Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Lý thuyết chung cụm ngành logistics http://www.vn/kinh-te/201612/cum-cang-cai-mep-thi-vai-nhin-tu-loi-ich-quoc-gia- bai-2-thieu-tinh-lien-ket-lam-kim-ham-phat-trien-716026/; 4 Chương 3: Thực trạng phát triển cụm ngành logistics vùng Đông Nam Bộ Chương 4: Kết luận và khuyến nghị chính sách. 5 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT CHUNG CỤM NGÀNH LOGISTICS 2.1 Khái niệm logistics Dưới cách tiếp cận logistics từ vấn đề kinh tế thì sự ra đời của các cuộc cách mạng và các tổ chức, liên minh quốc tế…đã làm tăng vai trò logistics trong nâng cao năng lực cạnh tranh của DN, của quốc gia và trở thành một yếu tố quan trọng trong giao thương quốc tế. Tùy thuộc vào bối cảnh của lịch sử, tùy thuộc vào yếu tố chi phối đến hoạt động logistics mà có nhiều định nghĩa tương ứng. Chẳng hạn Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals–CSCMP): Quản trị logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Theo David Simchi-Levi10: “Hệ thống Logistics (Logistics Network) là một nhóm các cách tiếp cận được sử dụng để liên kết các nhà cung cấp, nhà sản xuất, kho, cửa hàng một cách hiệu quả để hàng hoá được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm mục đích giảm thiểu chi phí trên toàn hệ thống đồng thời đáp ứng được yêu cầu về mức độ phục vụ”11 Cũng trong Báo cáo của Viện nghiên cứu và phát triển logistics Việt Nam12 (Vietnam Logistics Institute-VLI) trình bày về định nghĩa logistics của một số nước được đánh giá có hoạt động logistics phát triển qua vị trí xếp hạng chỉ số LPI. Singapore-quốc gia qua các năm có chỉ số LPI luôn thuộc nhóm dẫn đầu. Hiệp hội Logistics Singapore nêu rằng: Dịch vụ giao nhận vận tải và logistics là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến việc vận chuyển (được thực hiện bởi 1 hay nhiều phương thức vận tải (PTVT)), gom hàng, lưu trữ, xếp dỡ, xử lý, đóng gói hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn, cố vấn, bao gồm nhưng không giới hạn về hải quan và các vấn đề tài chính, kê 10 Giáo sư David Simchi-Levi chuyên nghiên cứu về chuỗi cung ứng tại Viện công nghệ Massachusetts, Mỹ; 11 TS. Đoàn Thị Hồng Vân (2010), Logistics – Những vấn đề cơ bản, NXB Lao động xã hội; 12 VLI (2016), Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ logistics và đề xuất sửa đổi Nghị định 140/2007 NĐ-CP; 6 khai hàng hóa theo quy định, mua bảo hiểm, thu hoặc chi các khoản thanh toán hoặc các chứng từ liên quan đến hàng hóa.
Dịch vụ giao nhận (hiện đại) cũng bao gồm các dịch vụ logistics với công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông hiện đại tích hợp với việc vận chuyển, xử lý hoặc dự trữ hàng hóa (trên thực tế là quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng). Những dịch vụ này có thể được thiết kế riêng biệt để đảm bảo các dịch vụ được cung cấp một cách linh hoạt. Ban phát triển đầu tư của Malaysia định nghĩa về logistics như sau Thuật ngữ dịch vụ logistics đề cập đến một quá trình quản lý chuỗi cung ứng bao gồm lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát tính hiệu quả và hiệu suất của dòng lưu chuyển, lưu trữ hàng hóa-dịch vụ, và thông tin liên quan từ điểm xuất phát gốc đến điểm tiêu thụ cuối cùng của khách hàng. Logistics được chia làm các dịch vụ, bao gồm Dịch vụ kho bãi và dịch vụ quản trị hàng tồn kho; dịch vụ vận tải; dịch vụ giao nhận; dịch vụ logistics tích hợp; dịch vụ logistics tích hợp quốc tế; quản lý chuỗi cung ứng lạnh.
Cơ quan Phát triển Kinh tế Xã hội Quốc gia Thái Lan định nghĩa logistics là một phần của chuỗi cung ứng; bao gồm việc lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát công việc một cách có hiệu quả dòng lưu chuyển hai chiều, tồn trữ hàng hóa-dịch vụ và thông tin từ điểm khởi đầu quá trình sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng, nhằm mục đích thỏa mãn được những yêu cầu của khách hàng. Theo đó, ngành logistics phân thành 5 nhóm hoạt động, bao gồm Vận tải hàng hóa trong và ngoài nước bằng đường bộ, đường sắt, đường biển hoặc đường hàng không; lưu trữ hàng hóa, kho bãi, đóng gói và phân phối hàng hóa; thủ tục thông quan (hải quan); các hoạt động logistics phụ trợ liên quan; dịch vụ bưu chính, chuyển phát bưu kiện. Trong các khái niệm trên, logistics được đặt trong mối quan hệ với chuỗi cung ứng, trong mối liên hệ giữa quản trị và dịch vụ logistics làm sao để tăng hiệu quả trong chuỗi cung ứng. Trên cơ sở đó VLI đưa ra khái niệm về logistics và đây cũng là khái niệm được tác giả sử dụng trong phạm vi nội dung phân tích: “Logistics là các công việc cần thiết để quản lý điều hành dòng luân chuyển và tồn trữ hàng hóa-dịch vụ xuyên suốt chuỗi cung ứng, bao gồm các hoạt động quản trị logistics, giao nhận vận tải quốc tế, dịch vụ logistics tích hợp và các dịch vụ khác trong hoạt động chuỗi cung ứng.
Khái 7 niệm này bao quát được hoạt động logistics, bổ sung cho khái niệm dịch vụ logistics đề cập tại Điều 233 Luật Thương mại 200513. Theo cách tiếp cận mới này, logistics bao gồm Dịch vụ xếp dỡ, kho bãi và lưu trữ hàng hóa (bao gồm cảng, ga hàng hóa, kho hàng, bãi container và các dịch vụ bao bì, đóng gói); dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế (phân theo PTVT & vận tải đa phương thức, có sở hữu và không sở hữu phương tiện); dịch vụ chuyển phát nhanh (bưu chính, chuyển phát, giao hàng nhanh theo yêu cầu Thương mại điện tử); dịch vụ logistics tích hợp; dịch vụ quản lý chuỗi cung ứng (bao gồm thiết kế, đo lường, kiểm tra, thử nghiệm, kiểm định, phân tích, cung cấp trang thiết bị, đào tạo, tư vấn…).2 Khung phân tích năng lực cạnh tranh cụm ngành logistics 2.1 Khung phân tích năng lực cạnh tranh cụm ngành Trong nền kinh tế thị trường, quy luật đào thải có chọn lọc là thách thức mà mỗi cá thể tham gia đều phải đối mặt. Cạnh tranh là cần thiết để mỗi chủ thể tồn tại trên thị trường sau những quyết định lựa chọn sử dụng nguồn lực trong điều kiện khan hiếm để Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Qua đó cạnh tranh giúp cho toàn xã hội nhận được những lợi ích tối ưu. Micheal Porter-chuyên gia hàng đầu về chiến lược và chính sách cạnh tranh, “cha đẻ” các lý thuyết lợi thế cạnh tranh đưa cụm ngành vào lý thuyết cạnh tranh khi đề cập đến năng suất–yếu tố dẫn đến mức thịnh vượng từ góc độ tiến cận kinh tế bởi (1) tăng sự liên kết và tác động lan toả giữa các DN và các tổ chức có liên quan trong cạnh tranh; (2) thúc đẩy năng suất và hiệu quả thông qua việc tiếp cận thông tin, giảm chi phí, tăng cạnh tranh; (3) thúc đẩy đổi mới bằng cách tăng cơ hội đổi mới công nghệ; (4) thúc đẩy thương mại hóa.
Cụm ngành là khuôn khổ để tổ chức thực hiện các chính sách hướng đến phát triển kinh tế vì tính lan tỏa và tính liên kết các thành phần khác trong nền kinh tế. 13 Các cụm từ trong khái niệm theo VLI đưa ra & Khái niệm dịch vụ logistics theo Điều 233 Luật Thương mại 2005 được diễn giải phần PHỤ LỤC 2.1: Định nghĩa một số thuật ngữ liên quan logistics; 8 Hình 2.1: Chính sách lấy cụm ngành làm trung tâm (Nguồn: Vũ Thành Tự Anh (2016), Bài giảng Khung khái niệm và phân tích: Định nghĩa năng lực cạnh tranh và các nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh) Theo Micheal Porter, phân tích NLCT cụm ngành bao gồm các yếu tố được miêu tả trong Hình 2.2: Mô hình đánh giá lợi thế cạnh tranh của cụm ngành (Nguồn: Vũ Thành Tự Anh, trích trong VCR 2010) 9 2.2 Sơ đồ cụm ngành logistics vùng Đông Nam Bộ đặt trong khung phân tích năng lực cạnh tranh Micheal Porter Xuất phát từ cách hiểu sơ khai nhất cũng là đặc trưng hình thành nên từ logistics, hoạt động vận tải là xương sống trong chuỗi giá trị logistics, cấu thành nên hiệu quả của hoạt động logistics biểu hiện qua chi phí logistics hay qua chỉ số LPI14. Sự phát triển của quá trình sản xuất kinh doanh cũng như giải quyết vấn đề tối ưu của bài toán kinh tế mà hoạt động vận tải đã ra đời nhiều phương thức phù hợp và kết hợp giữa chúng trong quá trình chu chuyển dòng hàng. ĐNB với những thuận lợi về vị trí địa lý, là một trong ít khu vực trên thế giới có thể phát triển đa dạng các loại phương thức từ vận tải đường bộ, đường biển, thủy nội địa, đường sắt cho đến vận tải đường ống.
Từ cuộc cách mạng công nghiệp, sau này là xu hướng toàn cầu hóa làm cho hoạt động vận chuyển hàng hóa xuyên lãnh thổ được đẩy mạnh hơn cả. Những thuận lợi bước đầu trong vận tải biển cùng tính hệ thống trong hoạt động kinh doanh cũng như những đặc trưng về tình hình kinh tế của mỗi quốc gia đã từng bước hình thành nên các cảng nhận–chuyển hàng. Hoạt động khai thác cảng trở thành cầu nối cho hoạt động logistics toàn cầu, là nơi chuyển tiếp, là đầu mối trung chuyển của nhiều tuyến vận tải, là nơi ghi nhận sản lượng trong hoạt động xuất–nhập khẩu (XNK) hàng hóa. Hoạt động khai thác cảng với đa dạng loại hình, xu hướng khai thác…là một trong những chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển logistics của quốc gia đó.
Do vậy, hoạt động khai thác cảng là một trong những nhân tố quyết định đến NLCT của ngành logistics. Hoạt động khai thác cảng ĐNB với 3 loại hình khai thác: cảng hàng không (CHK), khai thác cảng biển và khai thác cảng cạn-cánh tay nối dài vào sâu nội địa từ các điểm nút.