CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. ĐÁNH GIÁ ĐA TIÊU CHÍ VÀ PHÂN KHU TRONG GIS Theo Malczewski (2006), đánh giá đa tiêu chí trong GIS (MCA-GIS) có thể được hiểu là một quá trình kết hợp và chuyển đổi các dữ liệu địa lý (dữ liệu bản đồ đầu vào) và các yêu cầu của người ra quyết định thành các bản đồ đầu ra. Xác định tiêu chí và phân cấp đánh giá Để đánh giá đa tiêu chí trong GIS thì khâu có ý nghĩa rất quan trọng đó là việc xác định các tiêu chí đánh giá.
Để xác định các tiêu chí, có thể dựa vào việc thống kê các kết quả đo đạc và rút ra mối quan hệ giữa 2 biến hoặc dựa vào việc tham khảo chuyên gia. Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân cấp các tiêu chí thành 4 cấp: đáp ứng tốt - đáp ứng khá - đáp ứng trung bình - đáp ứng kém. Điểm số đánh giá tính đáp ứng lần lượt là: 4 – 3 – 2 – 1[14]. Xây dựng trọng số của các tiêu chí Các tiêu chí ảnh hưởng đến hình thành và phát triển các loại hình du lịch có tầm quan trọng khác nhau.
Với thế mạnh dựa trên nguyên tắc so sánh giữa các cặp nhân tố, phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hiearchy Process – AHP) của Thomas L. Saaty (1970) có thể đưa ra trọng số của các nhân tố một cách phù hợp và đảm bảo mức độ chính xác trong giới hạn cho phép. Bản đồ hóa các tiêu chí trong GIS Việc phân tích đa tiêu chí trong GIS được thực hiện với dữ liệu đầu vào là các lớp dữ liệu bản đồ về vị trí phân bố của các yếu tố đã được nêu trong tiêu chí đánh giá. Do đó, cần thiết phải chuyển các dữ liệu từ thuộc tính, mô tả về dạng không gian thể hiện sự phân bố cụ thể của các đối tượng.
Sau đây là các chức năng phân tích chính trong GIS thường được sử dụng trong khâu này: * Tạo vùng đệm Tạo vùng đệm là một trong số các phép phân tích dữ liệu được sử dụng phổ biến. Vùng đệm là một vùng có kích thước nhỏ hơn hoặc bằng một khoảng cách được xác định trước từ một hay nhiều đối tượng. Vùng đệm thường được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm xác định các khoảng cách ảnh hưởng của các đối tượng. * Nội suy tuyến tính Phép nội suy là quá trình dự báo các giá trị chưa biết từ các giá trị đã biết ở các điểm lân cận.
Nội suy được sử dụng để lấp đầy dữ liệu cho những khu vực không có dữ liệu. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu sử dụng nội suy tuyến tính Linear. 8 Đây là kiểu nội suy dựa trên đường thẳng nối 2 điểm, là một phương pháp đơn giản nhất để ước tính giá trị chưa biết. Phân khu ảnh hưởng trong GIS Để xây dựng các phân khu ảnh hưởng của các điểm dịch vụ, chúng tôi sử dụng chức năng phân khu Thiessen.
Kết quả của việc phân khu là các đối tượng vùng mà biên của nó xác định diện tích được khép kín, mà mọi điểm đều có quan hệ với mọi điểm khác. Tổng hợp các tiêu chí trong GIS Việc tổng hợp các tiêu chí đánh giá được thực hiện dưới sự hỗ trợ của GIS, trong đó chủ đạo là chức năng chồng lớp số học: bao gồm các phép toán như cộng, trừ, nhân chia từng giá trị trong lớp dữ liệu với một giá trị trong vị trí tương ứng của lớp thứ hai. Phép chồng lớp này được sử dụng để xác định các khu vực có khả năng đáp ứng về mặt tiềm năng cho việc phát triển du lịch và tính toán lỗ hổng trong phát triển du lịch [8]. Xây dựng bản đồ phân khu đánh giá trong GIS Để xác định giá trị đáp ứng cho các phân khu, có thể định lượng theo nguyên tắc thể hiện trong công thức sau [10]: K1 S1 K 2 S 2 K 3 S 3 .
K n S n K PK S Trong đó: KPK: giá trị đáp ứng của phân khu K1, K2, K3, Kn: giá trị đáp ứng của các khu vực 1, 2, 3, ., n trong phân khu S1, S2, S3, Sn: Diện tích của các khu vực 1, 2, 3, ., n trong phân khu S: Diện tích toàn bộ phân khu Các phân khu mức độ đáp ứng tổng hợp được phân thành các cấp đáp ứng dựa theo KPK, tương ứng với các chỉ tiêu phân cấp khi lập bản đồ mức độ đáp ứng. ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH DU LỊCH 1. Du lịch và mối quan hệ với tài nguyên du lịch Du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó. Coltman, du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát [8].
Cơ cấu của du lịch: + Những thành phần tạo lực hút (lực hấp dẫn đối với du khách) gồm nhóm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. 9 + Cơ sở du lịch (điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch) gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. + Dịch vụ du lịch: là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch và thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch. Như vậy, có thể thấy rằng du lịch được hình thành trên cơ sở các tài nguyên du lịch kết hợp với các dịch vụ và hàng hóa du lịch.
Trong đó, tài nguyên du lịch được xem là yếu tố tiền đề quan trọng cho sự hình thành các loại hình du lịch. Việc phân loại tài nguyên cũng có nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mục đích và tiếp cận của các tác giả. Một số quan điểm có thể phân chia thành 3 nhóm như sau: - WHO ( dựa vào mức độ tác động của các loại hình tài nguyên để chia thành: cung cấp tiềm năng (đặc sắc văn hóa, đặc sắc về thiên nhiên, nhu cầu du lịch), cung cấp hiện tại (giao thông, thiết bị, hình tượng tổng thể) và tài nguyên kỹ thuật (khả năng hoạt động, cách thức và tiềm lực khu vực); - Ngô Tất Hổ (2000) dựa vào nguồn gốc và vai trò trong sự hình thành loại hình du lịch chia thành: thiên nhiên (cảnh quan địa văn, cảnh quan thủy văn, khí hậu và sinh vật, cảnh quan tự nhiên khác), nhân văn (di tích lịch sử, điểm nhân văn hiện đại, điểm hấp dẫn nhân văn trừu tượng, hấp dẫn nhân văn khác) và dịch vụ (dịch vụ du lịch, các dịch vụ khác); Bùi Thị Hải Yến (2009) dựa vào nguồn gốc và vai trò của tài nguyên chia thành: tự nhiên (địa hình, địa chất, địa mạo, khí hậu, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, cảnh quan du lịch tự nhiên, di sản thiên nhiên thế giới), nhân văn (vật thể: di sản thế giới, di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích kiến trúc, danh lam thắng cảnh, công trình đương đại, vật kỉ niệm và cổ vật; phi vật thể: di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội, nghề và làng nghề, ẩm thực, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, sự kiện thể thao văn hóa), kinh tế - kỹ thuật và các yếu tố bổ trợ khác (đường lối chính sách phát triển du lịch, tổ chức quản lý, quy hoạch du lịch, nguồn lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật, xúc tiến quảng bá, kết cầu hạ tầng). Nguyễn Minh Tuệ (1997), dựa vào nguồn gốc hình thành tài nguyên chia thành: tự nhiên (địa hình, khí hậu, nguồn nước, thực và động vật), nhân văn (di tích lịch sử - văn hoá, kiến trúc; các lễ hội; các đối tượng gắn liền với yếu tố dân tộc học; các làng nghề thủ công truyền thống; các đối tượng văn hoá, thể thao và hoạt động nhận thức khác).
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng theo quan điểm phân loại của Nguyễn Minh Tuệ (1997), chia thành 2 nhóm: tự nhiên và nhân văn. Theo quan điểm này, tài nguyên du lịch được chia thành hai nhóm: 10 - Tài nguyên tự nhiên bao gồm các thành phần tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật) và các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng để tạo ra các du lịch [13]. - Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch [13]. Như vậy, theo quan điểm này thì hệ thống tài nguyên không bao gồm các cơ sở dịch vụ phục vụ du khách.
Cách phân loại này có ưu điểm là đơn giản và phù hợp với nội dung nghiên cứu của chúng tôi. Đánh giá điều kiện hình thành loại hình du lịch Như đã đề cập ở 1.1, loại hình du lịch được hình thành từ sự kết hợp của tài nguyên du lịch với các dịch vụ và hàng hóa du lịch. Do đó, để đánh giá điều kiện hình thành du lịch cần thiết phải đánh giá về tài nguyên du lịch và cả về cơ sở dịch vụ gắn với các điểm tài nguyên đó. * Việc đánh giá tài nguyên du lịch qua hai bước: (1) Điều tra từng loại tài nguyên từ đó đánh giá tài nguyên thành phần; (2) Đánh giá tổng hợp tài nguyên trên một lãnh thổ.
* Đánh giá cơ sở dịch vụ có ý nghĩa rất quan trọng. Mỗi địa điểm kinh tế - xã hội khác nhau có khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ cho du lịch khác hhau nên cần xác định được phạm vi ảnh hưởng của các địa điểm kinh tế - xã hội này. TỔNG QUAN TỈNH QUẢNG BÌNH 1. Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Tỉnh Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ, Việt Nam, với diện tích tự nhiên 8.065 2 km , dân số năm 2015 có 876317 người [5].