghệ tiên tiến vào thiệt kê và quy trình sản xuât, nội địa hóa sản xuât mẫu mã phụ kiện, phụ tùng hiện đại. Li Zhao, Kihyung Kim (2021) đã sử dụng khung chuỗi giá trị toàn cầu và lý thuyết dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp dé phat triển mô hình khái niệm minh họa mối liên hệ giữa các phân đoạn chuỗi giá trị hàng dệt may khác nhau mà đã bị ảnh hưởng do đại dịch Covid 19.
Tác giả đã đưa ra những khả năng mới với chuỗi giá trị hàng dệt may và quan áo bằng cách đánh giá các phản ứng cụ thé của ngành; Đồng thời đưa ra những cân nhắc có thé hành động cho các nhà sản xuất hàng dét may và quan áo khi thực hiện các chiến lược thích hợp trong thời gian khủng hoảng, chang hạn như dai dịch Covid 19. Kanupriya (2021) đã chỉ ra các tác động của cuộc khủng hoảng do đại dịch Covid 19 đối với lĩnh vực dệt may — một lĩnh vực kinh doanh quan trọng tại thị trường An Độ. Đồng thời đưa ra một số giải pháp khả thi để giải quyết cuộc khủng hoảng như miễn thuế hoặc nới lỏng thời hạn nộp thuế, đề xuất gói tài chính toàn diện Atmanirbhar Bharat Abhiyan, bao thanh toán trong các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động và xuất khẩu như đệt may. Các công trình nghiên cứu liên quan của Việt Nam Phí Thị Thu Hương (2020) đã phân tích thực trạng vốn FDI vào công nghiệp hỗ trợ ngành May mặc Việt Nam giai đoạn từ năm 2010 — 2019.
Kết quả cho thấy lượng vốn FDI vào CNHT ngành May Việt Nam còn rất hạn chế với sự không cân bằng về tỷ trọng dành cho các lĩnh vực. Lĩnh vực CNHT được nhiều nhà đầu tư nước ngoai quan tâm dau tư là lĩnh vực sản xuất bông, xơ, SỢI, chiếm hơn 50% tổng số vốn FDI vào CNHT ngành May. Một số lĩnh vực khác như nhuộm, hoàn tất vải, hóa chất nhuộm. thì chỉ thu hút được rất ít vốn FDI chỉ chiếm gần 6% tổng số vốn FDI đăng ký đầu tư vào CNHT ngành May mặc Việt Nam.
Lê Thị Kiều Oanh, Đỗ Thị Thu Hồng (2019) đã chỉ ra thực trạng phát triển của ngành Dệt may Việt Nam trong bối cảnh căng thăng của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Một số khó khăn và thách thức mà ngành Dệt may đang phải đối mặt là: giá hàng hóa gia công tại Việt Nam cao hơn so với một số nước xuất khẩu trong khu vực làm ảnh hưởng tới SỐ lượng đơn hàng xuất khẩu, đặc biệt nhóm hàng dệt may; hoạt động tiêu thụ sợi và nguyên phụ liệu sang Trung Quốc gặp nhiều khó khăn; yêu cầu nghiêm ngặt về quy tắc xuất xứ của các FTA, việc áp dụng khoa học công nghệ còn hạn chế. Qua đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cải tiến về đầu tư, thị trường, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, thủ tục hành chính. nhằm phát triển bền vững ngành Dệt may.
Nghiên cứu của Bộ Công Thương Việt Nam (2021) về xu hướng dịch chuyền xuất khẩu mặt hàng dệt may dưới sự tác động của dịch Covid 19 và ảnh hưởng từ căng thắng thương mại Mỹ — Trung cho thấy: có một sự dịch chuyển nguồn cung ứng ra khỏi thị trường Trung Quốc sang khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự dịch chuyên cơ cấu chủng loại hàng may mặc của Việt Nam từ quan áo Vest, áo Jacket. sang quân áo trẻ em, vải, quân áo bảo hộ lao động. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) (2020), “Ngành dệt may Châu A — Thái Binh Dương chịu tác động nặng nề do Covid 19 ảnh hưởng toàn bộ chuỗi cung ứng”, đã xác định những tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng Covid 19 đến ngành dệt may Châu Á - Thái Bình Dương, ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động và các nhà máy tại 10 nước sản xuất hàng dệt may lớn nhất trong khu vực bao gồm: Bangladesh, Cam-pu-chia, Trung Quốc, An Độ, Indonesia, Myanmar, Pakistan, Philippines, Sri Lanka và Việt Nam.
Đồng thời đưa ra các khuyến nghị hỗ trợ cho doanh nghiệp và mở rộng an sinh xã hội tới người lao động Báo cáo của PwC Việt Nam (2020) tim hiểu các tác động tiềm ân của đợt bùng phát đại dich Covid 19 đối với kinh tế Việt Nam đối với một số ngành tiêu biéu như Dệt may/ may mặc và Sản xuất điện tử tiêu dùng. Bên cạnh đó, đưa ra một số triển vọng kinh tế sẽ hồi phục từ các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam nói riêng và triển vọng kinh tế hiện tại của Việt Nam nói chung. Lê Thị Hường (2021) đã đưa ra kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc xanh hóa ngành Dệt May như Bangladesh, Trung Quốc, Liên minh Châu Âu; chỉ ra các xu hướng phát triển bền vững của dệt may toàn cau; trong đó dé cập đến các chứng nhận bền vững trong ngành dệt may như Tiêu chuẩn Tái chế Toàn cầu (GRS), tiêu chuẩn toàn cầu sản xuất vải thun Cotton tốt hơn (BCI), chứng nhận sản phẩm theo tiêu chuẩn xây dựng xanh Cradle to Cradle.