đặt vấn đề như sau: “Tôi có đứa con là công ty X. Làm có bao nhiều tiền lời, nó cũng đều đưa tôi cả mà không có giữ lại. Lúc trước tôi cho nó x đồng. Giờ ông có muốn lấy tiền lời của công ty X không? Nếu có thì ông trả lại x đồng cho tôi, rồi ông thay tôi mà hưởng lợi nhuận”.
Như vậy ta thấy, bản chất là ông A bán cho ông B các quyền lợi của mình tại công ty. Để có các quyền lợi này, ông A đã phải đầu tư. Nay, ông B muốn có các quyền này, thì trả lại khoản đầu tư cho ông A. Chuyện này không liên quan gì đến tài sản của công ty X.
Giá cả mua bán các quyền lợi tại công ty X giữa ông A và ông B như thế nào là chuyện của các bên. Công ty không quan tâm và xã hội cũng không cần quan tâm. Điều này xuất phát từ hai lẽ sau đây: Một là: Câu chuyện này chỉ ảnh hưởng đến ông A. Vì ông A muốn có các quyền hưởng lợi và quản trị tại công ty X thì phải đầu tư x đồng.
Nay, ông A chịu bán quyền đó cho người ta nhằm mục đích thu hồi vốn đã đầu tư. Nếu bán nhiều hơn x đồng thì ông có lời, nếu bán ít hơn x đồng thì coi như ông bị lỗ. Hai là: Câu chuyện này không ảnh hưởng gì tới công ty và xã hội. Công ty làm có lãi thì không được giữ lại, nên việc đưa tiền lời cho ông A hay ông B, ông C nào đó thì bản chất cũng như nhau.
Điều mà xã hội quan tâm là tài sản trong công ty X vì đó chính là cái dùng để trả nợ. Nhưng chuyện mua bán chỉ liên quan đến quyền hưởng lợi nhuận và quản trị mà không liên quan đến tài sản, nên xã hội cũng không cần quan tâm. 257 Bán công ty với giá 1 USD có trái luật không? Với những gì vừa phân tích, nếu bán công ty với giá 1 USD thì có nghĩa là doanh nhân A chấp nhận bỏ đi toàn bộ số tiền đầu tư lúc đầu. Việc mua bán công ty được nhìn nhận từ hai góc độ: Thứ nhất, góc độ kinh tế: Người mua đạt được lợi ích gì khi mua công ty này? Thông thường, công ty này đang ở trong tình trạng rất khó khăn, làm ăn thua lỗ và không có lợi nhuận.
Bản chất của việc mua bán này là mua quyền hưởng lợi. Tuy nhiên, công ty này đang làm ăn không có lời nên doanh nhân A mới bán với giá tượng trưng như vậy. Nhưng đó là ông A, còn ông B thì khác. Ông này thấy được triển vọng của việc phát triển.
Triển vọng này có thể có được nhờ những hướng đi mới cộng với tình trạng tài chính tốt của ông B. Để vực dậy công ty X, ông B sẵn sàng bỏ thêm vốn vào công ty X. Vì nếu thành công, ông B sẽ có lợi rất lớn. Vì ông B không cần phải đầu tư cho phần đầu tư lúc đầu mà chỉ tiếp quản những gì còn lại của ông A.
Như vậy, khi mua công ty với giá 1 USD, người mua phải chuẩn bị phương án kinh doanh và tiền. Thứ hai, góc độ pháp lý: Chúng ta chỉ quan tâm đến trách nhiệm của công ty trong việc trả nợ cho các chủ nợ. Giả sử ông A không bán công ty, thì khi công ty vỡ nợ, ông vẫn không trả nợ thay cho công ty (vì là trách nhiệm hữu hạn). Cho nên khi ông A bán công ty cho ông B thì cũng không ảnh hưởng gì đến tình trạng nợ nần của công ty vì hai ông không mua bán tài sản của công ty mà mua bán quyền hưởng lợi nhuận.
Việc ông B không có tài sản hay không có phương án kinh doanh cũng không ảnh hưởng gì đến khả năng trả nợ của công ty. 258 Tóm lại, trong công ty luôn có sự phân tách về tài sản và trách nhiệm với cổ đông. Vì vậy, việc chuyển nhượng cổ phần không ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của công ty. Điều cần nói là việc mua bán cả một công ty mà chỉ với giá 1 USD! Và càng lạ hơn khi người đi mua lại không có tiền và cũng không có phương án kinh doanh.
Điều này xét dưới góc độ kinh tế là không ổn, nhưng nếu bàn dưới góc độ pháp luật thì không có vấn đề gì. Trên thực tế, có thể việc người mua không có phương án kinh doanh và cũng không có một nguồn vốn lớn sẽ rất khó để vực dậy công ty đang lâm vào tình trạng khó khăn nhưng công dân được phép làm những gì luật không cấm! Theo nguồn: Phạm Hoài Huấn: Bán công ty giá 1 USD có trái luật? Báo Diễn đàn doanh nghiệp, ngày 08/8/2012 b) Cổ phần ưu đãi: Về nguyên tắc, các cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông có các quyền và nghĩa vụ như nhau. Các quyền của cổ đông phổ thông gồm hai nhóm quyền cơ bản là nhóm quyền về tài sản và quyền quản lý công ty. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động sẽ có lúc công ty có nhu cầu về vốn.
Một vấn đề đặt ra là làm sao huy động được vốn cho công ty mà không làm thay đổi quyền quản lý trong công ty. Mặt khác, trong xã hội người có những khoản tiền nhàn rỗi và họ muốn khoản tiền đó sinh lợi. Họ có thể lựa chọn giữa việc đem gửi ngân hàng để hưởng lợi nhuận hoặc đầu tư vào công ty cổ phần, và họ cũng không quan tâm đến vấn đề quản lý công ty. Từ những nhu cầu như vậy mà cổ phần ưu đãi ra đời.
259 Tên gọi là cổ phần ưu đãi dễ tạo cảm giác đây là loại cổ phần được ưu đãi hơn so với cổ phần phổ thông. Vấn đề không phải như vậy. Chúng ta nhìn nhận về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của cổ đông phổ thông. Nói cách khác, cổ phần phổ thông là gốc, là xuất phát điểm để trên cơ sở đó, người ta thay đổi một vài đặc tính của loại cổ phần này sẽ dẫn đến sự ra đời của các loại cổ phần ưu đãi1.
Khi tạo ra cổ phần ưu đãi, cổ phần này sẽ có một số quyền được ưu đãi hơn so với cổ phần phổ thông, ví dụ cổ tức cao hơn, được ưu tiên hoàn lại vốn. Tuy nhiên, để bảo đảm công bằng giữa các cổ đông, cổ phần ưu đãi sẽ bị hạn chế một số quyền nhất định để tổng các quyền của cổ phần ưu đãi cũng bằng với cổ phần phổ thông. Khi nghiên cứu về các cổ phần ưu đãi cụ thể, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu nó là gì? Ai có quyền sở hữu? Các ưu đãi và hạn chế của người sở hữu loại cổ phần ưu đãi này so với cổ phần phổ thông?. Theo khoản 2 Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2014, các loại cổ phần ưu đãi là: Cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ phần ưu đãi cổ tức; Cổ phần ưu đãi hoàn lại; Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Cổ phần ưu đãi biểu quyết là loại cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Dựa trên nguyên lý lấy cổ phần phổ thông làm gốc, pháp luật về doanh nghiệp Việt Nam ghi nhận ưu đãi của loại cổ phần ưu đãi 1. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung: Công ty: Vốn, quản lý và tranh chấp, Sđd, tr. 260 biểu quyết là “có số phiếu biểu quyết cao hơn so với cổ phần phổ thông”.
Tuy vậy, cao hơn bao nhiêu, cụ thể sẽ do Điều lệ công ty quy định (khoản 1 Điều 116 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Thoạt nhìn, loại cổ phần này không có bất kỳ sự hạn chế nào. Tuy vậy, các hạn chế này của cổ phần ưu đãi biểu quyết thể hiện qua việc nghiên cứu quyền, nghĩa vụ của cổ đông ưu đãi biểu quyết. Người sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết được gọi là cổ đông ưu đãi biểu quyết.
Tuy vậy, chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập mới được quyền sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết (khoản 3 Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Luật Doanh nghiệp năm 2014 phân biệt rõ vai trò của các cổ đông và cổ đông sáng lập. Theo đó, cổ đông sáng lập được hiểu là những người đầu tiên có ý tưởng về việc thành lập doanh nghiệp, là người khởi xướng thành lập, người hoạch định đường lối hoạt động của công ty trong thời gian đầu. Vai trò của loại cổ đông này trong buổi đầu hoạt động của công ty là rất quan trọng.
Cụ thể: “Công ty cổ phần mới thành lập phải có ít nhất 03 cổ đông sáng lập; công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước hoặc từ công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập từ công ty cổ phần khác không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập. 261 Tuy nhiên, công ty cổ phần là loại công ty đối vốn. Có nghĩa các vấn đề trong việc quản lý điều hành của công ty cổ phần dựa trên cơ sở vốn góp vào công ty. Ai góp nhiều thì có quyền biểu quyết cao và ngược lại.
Nguyên tắc này được áp dụng cho mọi cổ đông trong công ty. Tuy vậy, cổ đông sáng lập có vai trò quan trọng trong thời gian đầu của công ty. Nhưng không phải lúc nào các cổ đông sáng lập cũng có đủ tiềm lực tài chính để có thể đầu tư tới mức kiểm soát được công ty. Cổ phần ưu đãi biểu quyết được nhìn nhận như là một trong những giải pháp cho bài toán này.
Tuy nhiên, ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm. Ba năm được coi là một khoảng thời gian đủ để công ty từ chỗ mới ra đời đến lúc tạo được chỗ đứng trên thương trường. Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông (khoản 3 Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2014). (ii) Tổ chức được Chính phủ ủy quyền: Khác với cổ đông sáng lập, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không giới hạn thời gian mà cổ đông này (tổ chức do Chính phủ ủy quyền) được sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết.